Mô tế bào - Pdf 41

Đề cương giải phẫu
Chương 2 : MÔ
Trong cơ thể người có 4 loại mô chính : Mô biểu bì (biểu mô), mô liên kết, mô cơ
và mô thần kinh.
I. Mô biểu bì:
1. Đặc điểm:
- Nguồn gốc từ ngoại bì, nội bì, hoặc trung bì.
- TB thường đứng sát nhau tạo thành lớp, tựa trên màng đáy ngăn
cách với mô liên kết.
- Có tính phân cực thể hiện ở cấu tạo, phân bố bào quan và cả hoạt
động tế bào: Cực ngọn hướng về phía môi trường hoặc khoang cơ
thể, cực đáy tựa trên màng đáy.
- Các TB liên kết chặt chẽ bằng nhiều hình thức phong phú.
- Không có mao mạch nuôi dưỡng, sự nuôi dưỡng thực hiện theo cơ
chế thẩm thấu từ lớp mô liên kết ở bên dưới qua màng đáy.
- Có khả năng tái tạo mạnh, đặc biệt là biểu mô phủ.
2. Phân loại:
a. Biểu mô phủ: gồm 8 loại ( biểu mô lát đơn, vuông đơn, trụ đơn, lát
tầng, vuông tầng, trụ tầng, giả tầng, chuyển tiếp)
b. Biểu mô tuyến:
• Dựa vào cách tiết chế chia làm 3 loại:
+ Tuyến toàn vẹn: Sản phẩm chế tiết đi ra ngoài màng TB, TB còn
nguyên vẹn (tuyến mồ hôi, tuyến tuỵ, tuyến nước bọt)
+ Tuyến bán huỷ: Sản phẩm tiết được đưa ra khỏi tế bào cùng cực
ngọn của TB( tuyến sữa ) Phần cực ngọn sẽ được hồi phục lại nhanh
chóng và tái tạo lại phần sẽ được tiết chế.
+ Tuyến toàn huỷ: toàn bộ TB được tiết chế vào lòng tuyến. ( tuyến
bã )
• Dựa vào số lượng TB tham gia tiết chế chia làm 2 loại: tuyến đơn
bào, tuyến đa bào.
• Dựa vào vị trí nhận SP đầu chia làm 2 loại: tuyến ngoai tiết, tuyến

Dưỡng bào, Tương bào, Bạch Cầu, TB mỡ.
2. Mô sụn: Đặc điểm mô sụn
Không có mạch máu và thần kinh.
Một dạng đặc biệt của mô liên kết, chất căn bản nhiễm cartilagein (một hợp
chất của protein & chondroitin sulfate) à độ rắn chắc vừa phải à chống
đỡ.
Chức năng khác: tham gia vào sự phát triển của xương dài.
Cấu tạo mô sụn gồm TB sụn, chất căn bản sụn, sợi liên kết, màng sụn.
3. Mô xương: Đặc điểm mô xương
Một hình thái thích nghi đặc biệt của mô liên kết.
Chất căn bản nhiễm muối calcium à rất cứng rắn
chống đỡ & bảo vệ.
Chức năng khác: vận động, chuyển hoá calcium - phosphor.
Cấu tạo gồm:
a. Chất nền xương: 70-75% thành phần vô cơ, 25-30% thành phần hữu
cơ.
b. TB xương: Tạo cốt bào, cốt bào, huỷ cốt bào.
III. Mô cơ:
Đặc điểm :Tập hợp các TB đã biệt hoá cao độ, có chức năng chính là co
giãn. Ngoài ra sự biệt hoá của lưới nội chất cũng là một nét đặc trưng đáng
chú ý, đóng vai trò dẫn truyền xung động điện màng, quyết định sự co giãn
cơ.
1. Mô cơ vân: được cấu tạo từ các TB cơ tập hợp lại thành từng bó sợi cơ
nằm giữa mô liên kết giàu mạch máu, thần kinh và các sợi Collagene.TB
cơ còn gọi là sợi cơ, là một hợp bào vì TB nhiều nhân. Nhân hình gậy
nằm sát màng TB, bên ngoài màng TB là màng đáy, phần bên trong
chứa các protein cấu trúc đã biệt hoá cao độ để giữ nhiệm vụ co giãn
( actin và myosin). Chúng xếp lồng vào nhau thành từng bó tạo thành tơ
cơ, bao quanh bó là hệ thống lưới nội chất không hạt và bào tương chứa
nhiều ty thể dạng băng rất hoạt động.

quan, giúp cơ thể trở thành 1 thể thống nhất.
1. Neuron ( TBTK chính thức) :
Là đơn vị cấu tạo và chức năng của MTK, có cấu tạo đặc trưng,thích ứng
với chức năng dẫn truyền xung động thần kinh. Hình thái và kích thước
neuron đa dạng, mỗi neuron gồm 3 phần: thân neuron chứa nhân, là
trung tâm dinh dưỡng, tiếp nhận và phân tích tín hiệu; các nhánh neuron
( đuôi gai và sợi trục) là phần kéo dài từ thân neuron; đầu tận cùng thần
kinh ( cúc tận cùng của sợi nhánh và sợi trục)
 Cấu tạo:
a. Thân neuron: hình sao, hình cầu, hình tháp, hầu hết đều có một nhân
hình cầu, bào tương chứa hầu hết các bào quan phổ biến. Đặc biệt,
lưới nội chất hạt rất phát triển,cùng với các đám ribosome tự do tạo
thành những vùng bắt màu base đậm, phân bố đều khắp thân neuron
gọi là thể Nissl. Bào tương chứa nhiều xơ và vi ống thần kinh. Các vi
ống có tác dụng vận chuyển các chất từ vùng này đến vùng khác của
neuron.Trong nhân còn chứa những hạt mỡ, hạt glycogen, hạt vùi.
b. Nhánh neuron: Là các nhánh bào tương kéo dài và phân nhánh nhiều
lần, gồm hai loại:
- Sợi nhánh: là những nhánh dẫn truyền xung động TK vào thân
neuron, phân nhánh nhiều, kích thước nhỏ hơn sợi trục.Tận cùng
phình ra thành cúc tận cùng
- Sợi trục: nhánh dài nhất, dẫn truyền luồng xung động thần kinh từ
thân neuron sang TB khác. Phần xa của sợi trục chia làm những
nhánh nhỏ, cuối có cúc tận cùng.Bào tương của sợi trục chứa ty thể,
vi ống TK, xơ TK, không có lưới nội chất hạt và hạt ribosome.
Màng sợi nhánh và màng sợi trục đều có tốc độ khử rất nhanh.
 Phân loại:
- Theo hình thái: Neuron đa cực, 2 cực, 1 cực giả, 1 cực.
- Theo chúc năng: Neuron vận dộng, cảm giác, trung gian.
 Sợi thần kinh: Cấu tạo chủ yếu bởi sợi trục và sợi nhánh. Có 2 loại

năng trong cơ thể như TB cơ tim, TB da, TB não, TB sinh dục…
TRIỂN VỌNG KHẢ NĂNG KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA TBG
 Nghiên cứu TBG hứa hẹn nhiều ứng dụng trong tương lai:
 TBG phôi (ES):
1. Cấy ghép tế bào, mô cơ quan → chữa một số bệnh:
Bệnh Parkinson, tiểu đường, loạn dưỡng cơ Duchenne, thoái hóa thần kinh,
tim, tạo xương……..
 Trước khi cấy ghép, các tế bào ES phải được điều khiển để có thể biệt
hóa thành các tế bào chuyên biệt.
 Hạn chế: chỉ có 1 số PTN được phép thực hiện.
2. Liệu pháp tế bào:
- Chuyên nhân tế bào sinh dưỡng của cơ thể “ cho nhân ” vào Tb trứng loại
bỏ nhân.
- Tế bào được tạo ra sẽ phát triển thành phôi mới.
- Ở giai đoạn Blastocyst, các TBG của lớp ICM được thu nhận và được sử
dụng cho trị liệu → đưa y học lên tầm cao mới.
3. Trong nghiên cứu:
Nghiên cứu tìm hiểu quá trình, thời điểm định hướng biệt hóa của TB thành
những dòng TB chính của cơ thể → định hướng các bộ phận thô sơ của các mô,
cơ quan → các loại TB chuyên hóa → cơ thể.
=> Thúc đẩy nhanh việc nghiên cứu các bệnh.
 TBG trưởng thành (AS)
Vai trò chính: Duy trì và sửa chữa mô.
⇒ Có thể ứng dụng trong cấy ghép trị liệu.
VD: Ghép TBG tạo máu chữa các bệnh suy thoái hệ thống tạo máu.
 Nuôi TBG thực hiện dễ dàng hơn nuôi cấy mô tế bào động vật, thu được nhiều
dòng TBG của các mô khác nhau.
 Đáp ứng chính xác đặc hiệu miễn dich của từng cá thể nhờ nguồn TBG của
chính mình (my stem cell) → liệu pháp tế bào.
 Cấy ghép mô ở người sẽ dễ thực hiện nhờ TBG được điều khiển để phát triển

o Xương cốt mạc hay xương màng là do màng xương tạo ra.
o Xương Havers hay xương sụn là do tủy cốt tạo ra, gồm:
 xương Haves đặc: được cấu tạo bởi hệ thống Havers. Đó là những
khối xương hình trụ tạo thành bởi những lá xương đồng tâm quay
quanh một ống gọi là ống Havers. Ống havers là đường đi của mạch
máu trong xương.
 xương Havers xốp: là xương có những hốc tủy lớn thông với nhau,
ngăn cách nhau không hoàn toàn bởi một ít lá xương
2. Cấu trúc đại thể:
o Cấu trúc xương dài:gồm thân xương hình ống và hai đầu phình to là đầu xương.
o Cấu trúc xương ngắn: Là xương Havers xốp, phần ngoại vi mỏng là xương cốt
mạc.
o Cấu trúc xương dẹt và xương khó định hình:
-các xương vòm sọ được cấu tạo bởi 2 lớp xương đặc gọi là bản , ở giữa 2 lớp là xương
Havers xốp. Màng xương chỉ phủ ngoài của bản ngoài.
- Một số xương khó định hình có những xoang hay hang không khí.
3.cấu trúc vi thể: gồm 3 thành phần chính:
o Chất căn bản
o Các phần tử sơi
o Các tế bào xương.
II.SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ XƯƠNG.
1. Sự cốt hóa Trong sự cốt hoá có hai quá trình trái ngược nhau cùng song song tiến hành:
tổng hợp xương và phá huỷ xương hoặc sụn.
a. cốt hóa trực tiếp: chất căn bản của mô liên kết ngấm canxi và biến thành mô xương.
Các xương này gọi là xương màng như xương vòm sọ, phần lớn xương đầu mặt.
• Giai đoạn nguyên phát (chủ yếu xảy ra thời kỳ phôi thai): tạo xương đầu tiên
(xương nguyên phát) thay thế mô liên kết
• Giai đoạn cốt hóa thứ phát: xảy ra sau sinh. Tạo ra xương thứ phát thay thế cho
xương nguyên phát
b. Cốt hóa mô hình sụn: chất căn bản của mô liên kết ngấm cartilagen thành sụn. Sụn

đặc phá hủy xương cốt mạc tạo ra những đường hầm hình ống gọi là
khoảng trống Howship cùng với tạo cốt bào tạo lá xương đồng tâm đắp
vào khoảng trống Howship tạo thành ống Havers sau đó hợp thành hệ
thống Havers .
 Phía ngoài thân xương có một số lá xương cốt mạc tạo thành hệ thống
cơ bản
 Khi ống tủy không to nữa tạo cốt bào của ống tủy xương tạo ra một số
lá xương đắp vào mặt trong thân xương tạo ra hệ thống cơ bản trong
o Ở đầu thân xương
 Xương trong sụn dần bị phá hủy thay thế xương Havers xốp trừ vùng
ngọai vi là xương cốt mạc và ở mặt khớp là sụn khớp
 Xương dài do sự phát triển sụn đầu xương, xương to do màng xương .
2. Sự tăng trưởng.
o Tăng trưởng theo chiều dài
o Tăng trưởng theo chiều dày
Hormon HGH có ảnh hưởng như thế nào?
Hormon tăng trưởng (HGH) được tiết ra bởi tuyến yên, kích thích sự phát triển ở trẻ em,
tạo khối cơ bắp, sự dẻo dai ở người trưởng thành. Tác dụng của hGH là làm người ta trẻ
hơn, da mỏng hơn, xương khỏe hơn, sung mãn hơn và làm cho hệ miễn dịch tốt hơn. HGH
còn giúp duy trì trí nhớ ở người lớn.
CÁC LOẠI KHỚP
• Khớp động: là những khớp có cử động được đa số xương
• Khớp bán động là giữa các xương có khe khớp và bao khớp nhưng trong bao khớp
sợi không có bao hoạt dịch như vậy liên kết này chuyển tiếp giữa động và bất động:
vd khớp liên đốt sống khớp mu
• Khớp bất động: vd khớp xương vòm sọ có 3 loại :
o Khớp bất động sợi:
 Liên kết các xương liên tục nhờ mô liên kết
 Phân loại:
• Chia theo hình dáng đường khớp

mạnh ở người. Chức năng : nếu một bên co làm quay đầu về phía đó. Nếu hai bên
co, làm gấp hoặc duỗi cột sống
D. CƠ CHI DƯỚI (lớn nhất là cơ may)
Cơ chi dưới không phân hóa như cơ chi trên và phần lớn là những cơ to khỏe để
thích nghi với chức năng mang trọng lượng của chi dưới.
Chức năng :
- Gấp, duỗi, dạng, khép, xoay (ra ngoài hay vào trong) đùi.
- Gấp, duỗi, xoay (ra ngoài hay vào trong) cẳng chân.
- Gấp, duỗi, dạng, khép, xoay (ra ngoài hay vào trong) bàn chân.
Cơ mông lớn : cơ này mạnh nhất trong cơ thể, rộng, dày, hình tứ giác che phủ gần
hết mông. Cơ mông lớn đặc biệt phát triển ở người. Chức năng : duỗi và sấp đùi,
nâng chậu hông và kéo nghiêng về một bên, duỗi thân. Cơ có vai trò đặc biệt quan
trọng là giữ cơ thể ở tư thế khi đứng thẳng và đi lại, chạy, nhảy, leo trèo,…
Cơ thắt lưng chậu : là một cơ khỏe nằm ở hố chậu lớn, được hình thành từ hai cơ :
cơ thắt lưng và cơ chậu. Chức năng : Nếu cố định đầu gần, khi cơ co sẽ làm gấp đùi,
xoay đùi ra ngoài. Nếu cố định đầu xa mà hai bên cơ đều co sẽ gập thân về trước.
Người đang nằm ngửa mà ngồi dậy chủ yếu là nhờ cơ này. Trong các động tác
chạy, nhảy cơ co làm nâng cao đùi, bước dài.
Cơ tứ đầu đùi : là một cơ lớn, khỏe, nặng đến vài kilogam, cơ phủ gần hết mặt
trước xương đùi. Chức năng : cơ tứ đầu đùi là một cơ duỗi cẳng chân khỏe (cơ
thẳng đùi còn có tác dụng gấp đùi), cơ có vai trò quan trọng đối với tư thế đứng
thẳng của người. Khi chạy cơ này có tác dụng kéo đùi về trước, khi chân chạm đất
thì nhanh chóng duổi cẳng chân.
Cơ may: là cơ dài nhất của cơ thể người, cơ nằm bắt chéo phía trước đùi, đi từ
ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, có thể nhìn thấy được toàn bộ độ dài của cơ ở
dưới da khi gấp, dạng, ngả đùi. Chức năng : gấp đùi, xoay đùi ra ngoài, gấp cẳng
chân vào đùi, xoay cẳng chân vào trong.
Các cơ ở cẳng chân có tác dụng vận động bàn chân làm cơ thể di chuyển và giữ cho
cơ thể đứng thẳng. Nhưng các cơ vùng cẳng chân không phân hóa tỉ mỉ như cơ ở
cẳng tay. Ở đây gồm có 14 cơ, là những cơ to khỏe, nhất là những cơ ở khu sau

các hoocmon gây tăng tiết dịch mật.
HỆ HÔ HẤP
 Hệ hô hấp có nhiệm vụ đưa ô-xi trong không khí vào phổi và thải khí cac-bô-nic ra
môi trường ngoài.
 Hệ hô hấp ( systema respirarium) ở người gồm một hệ thống ống dẫn khí và một hệ
thống trao đổi khí giữa máu và không khí.
 Hệ thống ống dẫn khí gồm mũi, hầu,thanh quản, khí quản và phế quản.
 Còn hệ thống trao đổi khí là bộ phận quan trọng nhất gồm phổi trong đó có nhiều
túi và hốc nhỏ gọi là các phế nang là nơi xảy ra sự trao đổi khí giữa máu và không
khí.
 Phổi:
 Phổi gồm 2 lá phổi nằm trong lòng ngực, chiếm 4/5 thể tích lồng ngực. Lá phổi
bên phải cao, có 3 thùy; lá bên trái thấp, có 2 thùy. Mỗi thùy lại phân thành
nhiều tiểu thùy phổi.
 Phổi được bao bởi màng phổi 2 lớp: Lớp ngoài là lớp thành lót mặt trong của
lồng ngực, lớp trong bao chặt lối phổi gọi là lá tạng. Giữa 2 lớp màng là
khoang ảo có áp suất âm, trong đó có chứa một ít chất dịch nhờn để giảm ma
sát khi 2 lá phổi trượt lên nhau khi thở.
 Phổi được cấu tạo bởi nhiều phế nang, kích thước rất nhỏ (0,1 – 0,2mm) chứa
đầy khí. Ở người trưởng thành có khoảng 700 – 800 triệu phế nang, làm cho
diện tích bề mặt hô hấp của phổi đạt từ 100m
2
– 120m
2
.
 Thành phế nang được cấu tạo bởi 1 màng mỏng chứa nhiều sợi đàn hồi. Bao
quanh phế nang là mạng lưới mao quản dày đặc. Mặt trong phế nang được lót 1
lớp tế bào biểu bì dẹt có khả năng thực bào các bụi và vật lạ trong không khí ở
phế nang.
Chú ý : Phân tích hình thái của các loại sụn lót trong hệ thống ống dẫn khí (theo

o Răng cửa dùng để cắt thức ăn.
o Răng hàm dùng để nghiền nát thức ăn.
 Cấu tạo của răng:
o Men răng là một lớp tinh thể canxi photphat rất bền và
là chất cứng nhất do sinh giới tạo ra. Men răng không có khả năng tái
tạo. Men răng có thể bị ăn mòn bởi axit trong khoang miệng, do đó cần
phải đánh răng thường xuyên.
o Ngà răng là cấu trúc tương tự như xương, hình thành
nên phần chính của răng nằm ở bên trong. Có khả năng tái tạo nhưng rất
hạn chế. Ngà răng đóng vai trò bảo vệ răng trong trường hợp men răng
bị nứt hoặc vỡ.
o Tủy răng nằm ở chính giữa của răng, chứa các mạch
máu và dây thần kinh.
o Xi măng bao quanh chân răng giữ cho răng nằm đúng vị
trí.
o Giữa lớp xi măng với xương hàm có 1 lớp màng ngoài
răng gồm những sợi collagen ngắn giúp răng có thể xê dịch 1 chút
trong hố răng, giúp giảm đi những tác động làm nứt vỡ răng.
o Công thức răng của trẻ em:
o Trẻ em bắt đầu mọc răng sữa từ tháng thứ 6, tới 5 tuổi có 20 răng sữa, với
công thức là 2(C) : 1(N) : 0(TH): 3(H ).
o Ở người trưởng thành, công thức răng là 2(C) : 1(N) : 2(TH) : 3(H ).
o Ở người trưởng thành có 32 chiếc răng, với 4 loại là răng cửa, răng nanh,
răng trước hàm và răng hàm, được phân đều cho cả hàm trên và hàm dưới,
mỗi hàm có 16 răng : 4 răng cửa (C), 2 răng nanh (N), 4 răng trước hàm (TH)
và 6 răng hàm (H).
2.1.2. Lưỡi:
Lưỡi có chức năng:
o Nhào trộn thức ăn với nước bọt
o Chuyển động thức ăn qua lại giúp nhai kỹ hơn

tuyến tiết dịch nhày. Các mao mạch có nhiệm vụ đảm bảo trao đổi chất
của thực quản.
o Lớp niêm mạc ở trong cùng, xếp thành những nếp dọc sâu đảm bảo cho
lòng thực quản có thể giãn rộng ra khi thức ăn đi qua. Lớp này có các
tuyến tiết dịch nhầy làm trơn thức ăn, giúp thức ăn được di chuyển dễ
dàng.
Dạ dày:
 Nằm ở bên trái khoang bụng, dưới cơ hoành, phía trên nối với thực quản qua lỗ
tâm vị, được đóng mở bằng cơ thắt tâm vị, phía dưới nối với tá tràng của ruột
non, được đóng mở bằng cơ thắt môn vị.
 Dạ dày là phần rộng nhất của ống tiêu hóa có nhiệm vụ chứa và biến đổi thức
ăn (sức chứa khoảng 3 lít).
 Dạ dày có 2 mặt (trước và sau), 2 bờ cong, bờ cong lớn bên trái và bờ cong bé
bên phải. Người ta chia dạ dày thành 3 phần:
o Phần tâm vị (nơi thực quản đổ vào dạ dày),
o Phần thân vị (phần giữa của dạ dày),
o Phần môn vị (phần nối với tá tràng).
 Ở phần tâm vị có chỗ phình to và cao nhất gọi là đáy vị.
 Thành dạ dày dày khoảng 3 - 5 mm và gồm có 4 lớp:
o Lớp thanh mạc : bao ngoài dạ dày.
o Lớp cơ, ở giữa, gồm 3 lớp cơ trơn:
 Ngoài là lớp cơ dọc phát triển mạnh ở các bờ cong, mặt trước và
mặt sau có ít sợi.
 Giữa là lớp cơ vòng, lớp này phát triển mạnh ở môn vị làm thành
vòng cơ thắt môn vị.
 Trong là lớp cơ chéo, đi từ tâm vị đến các bờ cong toả ra hình nan
quạt.
 Hoạt động của cơ này làm thức ăn được nhào trộn, ngấm đều dịch
vị và nhuyễn ra. Lớp cơ thành dạ dày bền chắc để thực hiện chức
năng co bóp, nhào trộn thức ăn.

o Lớp dưới niêm mạc có nhiều mạch máu và các tuyến hình chùm
( tuyến Brunner) tiết chất nhày và tuyến hình ống (tuyến Lieberkun)
tiết dịch ruột.
o Lớp niêm mạc lót mặt trong ruột non, tạo nhiều nếp gấp chạy vòng gọi
là van tràng (riêng đoạn đầu tá tràng không có van). Trên bề mặt lớp
niêm mạc có khoảng 4 triệu lông ruột (nhung mao) dài 0,5 -1 mm, số
lượng nhung mao khoảng 20 - 40/1mm
2
đó là những tế bào biểu mô
trụ. Bao quanh lông ruột là mạng lưới mao mạch máu dày đặc và thần
kinh chi phối. Ở trục giữa lông ruột là mạch bạch huyết. Xen giữa các
lông ruột có các tuyến ruột hình chùm tiết dịch ruột. Trong dịch ruột
có nhiều enzim tiêu hóa Protit, Gluxit, Lipit thành các sản phẩm dễ
hấp thu.
o Ngoài ra, trên các nhung mao được bao phủ bởi một lớp tế bào biểu
mô mỏng, trên tế bào này có vô số các vi nhung mao (600 vi nhung
mao /1 tế bào) làm cho diện tích bề mặt hấp thu chất dinh dưỡng của
ruột lên đến 400 - 500 m
2
(khoảng 23 lần).
Ruột già (đại tràng):
 Ruột già là phần tiếp theo của ruột non, có nhiệm vụ hấp thu nước, cô đặc phân,
tích trữ phân truớc khi thải ra ngoài. Ruột già chia làm 3 đoạn: manh tràng (ruột
tịt); kết tràng (ruột già chính thức) và trực tràng (ruột thẳng):
o Manh tràng (ruột tịt); là đoạn nối tiếp với hồi trang của ruột non. Đoạn
tiếp giáp giữa manh tràng và hồi tràng có van hồi - manh tràng (van
Bohin) có tác dụng chỉ cho các chất đi từ ruột non vào ruột già và ngăn
không cho chất bã ở ruột già đi ngược lên.
o Ở thành sau của manh tràng có một mẩu ruột thừa rộng 0,5cm - 1cm,
dài 7-8 cm, tại đây cũng có van, để ngăn chặn chất bã lọt vào ruột thừa.

o Độ khô: thức ăn càng khô, nước bọt tiết ra càng nhiều.
o pH của thức ăn: thức ăn càng chua, pH càng thấp, nước bọt càng tiết nhiều.
 Phản xạ tiết nước bọt không điều kiện xuất hiện khi thụ quan ở niêm mạc
miệng được kích thích. Xung thần kinh hướng tâm truyền về trung khu tiết
nước bọt, sau đó trả lời bằng các xung ly tâm theo dây thần kinh VII và IX đến
các tuyến nước bọt, kích thích tiết nước bọt.
 Phản xạ tiết nước bọt có đìêu kiện: khi nhìn, nghe tên thức ăn, hình dáng, máu
sắc, mùi vị, quang cảnh bữa ăn… cũng gây phản xạ tiết nước bọt, đó là phản xạ
có đìêu kiện.
Tuyến vị:
 Niêm mạc dạ dày có rất nhiều tuyến vị. Các tuyến vị ở vùng tâm vị và môn vị
tiết nhiều chất nhày. Các tuyến ở thân và đáy dạ dày tiết pepsinogen và HCl là
chủ yếu. 1 số tế bào biểu mô tiết ra hoocmon gastrin có tác dụng điều hoà bài
tiết dịch vị.
 Cấu tạo của 1 tuyến vị:
o Mỗi tuyến vị được cấu tạo bởi 4 loại tế bào:
o Tế bào chính tiết pepsinogen.
o Tế bào viền tiết HCl.
o Tế bào cổ tuyến tiết chất nhày muxin.
o Tế bào nội tiết tiết hoocmon gastrin.
 Sự điều hoà tiết dịch vị:
o Cơ chế thần kinh : Sự điều hoà tiết dịch vị theo cơ chế thần kinh được thực
hiện theo 2 loạ Phản xạ có điều kiện: do hình dáng, màu sắc, mùi vị thức ăn,
khung cảnh bữa ăn… gây tiết dịch vị. Dịch vị này gọi là dịch vị tâm lý phản
xạ.
o Phản xạ không điều kiện: Khi thức ăn tác dụng vào niêm mạc dạ dày, các thụ
quan bị kích thích và xung thần kinh hướng tâm về hành tuỷ. Xung ly tâm theo
dây thần kinh X chạy đến dạ dày, tác động vào đám rối Meissner và từ các đám
rối có các sợi chạy đến tuyến vị gây tiết dịch vị. Phân hệ phó giao cảm có tác
dụng làm tăng tiết dịch vị, còn giao cảm làm giảm tiết dịch tuy nhiên tác động

o Secretin là 1 hoocmon do tá tràng tiết ra khi có HCl từ dạ dày xuống
kích thích. Secretin kích thích tiết nước và NaHCO3.
o CCK do tá tràng tiết ra khi bị sản phẩm tiêu hoá protein và lipit kích
thích. CCK kích thích dịch tuỵ tiết ra nhiều enzim. CCK cũng kích
thích tiết dịch mật vào tá tràng.
Dịch mật: (như trên)
Dịch ruột:
 Dịch ruột do niêm mạc ruột tiết ra. pH dịch ruột vào khoảng 8.3, rất nhớt và
đục do có nhiều mảnh vụn của tế bào niêm mạc.
 Sự điều hoà tiết dịch ruột:
o Các tác động cơ học và hóa học ở ruột đều kích thích tiết dịch ruột.
Đám rối Meissner tham gia điều hoà quá trình tự động này.
o Các hoocmon secretin, enterocrinin, duocrinin, CCK, gastrin… đều làm
tăng tiết dịch ruột. Moocphin ức chế tiết dịch ruột.
Khoang bụng và phúc mạc:
 Khoang bụng lớn nhất cơ thể, chứa phần lớn hệ tiêu hóa (từ dạ dày đến trực
tràng) và niệu sinh dục. Trong khoang có màng thanh mạc lót mặt trong khoang
(phúc mạc thành) và phúc mạc tạng phủ lên các nội quan, giữa hai lá thành và
tạng là khe hẹp chứa một ít dịch.
 Những màng dẫn xuất của chúng : mạc chằng, mạc treo, mạc nối. Do vị trí của
các cơ quan trong khoang bụng và cấu tạo của phúc mạc nên có những tạng
được bọc bởi phúc mạc như ruột non, ruột già, dạ dày, tỳ, tụy, gan. Các tạng
này nẳm trong ổ phúc mạc. Lại có những tạng chỉ được phúc mạc thành phủ ở
phía trước (thận, niệu quản) hoặc phía trên ( các tạng trong chậu hông bé : bàng
quang, các tạng sinh dục, trực tràng). Các tạng này được coi là các tạng nằm
ngoài ổ phúc mạc.
(Học thuộc các thành phần cấu tạo tuyến tiêu hóa (ống TH và tuyến TH) + chức
năng chung của hệ TH, còn lại đọc tham khảo TN.)
B. HỆ HÔ HẤP
 Hệ hô hấp ( systema respirarium) ở người gồm một hệ thống ống dẫn khí và một hệ

o Bờ sau trên khớp với mảnh thẳng đứng của xương sàng;
o bờ sau dưới khớp với bờ trước của xương lá mía và phần trước của mào
mũi xương hàm trên.
 Sụn lá mía mũi: là 2 mảnh sụn dài nhỏ nằm dọc theo bờ sau dưới của sụn vách
mũi.
 Mũi có 2 cửa vào và 2 cửa ra. Cửa vào của mũi gọi là lỗ mũi trước. Cửa ra của
mũi gọi là lỗ mũi sau.
 Thành trong của khoang mũi trẻ em có 4 xương xoăn là xoăn dưới, xoăn giữa,
xoăn trên và xương xoăn trên cùng.
 Ở người lớn chỉ còn lại 3 xương xoăn là xoăn dưới, xoăn giữa, xoăn trên.
1.2. Mũi trong (hốc mũi):
 Hốc mũi được cấu tạo bởi các xương sụn và được phủ bởi một lớp niêm mạc có
nhiều mao mạch.
 Hốc mũi gồm 2 lỗ mũi, ngăn cách nhau bởi vách mũi.
 Hốc mũi thông với xoang hàm trên, xoang xương bướm, xoang xương sàng,
xoang xương trán.
Các xoang cạnh mũi:
 Các xoang cạnh mũi là các hốc ở trong các xương chung quanh ổ mũi. Chúng
mở vào ổ mũi và được lót bằng một lớp niêm mạc liên tiếp với niêm mạc của ổ
mũi.
 Xoang hàm trên là xoang lớn, nằm trong thân xương hàm trên và mở thông
ngách mũi giữa. Đáy của xoang này thấp hơn nền hốc mũi nên mủ dễ ứ đọng.
 Các xoang sàng có từ 4-17 hốc khí trong mê đạo sàng được xếp vào 3 nhóm:
nhóm trước và giữa đổ vào ngách mũi giữa, nhóm sau đổ vào ngách mũi trên.
 Xoang trán nằm trong phần trai trán và đổ vào ngách mũi giữa.
 Xoang bướm nằm trong thân xương bướm và đổ vào ngách bướm- sàng.
2. Mũi hầu:
 Là phần ngoài của hầu. Hầu là ngã tư đường thở và đường tiêu hóa.
 Hầu được chia thành 3 phần: phần hầu mũi: tương ứng với khoang mũi; phần
hầu miệng tương ứng với khoang miệng; phần hầu thanh quản tiếp giáp với

o Mảnh sụn nhẫn rộng, ở phía sau. Bờ trên có diện khớp, tiếp khớp với sụn
phễu. Mặt trên có diện khớp với sừng trước sụn giáp.
o Bờ dưới sụn nhẫn nằm ngang, nối với vòng sụn đầu tiên của khí quản bằng
dây chằng nhẫn- khí quản.
 Sụn nắp thanh môn: nằm sau sụn giáp, như cái nắp của thanh quản. Có hình
chiếc lá, cuống ở phía trước, gắn vào góc sụn giáp bằng dây chằng giáp nắp.
 Sụn phễu là sụn đôi, nằm trên mảnh sụn nhẫn, hình tháp tam giác đỉnh ở trên
đáy ở dưới. Đáy hình tháp mà góc trước gọi là mỏn thanh âm, góc ngoài gọi là
mỏm cơ để cho các cơ bám.
 Sụn sừng nhỏ, có đáy cố định vào đỉnh sụn phễu.
 Các sụn nối với nhau bằng khớp và dây chằng, các cơ thanh quản giúp cho
thanh quản có thể hoạt đông được.
 Bên trong, thanh quản được phủ bởi niêm mạc liên tục với niêm mạc hầu, niêm
mạc khí quản và tạo nên các xoang cộng hưởng âm thanh.
3.3. Hình thể ngoài:
 Thanh quản có 2 mặt là mặt trước và mặt sau:
o Mặt trước : Từ dưới lên trên là cung sụn nhẫn, dây chằng nhẫn – giáp,
mặt trước sụn giáp.
o Mặt sau : Là phần trước của phần thanh hầu, từ dưới lên có mảnh sụn
nhẫn, sụn phễu, lỗ vào thanh quản và mặt sau sụn nắp.
3.4. Hình thể trong:
 Ổ thanh quản tương đối hẹp và không tương xứng với hình thể ngoài, bị các
nếp tiền đình và nếp thanh âm chia ra làm 3 phần:
o Tiền đình thanh quản : Là phần trên hai nếp tiền đình, có dạng hình
phễu.
o Thanh thất : Là khoảng giữa hai nếp tiền đình ở trên và hai nếp thanh
âm ở dưới. Hai nếp thanh âm giới hạn nên khe thanh môn.
o Ổ dưới thanh môn đi từ các nếp thanh âm tới bờ dưới sụn nhẫn.
 Ở phía dưới khe thanh môn:
o Có dạng hình nón, do nón đàn hồi và sụn nhẫn tạo nên..

 Phế quản: có cấu tạo giống như khí quản.
 Phế quản bên phải ngắn đi theo hướng ngang. Phế quản bên trái dài hơn, chếch
xuống phía dưới.
 Phế quản khi vào phổi phân nhánh nhỏ dần thành tiểu phế quản, vi phế quản.
Vi phế quản cấu tạo bằng các vòng cơ và tận cùng là các phế nang.
 Mặt trong đường hô hấp lót bởi lớp tế bào biểu bì có lông rung động nhiều
tuyến nhầy bảo vệ đường hô hấp chống bụi và vi khuẩn.
 Ngang mức đôt ngực IV- V khí quản tách làm 2 phế quản chính phải và trái ,
có cấu tạo giống khí quản . Đến phổi, phế quản chính phải tách làm 3 , phế
quản chính trái tách làm 2 phế quản thùy . Các phế quản thùy chia nhỏ dần
thành các phế quản tiểu thùy .
 Tiểu thuỳ: là đơn vị cơ sở của phổi gồm các tiểu phế quản hô hấp dẫn khí vào
ống phế nang rồi vào túi phế nang , cuối cùng là phế nang.
 Phế nang có thành mỏng gồm các sợi đàn hồi và sinh keo . Mặt trên là lớp
thượng bì một tầng tế bào , có mạng lưới mao mạch bao quanh, trao đổi khí
thực hiện tại đây.
 Cùng phân nhánh với phế quản là động mạch phổi.
6. Phổi: ( Như trên)
Chương VI : HỆ TIẾT NIỆU và HỆ SINH DỤC
A.HỆ TIẾT NIỆU
I. Thận: là cơ quan chính của hệ tiết niệu, đảm nhận việc lọc các chất độc trong
máu.
1. Vị trí: Nằm sau phúc mạc, bên phải và bên trái cột sống, ngang mức sống
ngực XI và đốt sống thắt lưng III, thận phải nằm thấp hơn thận trái khoảng 2
cm.
2. Hình dạng ngoài: Thận có hình hạt đậu, bề mặt trơn láng, với 2 mặt: trước và
sau ; hai bờ trong và ngoài; 2 cực:trên dưới. Bờ ngoài của thận cong lồi, bờ
trong có một khuyến lõm có rốn thận. Rốn thận mở vào xoang thận nằm ở
trong thận nằm ở trong thận, là nơi đi vào mạch máu, thần kinh và mạch bạch
huyết tới thận và là nơi xuất phát của niệu quản.

ống góp. Ống lượn gần và ống lượn xa nằm ở phần vỏ thận. Quai Helle,
ống góp nằm ở miền tủy thận. Ống góp đi qua tháp thận rồi chúng hợp lại
thành các ống nằm trong các gai thận (ống gai thận).
4. Chức năng: Thận là cơ quan chính, là cơ quan chẵn có vai trò quan trọng
trong việc duy trì thăng bằng nước điện giài trong cơ thể và thải một số chất
độc đối với cơ thể ra ngoài sự thành lập và bài tiết nước tiểu; do đó, thận có
thể được xem như một tuyến ngoại tiết.Ngoài ra còn có vai trò nội tiết có ảnh
hưởng tới sự điều chỉnh huyết áp và tạo hồng cầu.
II. Niệu quản: là ống dẫn nước tiểu tử bể thận xuống bàng quang.
1. Vị trí:
o Niệu quản nằm sau phúc mạc, dọc hai bên cột sống thắt lưng và ép sat vào
thành bụng sau.
o Niệu quản dài tử 25-28 cm và được chia làm 2 đoạn: đoạn bụng và đoạn
chậu hông, mỗi đoạn dài khoảng 12,5-14 cm.
 Đoạn bụng:
− Đoạn bụng đi từ bể thận tới đường cung xương chậu.Ở đoạn này,
niệu quản chạy xuống dưới và vào trong ở trước cơ thắt lưng và bắt đầu
bắt chéo trước các động mạch chậu.
− Niệu quản phải thường bắt chéo động mạch chậu ngoài, niệu quản
trái bắt chéo động mạch chậu chung.
− Phía trong, niệu quản phải liên quan với tĩnh mạch chủ dưới, niệu
quản trái liên quan với động mạch chủ bụng.
 Đoạn chậu hông:
− Đoạn này đi từ đường cung xương chậu tới lỗ niễu quản của bàng
quang. Lúc đầu, nó chạy áp sát vào thành bên của chậu hông dọc theo
các mạch chậu trong, tới ngang với gai ngồi, niệu quản chạy vòng vào
trong và ra trước sàn chậu hông để tới bàng quang.
− Khi tới bàng quang, niệu quản chạy xuyên trong thành bàng quang
từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong và đổ vào bàng quang tại lỗ niệu
quản.

o Đỉnh bàng quang là nơi các mặt dưới – bên
và mặt trên hợp với nhau ở phía trước. Đây là nơi bám của dây chằng rốn giữa.
o Đáy (mặt sau) ở phía sau và hơi xuống
dưới:
- Ơ nữ, đáy bàng quang liên quan với cổ tử cung và phần trên âm đạo.
-Ở nam, đáy bàng quang liên quan với túi tinh và ống dẫn tinh, trực tràng và
các quai ruột non.
o Cổ bàng quang là nơi gặp nhau của đáy và
các mặt dưới bên. Ơ bàng quang mở vào niệu đạo bởi lộ niệu đạo trong. Cổ
bàng quang nam đè lên tuyến tiền liệt.
3. Cấu tạo trong: Thành bàng quang được cấu tạo bởi 4 lớp:
o Lớp niêm mạc có màu hồng nhạt, khi bàng
quang rỗng có nhiều nếp nhăn, khi căng thì phẵng. Có một vùng niêm mạc, gọi
là tam giác bàng quang, luôn dính chặt vào lớp cơ, có màu đỏ hơn và luôn
phẳng cả khi bàng quang rỗng. Tam giác bàng quang nằm giữa 3 lỗ: hai lỗ niệu
quản ở hai bên, trên mặt đáy bàng quang, và lỗ niệu đạo trong ở dưới, tại cổ
bàng quang.
Tấm dưới niêm mạc không có ở vùng tam giác bàng quang.
o Lớp cơ gồm các bó cơ xếp thành 3 bó:
o Lớp ngoài là cơ dọc, từ lớp này có 1 số sợi
chạy ra phía trước tới xương mu tạo nên cơ mu – bàng quang, một số sợi khác
chạy ra phía sau tạo nên cơ trực tràng – bàng quang.
o Lớp giữa là cơ vòng dày hơn lớp ngoài,
nhất là ở phần trên vùng tam giác bàng quang.
o Lớp trong là cơ dọc, phát triển nhất ở vùng
tam giác bàng quang và hướng của thớt cơ cùng chạy dọc vể phía cổ tạo thảnh
1 quai dày ở phía sau cổ bàng quang.
o Lớp thanh mạc chính là phúc mạc. Ở
những vùng không có phúc mạc, bàng quang được bao phủ bởi một lớp mô liên
kết. Dưới lớp thanh mạc là tấm lưới thanh mạc.

Trích đoạn Niệu đạo: là ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngồi Niệu đạo nữ ngắn hơn niệu đao nam. Vịi tử cung (ống dẫn trứng, vịi Fallope): Là ống dẫn trứng đi từ buồng trứng đến tử cung. Bộ phận sinh dục ngồi của nữ giới: Gồm âm hộ, âm vật, lỗ niệu đạo. Tinh hồn: Là một tuyến vừa ngoại tiết tạo ra tinh trùng và vừa nội tiết, làm cho người cĩ những đặc điểm nam tính. Dương vật: thuộc phần sinh dục ngồi đảm nhiệm cả hai chức năng niệu và sinh dục.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status