BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
HUỲNH MINH KIÊN
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾTỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
HUỲNH MINH KIÊN
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾTỈNH CÀ
MAU
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH CÔNG
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS. TS NGUYỄN VĂN SĨ
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
1.1.2.7. Đo lường tăng trưởng kinh tế.................................................8
1.2. Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế.............................8
1.2.1. Nguồn nhân lực.........................................................................8
1.2.2. Nguồn tài nguyên thiên nhiên...................................................9
1.2.3. Nguồn vốn.................................................................................9
1.2.4. Công nghệ................................................................................9
1.3. Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế....................10
1.3.1. Đầu tư công thúc đẩy tăng trưởng GDP...................................10
1.3.2. Đẩy nhanh đổi mới công nghệ.................................................11
1.3.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế......................................................12
1.3.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động......12
1.3.5. Thu hút các nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước thúc đẩysản xuất kinh
doanh phát triển.................................................13
1.3.6. Đảm bảo an sinh xã hội............................................................13
1.4. Các nghiên cứu trước liênquan đến đầu tư công và tăng trưởng kinh
tế.....................................................................................13
1.4.1. Các tác giả trong nước..............................................................13
1.4.2. Các tác giả nước ngoài.............................................................14
1.5. Đầu tư công tại một số nước trên thế giới...................................15
1.6. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam............................................17
TÓM TẮT CHUONG 119
Chương 2:THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦUTƯ CÔNG ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH CÀ MAU....................................................20
2.1.Tổng quan về địa bàn nghiên cứu...............................................20
2.1.1. Điều kiện tự nhiên....................................................................20
2.1.1.1. Vị trí địa lý và khí hậu...........................................................20
2.1.1.2. Tài nguyên.............................................................................21
2.1.2.Các điều kiện xã hội.................................................................25
3.1.2.3. Đối với nông nghiệp........................................................61
3.2. Các giải pháp................................................................................62
3.2.1. Giảipháp về nguồn vốn.........................................................62
3.2.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực....................................64
3.2.3. Đầu tư cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế có tác động tích cực.....65
3.2.4.Phân bổ và sử dụng nguồn lực có lựa chọn..........................66
3.2.5.Phát triển khoa học, công nghệ............................................66
3.2.6. Đổi mới kiểm soát và giám sát đầu tư công..........................68
3.2.7. Hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin.............................68
3.2.8. Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư công ................69
3.3. Các giải pháp hỗ trợ....................................................................69
3.3.1. Cải cách hành chính và xây dựng bộ máy quảnlý...............69
3.3.2. Công tác lập quy hoạch, nâng cao chất lượng quy hoạch.....71
3.3.3. Đổi mới cơ chế phân cấp và quản lý vốn đầu tư công..........71
3.3.4. Lựa chọn dự án đầu tư...........................................................72
3.3.5. Lựa chọn lĩnh vực phát triển đột phá....................................72
3.3.6. Ban hànhcác tiêu chí đánh giá rủi ro....................................73
3.3.7.Mở rộng hợp tác liên kết phát triển vùng và hội nhập quốc tế..73
3.3.8. Hoàn thiện các văn bản pháp lý của Nhà nước (cải thiện tính hiệu quả của
đầu tư công)........................................................76
TÓM TĂT CHƯƠNG III77
KẾT LUẬN.............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................79
1.
Lý do chọn đề tài
Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản lý,nâng cao hiệu quả
đầu tư công trong thời gian tới.Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể
được xem như là tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các cơ quan có liên quan trong
quá trình lập kế hoạch, phân bổ, quản lý và sử dụnghiệu quả vốn đầu tư công trong
thời gian tới.
4. Phạm vi nghiên cứu
-Về đối tượng nghiên cứu: Tác động của đầu tư của khu vực công đến tăng trưởng
kinh tế tỉnh Cà Mau.
-Về không gian: Địa bàn tỉnh Cà Mau.
-Về thời gian: Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Cà Maugiai
đoạn từ năm 2004-2013và định hướng đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứuPhương pháp nghiên cứu là thực hiệnthống kê mô tả để
đánh giá tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế.
6.Kết cấu luận vănNgoài phần mở đầu,kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục;luận văn được chia thành 3 chương, cụ thể như sau:
-Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế.
-Chương 2: Thực trạng tácđộng của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Cà
Mau.
-Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công phục vụ tăng trưởng kinh tế ở
tỉnh Cà Mau
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀTÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯCÔNG ĐẾNTĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các lý thuyết về đầu tư công
kinh tế là rất cần thiết.Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế
chuyển đổi, nhiều định chế của cơ chế thị trường chưa hình thành hoàn chỉnh,nên
các điều kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo chưa thể đáp ứng được. Mặt khác,
nền kinh tế nước ta đang ở trình độ thấp, chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp, trình
độ cư dân thấp... đòi hỏi phải có vai trò chủ động của Nhà nước trong việc định
hướng phát triển các ngành kinh tế.Nhà nước phải tạo những tiền đề nhất định như
hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực... để thúc đẩy phát triển kinh tế.1.1.2.Một số khái
niệm1.1.2.1. Đầu tưTheo “Tài chính doanh nghiệp hiện đại”: “Đầu tư chính là sự
hy sinh giá trị chắcchắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy (khả năng không chắc chắn)
giá trị trong tương lai” (Trần Ngọc Thơ, 2007, Nhà xuất bản Thống kê).Khái niệm
đầu tư này đề cập đến ba yếu tố là yếu tố thời gian, yếu tố rủi ro
6và yếu tố lợi nhuận và đầu tư ở đây được đề cập trên một bình diện rất rộng, bao
gồm cả đầu tư tài chính và đầu tư thực. “Giá trị” trong khái niệm này có thể hiểu là
những giá trị có thể định lượng được (vốn, tài sản...) và cảnhững giá trị không thể
định lượng (con người, hiệu quả xã hội...).1.1.2.2. Đầu tư côngTheo lý thuyết kinh
tế học, đầu tư cônglà việc đầu tư để tạo ra năng lực sản xuất và cung ứng hàng hóa
công cộng. Một số quan điểmcho rằngđầu tư công chỉ được quan niệm bao gồm
các hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn của Nhà nước vàovốn vật chất (đường xá,
văn phòng, trường học, công trình công công cộng...). Theo niên giám thống kê
Việt Nam, đầu tư cônglà “toàn bộ những chi tiêu để làm tăng, duy trì tài sản vật
chất trong một thời kỳ nhất định”, vốn đầu tư thườngđược thực hiện qua các dự án
đầu tư và một số chương trình đầu tư quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài
sản cố định. Đầu tư được ghi chép và thống kê theo các ngành, các cấp quản lý
(Trung ương, địa phương) vàtheo nguồn các thành phần kinh tế (đầutư Nhà nước,
đầu tư ngoài Nhà nước và đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài). Đầu tư
cũng được thống kê theo giá thực tế và giá so sánh. Như vậy, đầu tư công bao gồm:
đầu tư ngân sách phân cho các bộ ngành Trung ương và phân cho các ngành địa
phương; đầu tư theo các chương trình hỗ trợ mục tiêu có mục tiêu; đầu tư của
xuất bản Thống kê).1.1.2.7. Đo lường tăng trưởng kinh tếĐể biểu thị sự tăng
trường kinh tế, trước đây người ta đo lường tổng của cải xã hội tạo ra trong thời kỳ
nhất định bằng hai đại lượng chính: GNP (tổng sản phẩm quốc dân) và GDP (tổng
sản phẩm quốc nội). GDP là tổng giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ cuối cùng
được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định
(thường là một năm), không phân biệt nguồn vốn và chủ sở hữu ở trong nước hay
nước ngoài.1.2. Các nhân tốtác động đến tăng trưởng kinh tếSau khi nghiên cứu về
tăng trưởng kinh tế củacác nước phát triểnlẫncác nước đang phát triển, nhữngnhà
kinh tế họcđã phát hiện ra rằng động lực của phát triển kinh tế là nguồn nhân lực,
nguồn tài nguyên, vốnvà công nghệ. Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia và
cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tương ứng.1.2.1. Nguồn
nhân lực Chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của
đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế. Hầu hết các yếu
tố khác như vốn, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được
nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự. Các yếu tố như máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy
được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ
luật lao động tốt. 1.2.2. Nguồn tài nguyên thiên nhiên Một trong những yếu tố sản
xuất cổ điển, những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là
dầu mỏ, rừng và nguồn nước. Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát
triển kinh tế, có những nước được thiên nhiên ưu đãi cótrữ lượng dầu mỏ lớn có
thể đạt được mức thu nhập cao chủ yếu dựa vào đó. Tuy nhiên, các nước sản xuất
dầu mỏ là ngoại lệ chứ không phải quy luật, việc sở hữu nguồn tài nguyên thiên
nhiên phong phú không quyết định một quốc gia có thu nhập cao.Vídụ như Nhật
Bảnlà một nước gần như không có tài nguyên thiên nhiên,nhưng nhờ tập trung sản
xuất các sản phẩm có hàm lượng lao động, tư bản, công nghệ cao nên vẫn có nền
kinh tế phát triển hàng đầu trên thế giới.1.2.3. Nguồn vốn Nguồn vốn là một trong
những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ mà ngườilao động được sử dụng những
tăng lên thì trực tiếp làm cho
11thu nhập quốc dân Y tăng lên.Theo lý thuyết Keynes thì khi đầu tư tăng lên một
đơn vị thì làm cho Y tăng hơn một đơnvị.Như vậy, gia tăng đầu tư sẽ làm cho tổng
cầu tăng trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Sự thay đổi tổng cung, tổng
cầu được phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế. Thay đổi quy mô vốn đầu tư
cũng là nguyên nhân làm thay đổi tốc độ tăng trưởng kinh tế.Mối quan hệ giữa đầu
tư với tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế là mốiquan hệ biện chứng nhân quả,
có ý nghĩa quan trọng cả về lý thuyết và thựctiễn. Đây là cơ sở lý luận để giải thích
chính sách kích cầu đầu tư và chi tiêu dùng ở nhiều nước trong thờikỳ kinh tế tăng
trưởng chậm.1.3.2. Đẩy nhanh đổi mới công nghệĐầu tư công là nhân tố tác động
đến quyết định đổi mới và phát triển công nghệ của một quốc gia. Ởmỗi thời kỳ,
các nước có bước đi khác nhau để đầu tư phát triển công nghệ. Trong giai đoạn
đầu, các nước đang phát triển do có nhiều lao động và nguyên liệu,nên thường đầu
tư các loại công nghệ sử dụng nhiều lao động.Sau đó, giảm dần hàm lượng lao
động và nguyên liệu trong việc sản xuất sản phẩm và tăng dần hàm lượng vốn thiết
bị và tri thức thông qua việc đầu tư thiết bị công nghệ hiện đại hơn. Đến giai đoạn
phát triển, xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức tuyệt
đốichiếm ưu thế. Quá trình này là quá trình chuyển đổi từ đầu tư nhỏ sang đầu tư
lớn, thay đổi cơ cấu đầu tư. Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo cho sự
thành công của quá trình chuyển đổi và phát triển của khoa học và công nghệ. Đầu
tư công chính là nguồn vốn quan trọng làm thay đổi công nghệ, tác động không
nhỏ đến sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đổi mới phương thức sản xuất, làm
tăng quy mô sản lượng, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.
121.3.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tếChuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự
thay đổi tỷ trọng các bộ phận cấu thành nền kinh tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các ngành,
vùng.Đầu tư công góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luật
và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ tạora sự cân
đốitrên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng nhằm phát huy nội
lực của nền kinh tế. Đối với cơ cấu ngành, quy mô vốn đầu tư từng ngành nhiều
cấu hạ tầng phát triển thực sự có ích cho người nghèo, có thể kể đến những kết
cấuhạ tầng thiết yếu ở các vùng nghèo như trường học, trạm y tế, thủy lợi, đường
giao thông nông thôn, nước sạch và vệ sinh môi trường... Phúc lợi xã hội cũng
được nâng cao thông qua nhiều chương trình như tín dụng đối vớihọc sinh nghèo,
vay vốn phát triển sản xuất đối với các hộ gia đình đặc biệt khó khăn...Nhờ vậy
mức sống của người dân được cải thiện, đời sống nhân dân vùng nông thôn ngày
càng khởi sắc.1.4. Các nghiên cứu trước liên quan đến đầu tư công và tăng trưởng
kinh tế1.4.1. Các tác giả trong nướcTại Việt Nam có một số nghiên cứu định tính
về đầu tư công và hiệu quả của đầu tư công. Tuy nhiên, nghiên cứu định lượng về
tác động của đầu tư công
đối vớităng trưởng kinh tếrất hạn chế. Tác giả tìm thấy nghiên cứu của Tô Trung
Thành (2010) cho kết quả đầu tư công có mối quan hệ dương với tăng trưởng kinh
tếViệt Nam, Nguyễn Đức Minh (2012) nghiên cứu cho trường hợp thành phố Hồ
Chí Minh thì cho kết quả rằng đầu tư công không có quan hệ với tăng trưởng kinh
tế.1.4.2. Các tác giả nước ngoàiNghiên cứu thực nghiệm về tácđộng của đầu tư nói
chung và đầutư công nói riêng đối với tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế trên
thế giới được thực hiện khá phổ biến. Thế nhưng, kết quả nghiên cứu có nhiều sự
khác biệt.Chẳng hạn, trong khi một số nghiên cứu của các tác giả cho thấy đầu tư
công có tác động dương đối với tăng trưởng như: Aschauer (1989), Munnell và
Cook (1990), Khan và Kumar (1997), Batina (1998), Bose và cộng sự (2003),
Gwartney và cộng sự (2004), Kamps (2005), Bukhari và cộng sự (2007),
Eruygur (2009); một số nghiên cứu khác lại cho thấy đầu tư côngtác động âm đến
tăng trưởng như nghiên cứu của Devarajan và cộng sự (1996) hay nghiên cứu của
Ghali và Khalifa (1998); cũng có một số nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ
giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tếnhư: Clarida (1993), Roache (2007), Swaby
(2007).Bên cạnhđó, nghiên cứu của Badawi và Ahmed (2003), Ellahi và Kiani
(2011) cho kết quả đầu tư công có tác động âm đến tăng trưởng trong ngắn hạn
nhưng lại có tác động dương trong dài hạn.Ngoài ra, Sturm và cộng sự (1999) chỉ
16một số hạn chế như ngành giao thông vận tải, ngành logistics. Vấn đề quan trọng
ở đây là không nhận thức đầy đủ được tầm quan trọng của quản lý đầu tư công, bất
cập về năng lực lập kế hoạch, khu vực tư nhân chưa chủ động tham gia các hoạt
động đầu tư cơ bản, thủ tục hành chính, hải quan nhiêu khê, môi trường pháp lý
-với nhiều cơ quan đề ra các thủ tục chồng chéo, trùng lặp -cũng tỏ ra thiếu hiệu
lực,...Đầu tư công ở Trung QuốcTổng đầu tư hình thành tài sản cố định của Trung
Quốc đã liên tục tăng và trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế
trong nhiều thập kỷ vừa qua. Nguyên nhân là Trung Quốc theo đuổi chính sách ưu
tiên tăng trưởng kinh tế cao.Tỷ lệ đầu tư cao trong một thời gian dài dẫn tới một số
hệ quả tiêu cực như: làm méo mó quá trình phân bổ nguồn lực, và làm giảm hiệu
quả tăng trưởng; tạo động lực cho việc duy trì bong bóng giá. Nguyên nhân chính
dẫn đến tỷ lệ đầu tư ở mức cao: Chính phủ thực hiện chiến lược tăng trưởng trong
đó nhấn mạnh vai trò của cầu nội địa; lãi suất thấp được duy trì trong một thời gian
dài; Chính phủ tăng mạnh chi ngân sách (kể cảđầu tư công) và thiếu giám sát chi
tiêu công một cách chặt chẽ; chưa chú tâm đến việc xây dựng khung pháp lý nhằm
khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân; quá trình lập kế hoạch ở tầm
quốc gia chưa được hài hòa với các kế hoạch phát triển cấp ngành và cấp vùng.
Đầu tư công tại Anh, Ai-len, Hàn QuốcNhằm bảo đảm hiệu quảthực thi và hiệu
quả kinh tế -xã hội của hoạt động đầu tư công, Ai-len đã ban hành và vận dụng
chiến lược ở tầm quốc gia để định hướng cho các quyết định đầu tư công. Trong
khi đó, Anh lại dựa nhiều vào việc kết hợp hài hòa các quytrình lập kế hoạch ngân
sách và lập kế hoạch cung ứng dịch vụ công trong dài hạn. Tại Anh và Ai-len đều
có những tiêu chí thực tiễn nhằm xác định các ưu
17tiên đối với lĩnh vực giao thông trong dài hạn. CảAnh và Ai-len ngày càng nhấn
mạnh việc sử dụng hiệu quảnguồn lực từ đầu tư công. Do đó, các chiến lược giao
thông được rà soát và phản biện rất kỹ lưỡng từ phía bên ngoài. Hai nước đều bố
trí vốn cho các dự án được thực hiện theo nguyên tắc nhiều năm, song có độ linh
hoạt nhất định để đáp ứng tiến độ công việc. Tại Vương quốc Anh, Hàn Quốc, Ailen,...việc kiểm tra, đánh giá hoàn thành dự án được thực hiện thông qua chính
Trong quá trình phát triển kinh tế đầu tư công luôn giữ vai trò quan trọng trong
tổng đầu tư của toàn xã hội, hình thành những kết cấu hạ tầng thiết yếuphục vụ
phát triển kinh tế -xã hội của đất nước. Mặt khác, tạo điều kiện, định hướng cho
vốn đầu tư xã hội vào những ngành, lĩnh vực cần khuyến khích phát triển, góp
phần tái cơ cấu đầu tư xã hội. Đầu tư vào các loại hàng hoá công có nhu cầu vốn
lớn, lâu thu hồi vốn, phần lớn do Nhà nước cung cấp, nhằm đảm bảo phúc lợi xã
hội và tạo động lực thúc đẩy đầu tư của các thành phần kinh tế khác phát triển. Vì
vậy, Nhà nước có vai trò chủ động trong việc định hướng phát triển các ngành kinh
tế, tạo những tiền đề nhất định như hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực,... để thúc đẩy
phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, ổn định kinh
tế vĩ mô,góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững.
20Chương 2THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNGĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH CÀ MAU2.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu2.1.1.
Điều kiện tự nhiên2.1.1.1. Vị trí địa lý và khí hậuCà Mau là tỉnh cực Nam của Tổ
quốc, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, phía Bắc giáp với tỉnh Kiên Giang và
tỉnh Bạc Liêu, phía Đông và phía Nam giáp với biển Đông, phía Tây giáp với vùng
vịnh Thái Lan;diện tích 5.294,87 km2; dân số năm 2014 là 1.234.300 người,với
mật độ dân số thấp nhất trong các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.Có 9 đơn vị hành
chính bao gồm: thành phố Cà Mau; các huyện Cái Nước, Đầm Dơi, Thới Bình,
Trần Văn Thời, Năm Căn, Ngọc Hiển, Phú Tân, U Minh; thành phố Cà Mau là
trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trịcủa tỉnh. Nằm ở tâm điểm vùng biển các nước
Đông Nam Á, Cà Mau có điều kiện thuận lợi trong giao lưu, hợp tác kinh tế với
các nước trong khu vực. Tỉnh Cà Mau cũng nằm trong hành langkinh tế phía Nam
của Chương trình hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng, với trục giao thông
xương sống từ Hà Tiên (cửa khẩu Xà Xía) -Quốc lộ 63 -Cà Mau -Năm Căn -Đất
Mũi,trong đó khu vực Mũi Cà Mau là điểm đến của tuyến giao thông này từ đó mở
ra những khả năng phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng, trong đó khả
năng mở rộng và kết nối khai thác du lịch là rất lớn.Khí hậu tỉnh Cà Mau mang đặc
trưng khí hậu của vùng đồng bằng sông Cửu Long là khí hậu nhiệt đới gió mùa cận
nghiệp chịu phèn như: mía, khóm, chuối, tràm... Đối với diện tích phèn bị ngập
mặn có thể trồng rừng ngập mặn, nuôi thuỷ sản.Diện tích đất nông nghiệp toàntỉnh
là 351.355 ha, chiếm 67,63%; đất lâm nghiệp có rừng là 104.805 ha, chiếm
20,18%; đất chuyên dùng có 17.072 ha, chiếm 3,29%; đất ở có 5.502 ha, chiếm
1,06%; đất chưa sử dụng và sông suối có 40.773 ha, chiếm 7,85%.-Tài nguyên
rừng:Đến năm 2014, Cà Mau có tổng diện tích đất lâm nghiệp là 110.723 ha (trong
đó diện tích có rừng là 92.284 ha), chủ yếu là rừng ngập nước. Trong đó, rừng
phòng hộ 23.248 ha, rừng đặc dụng 18.143 ha, rừng sản xuất 50.893 ha,chiếm 24%
diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Rừng Cà Mau là loại hình sinh thái đặc thù, rừng
sinh thái ven biển ngập mặn được phân bố dọc ven biển với chiều dài 254 km. Bên
cạnh đó, Cà Mau còn có hệ sinh thái rừng tràm nằm sâu trong lục địa ở các huyện
U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình quy mô 35.000 ha. Diện tích rừng ngập mặn ở
Cà Mau chiếm 77% rừng ngập mặn của vùng.Rừng ngập mặn Cà Mau có hệ sinh
thái độc đáo và đa dạng, đứng thứ 2 trên thế giới, sau rừng Amazôn ở Nam Mỹ.
Rừng ngập mặn Cà Mau có diện tích gần 69.000ha. Trong đó, tập trung ở các
huyện Ngọc Hiển, Năm Căn, Đầm Dơi và Phú Tân.Rừng tràm U Minh có tổng
diện tích khoảng 35.000 ha. Tập trung ở các huyện U Minh, và Trần Văn Thời.
Rừng tràm U Minh thuộc hệ sinh thái đất ngập nước nội địa, với rừng tràm trên đất
phèn và đất than bùn. -Tài nguyênbiển:Cà Mau có chiều dài bờ biển trên 254km,
chiếm 1/3 chiều dài bờ biển vùng đồng bằng sông Cửu Long, bằng 7,8% chiều dài
bờ biển
23của cả nước và có nhiều cửa sông ăn thông ra biển như: Bồ Ðề, Ông Ðốc, Ông
Trang, Bảy Háp, Khánh Hội...Trên biển có đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối và Hòn Đá
Bạc, rất thuận tiện cho tàu thuyền neo đậu, trú bảo, phát triển kinh tế biển. Biển Cà
Mau có diện tích thăm dò khai thác rộng khoảng 71.000 km2,được đánh giá là một
trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước, có trữ lượng hải sản lớn và phong phú
về chủng loại. Vùng mặt nước ven biển có khả năng nuôi các loại thủy sản như
nghêu, sò huyết, hàu, tôm nước mặn... có giá trị kinh tế cao. Sản lượng khai thác,
đến Kinh 5)”. Kết quả đã xác định được trữ lượng cát khu vực này vào khoảng
12,305 triệu m3.Với trữ lượng cát này chủ yếu để phục vụ nhu cầu nội tỉnh.Sét
gạch ngói và sét Ceramic: Năm 2005, kết quả điều tra đã xác định được các khu
vực xã Tân Thành, xã Tắc Vân thuộc thành phố Cà Mau, xã Lương Thế Trân thuộc
huyện Cái Nước có trữ lượng sét Ceramic vào khoảng 446,21 triệu m3.-Tài nguyên
du lịch: Diện tích rừng ngập mặn và rừng tràm rộng lớn, tập trung ở 2 vườn Quốc
gia Mũi CàMau và U Minh Hạ; các sân chim nổi tiếng ở Cà Mau có thể kể đến bao
gồm sân chim Công viên văn hóa Cà Mau, sân chim Tư Na -Năm Căn là những
điều kiện để tỉnh Cà Mau phát triển du lịch sinh thái. Hiện tại du lịch sinh thái ở Cà
Mau hiện đang được đầutư theo các dự án du lịch chuyên đề quốc gia. Nhờ vậy,
sản phẩm du lịch sinh thái của tỉnh có những khác biệt, ít bị trùng lặp với các tỉnh
khác trong vùng đồng bằng sông Cửu Long (chủ yếu là sinh thái miệt vườn). Bên
cạnh đó, với tài nguyên du lịch biển của Cà Mau khá phong phú. Bờ biển dài,
nhiều bãi cát ven bờ (Giá Lồng Đèn, Khai Long), các cồn bồi lắng cửa sông, những
cụm đảo gần bờ du lịch biển Cà Mau
25hứa hẹn một tiềm năng phát triển lớn. Ba cụm đảo chính là cụm đảo Hòn Khoai,
cụm đảo Hòn Chuối và cụmđảo Đá Bạc. Cụm đảo Hòn Khoai và Hòn Đá Bạc là
hai cụm đảo có giá trị đối với việc phát triển du lịch Cà Mau.2.1.2. Các điều kiện
xã hội2.1.2.1. Về dân sốDân số tỉnh Cà Mau năm 2013 là 1.219,9nghìn
người.Trong giai đoạn 2005-2013 dân số Cà Mau có tăng chậm với tốc độ tăng
bình quân 0,44% năm.Bảng2.1: Dân số tỉnh Cà Mau chia theo giới tính và khu
vực, Nghìn ngườiNguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2005-2013.Mật độ dân số
trung bình năm 2013 là 229 người/km2(so với của vùng đồng bằng sông Cửu Long
là 442 người/km2và của cả nước là 256 người/km2). Như vậy,mật độ dân số của
tỉnh Cà Mau chỉ bằng 52,6% so với mậtđộ dân số của vùng và bằng 89,5% dân số
của cả nước. Tỷ lệ giới tính trong dân số của tỉnh Cà Mau tương đối cân bằng, tuy
nhiên tỷ trọng nữ giới trong cơ cấu dân số đang có xu hướng giảm trong những
năm gần đây, từ 50,58% năm 2005 xuống còn 49,73 % năm2010.
Dân số khu vực thành thị tăng từ 20% năm 2005 lên 22,35% người năm 2013, tỷ lệ
tăng bình quân hàng năm 1,33% (so với của vùng là 4,35%). Tỷ lệ dân số thành thị
đang trong thời kỳ dân số vàng. Tuy nhiên,do tỷ suất di cư thuần cao, tỷ suất sinh
giảm nhanh, nên tỷ trọng dân số trong lực lượng lao động trên tổng số dân số năm
2013 vẫn đạt 57,07%. Mức này thấp hơn mức bình quân của đồng bằng sông Cửu
Longlà 59,06% và của cả nước là 59,35%. 2.1.2.2. Lao động, nguồn nhân lựcDân
số trong tuổi lao động năm 2005 của tỉnh là 733,5 nghìn người, chiếm 64,24% dân
số, năm 2013 là 789,65 nghìn người, chiếm 64,3% trong đó số có khả năng lao
động là 780,97 nghìn người. Năm 2013,số lao động đang làm việc trong các ngành
kinh tế của tỉnhlà 678,7 nghìn người, tăng trên 65 nghìn người so với năm 2005 và
26 nghìn người so với năm 2010. Theo số liệu điều tra lao động việc làm năm 2011
và 2012 tỷ lệ nguồn lao động của tỉnh không hoạt động kinh tế khá cao 25,3% (cao
nhất ở đồng bằng sông Cửu Long); tỷ lệ này của lao động nữ cao hơn 37,4%. Phần
lớn lao động nữ nông thôn thường ở nhà nội trợ gia đình. Tỷ lệ sử dụng quỹ thời
gian lao động còn thấp, nhất là sau khi chuyển đổi sản xuất từ trồng lúa sang nuôi
tôm thì tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn tăng lên rất nhiều (theo ước tính tỷ lệ
sử dụng thời gian lao động ở nông thôn chỉ đạt khoảng 60 -70%). Bảng2.3:Lao
động đang làm việc trong các ngành kinh tế2000200520102013Tăng trưởng bình
quân năm(%)2001-20052006-20102011-20132001-2013Lao động (nghìn
người)590.7613.5652.0678.70.81.21.31.11.Nông, lâm,
ngưnghiệp513.7504.4469.5491.8-0.4-1.41.6-0.32.Công nghiệp, xây
dựng26.031.942.847.14.26.13.24.73.Dịch
vụ51.077.2139.7139.88.612.60.08.1Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Cà
Mau(2013)
28Chất lượng đào tạo nghề và cơ cấu nghề đào tạo còn hạn chế nên chưa đáp ứng
yêu cầu tuyển dụng lao động. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong
các ngành kinh tế của tỉnh đã qua đào tạo thấp,năm 2013 là 7,55% (năm 2010 là
6,08%), thuộc hàng thấp nhất (đứng thứ 13) ở đồng bằng sông Cửu Long. Đồng
thời, lao động của tỉnh chủ yếu làm nông nghiệp, quen tác phong làm việc tự do,
chưa có tác phong sản xuất công nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật lao động thấp,
đường Quốc lộ 63 nối Cà Mau với Kiên Giang thông qua huyện Thới Bình.Về Kết
nối nội tỉnh: Cà Mau hiện có 15 đường liên huyện kết nối được với tất cả 8 huyện
với thành phố Cà Mau gồm: đường Cà Mau -Tắc Thủ -U Minh -Khánh Hội; đường
Tắc Thủ -Rạch Ráng -Sông Đốc; đường Lương Thế Trân -Đầm Dơi; đường Trí
Phải -Thới Bình; đường Rau Dừa -Rạch Ráng; đường Gành Hào -Đầm Dơi -Cái
Nước -Cái Đôi Vàm; đường Thới Bình -U Minh; đường Láng Trâm -Thới Bình;
đường T13-Co Xáng-Đá Bạc; đường Thới Bình -Biển Bạch; đường Ranh Hạt -Chợ
Hội; đường T29; Đường T11; đường KCN Khí Điện Đạm; đường Hai Mùa dọc
Kênh 7.
30Ngoài ra,hệ thống đường huyện cũng kháphát triển đảm bảo kết nối các xã với
huyện lỵ và trung tâm của tỉnh.Có thể thấy hệ thống giao thông đường bộ của Cà
Mau được phát triển khá nhanh trong thời gianqua. Tuy nhiên,do địa hình đất yếu,
bị chia cắt nhiều bởi sông, rạch, kênh nên hệ thống đường bộ của Cà Mau vẫn chưa
đáp ứng được nhu cầu phát triển. Nhu cầu xây dựng đường liên tỉnh, liên huyện
còn rất lớn. Sự yếu kém hệ thống đường giao thông này cũng là điểm yếu then chốt
của Cà Mau. * Giao thông đường thủy (nội và ngoại)Cà Mau là tỉnh có hệ thống
sông kênh rạch chằng chịt. Do vậy, hệ thống giao thông đường thuỷ là lợi thế của
tỉnh. Vận tải hành khách và hàng hoá bằng đường thủychiếm tỷ trọng lớn so với
đường bộ do năng lực chuyên chở bằng đường thủy rất lớn. Mỗi ngày có hàng trăm
ngàn phương tiện lưu thông trên các tuyến sông do Trung ương và địa phương
quản lý. Tuyến giao thông đường thủychủ yếu là Cà Mau-Ngã Bảy Phụng HiệpCần Thơ–thành phốHồ Chí Minh. Từ Cà Mau đi trung tâm các huyện, đến Mũi Cà
Mau, các trung tâm kinh tế, cụm dân cư: Rạch Gốc, Gành Hào, Bồ Đề, Sông Đốc,
Khánh Hội và luồng tàu biển thị trấn Năm Căn-cửa Bồ Đề.Theo số liệu thống kê,
hệ thống đường thủy trên địa bàn tỉnh có 57 tuyến đường thủy với tổng chiều dài
1.161,8 km, trong đó: -12 tuyến đường thủy dotrung ương quản lý với tổng chiều
dài 261,7 km.-12 tuyến đường thủy do tỉnh quản lý với tổng chiều dài 349,0 km.33 tuyến đường thủy do huyện quản lý với tổng chiều dài 559,5 km.Hệ thống giao