Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở trường cao đẳng sư phạm vĩnh phúc trong giai đoạn hiện nay - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


LƢƠNG THỊ KIM DUNG

QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM VĨNH PHÚC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2009

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-
LƢƠNG THỊ KIM DUNG

QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƢ PHẠM
VĨNH PHÚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học
Mã số:



MỤC LỤC
Mở đầu ....................................................................................................................................... 1
Chƣơng 1. Nguyên tắc thống giữa lý luận và thực tiễn và vai trò của việc quán triệt
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với hoạt động đào tạo .................. 5
1.1. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác-Lênin ...................... 5
1.1.1. Phạm trù thực tiễn và lý luận ........................................................................................... 5
1.1.2. Thực chất của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đào tạo .............. 20
1.2. Vai trò của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với hoạt động đào tạo......... 24
1.2.1. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với việc quán triệt xác định mục tiêu và
xây dựng nội dung, chương trình đào tạo .................................................................... 24
1.2.2. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với việc xác định hình thức, phương
pháp dạy và học............................................................................................................ 30
1.2.3. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với việc tổ chức quản lý và xây dựng cơ
sở vật chất phục vụ quá trình đào tạo ........................................................................... 33
Chƣơng 2. Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động đào tạo ở
Trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Vĩnh Phúc - kết quả và một số vấn đề đặt ra ........................... 35
2.1. Đặc điểm về kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc tác động đến hoạt động đào tạo của
Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc................................................................................... 35
2.2. Kết quả việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đào tạo ở
Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc ........................................................................ 38
2.2.1. Những nhiệm vụ chủ yếu trong hoạt động đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh
Phúc.............................................................................................................................. 38
2.2.2. Kết quả của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt
động đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc ................................................. 39
2.3. Một số vấn đề đặt ra .......................................................................................................... 58
2.3.1. Một số hạn chế ............................................................................................................... 58
2.3.2. Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế ..................................................................... 61
Chƣơng 3. Phƣơng hƣớng, giải pháp nhằm quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận

quyết định về nhân tố con người - chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải
vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân Việt Nam, sau
nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước và suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc, đã khẳng định: Vì lợi ích 10 năm phải trồng cây, vì sự nghiệp trăm
năm phải trồng người. Người nói: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu và dốt là một
trong ba thứ giặc “Giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt”. Quán triệt quan điểm của
chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam đã từng bước nhận thức rõ tầm
quan trọng của nền giáo dục trong sự phát triển của đất nước.
Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII) của
Đảng đã nêu rõ “Hiện nay, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đang đứng trước những
mâu thuẫn lớn giữa vừa phát triển nhanh quy mô giáo dục và đào tạo, vừa phải
gấp rút nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong khi khả năng và đáp ứng
yêu cầu còn nhiều hạn chế. Đó là mâu thuẫn trong quá trình phát triển” [7,
tr.175].
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định giáo dục
và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo là một động lực

7


quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện để phát
huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững.
Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đang phát
triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực, kinh tế, văn hóa, giáo
dục… Vì vậy, đòi hỏi phải phát huy hơn nữa nguồn lực con người là nhân tố
quyết định sự thành công của quá trình đổi mới. Để đáp ứng được những đòi hỏi
đó cần phải đổi mới giáo dục một cách toàn diện, nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo.

khâu của quá trình đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Với ý nghĩa đó việc nghiên cứu đề tài: “Quán triệt nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Cao
đẳng sư phạm Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay” là có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề vận dụng mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn đã có những công
trình, bài viết của nhiều tác giả nghiên cứu từ các góc độ khác nhau.
- “Vai trò của lý luận đối với quá trình đổi mới xã hội nước ta hiện nay”,
Luận văn thạc sĩ triết học của Phan Đình Đạt, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội,1993.
- “Vận dụng quan điểm Duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa lí luận
và thực tiễn trong nhận thức và hình thành các giải pháp của quá trình đổi mới
kinh tế của nước ta hiện nay”, luận văn Thạc sĩ khoa học Triết học của Đặng
Thành Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân Văn, 1999.

9


- “Mấy vấn đề về nhận thức thực tiễn”, Nguyễn Đức Bình - Nxb Sự thật
Hà Nội, 1983.
- “Nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn”, Đình Nghiêm, Hữu Xanh, tạp
chí Cộng sản, số 8/1986.
- “Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới”, Phạm Minh Hạc, chương
trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX 07, Hà Nội, 1994.
- “Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới”, Ban Khoa giáo Trung
ương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
Nghiên cứu vấn đề quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh

giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động đào tạo, phân tích kết quả chủ yếu và hạn
chế chủ yếu của việc quán triệt nguyên tắc này, đồng thời đề xuất một số giải pháp
chủ yếu để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm
Vĩnh Phúc, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên trung học cơ
sở có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tốt phục vụ cho sự nghiệp giáo dục đào tạo
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho tổ chức hoạt động
đào tạo ở các trường cao đẳng sư phạm, nghiên cứu những vấn đề có liên quan
đến giáo dục và đào tạo; tham khảo trong việc xây dựng các chính sách cho giáo
dục và đào tạo.
7. Kết cấu của luận văn

11


Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương, 6 tiết.
Chƣơng 1. Nguyên tắc thống giữa lý luận và thực tiễn và vai trò của việc
quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn với hoạt động đào tạo.
Chƣơng 2. Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt
động đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc - kết quả và một số vấn đề đặt ra.
Chƣơng 3. Phương hướng, giải pháp nhằm quán triệt nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn để nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng
Sư phạm Vĩnh Phúc.

12


Chƣơng 1
NGUYÊN TẮC THỐNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

thức là gì? là cái mà cho ta biết được, mà đã biết được thì phải nhìn thấy rõ và
hình dung ra nó như người ta trông thấy bằng thị giác” [6, tr.41].
Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại thế kỷ VI-V (TCN) cũng bàn nhiều về vấn
đề lý luận và thực tiễn, về khả năng nhận thức của con người đối với thực tiễn,
tiêu biểu là Platôn và Arixtốt.
Platôn cho rằng, thế giới những sự vật cảm tính và thế giới ý niệm là hai
thế giới song song cùng tồn tại và độc lập với nhau, vật chất được Platôn hiểu
theo nghĩa là cái không tồn tại, không nhìn thấy được, không nhận thức được
nhưng lại là nguồn gốc của cái nhiều, cái đơn nhất, cái sinh ra và cái tử. Như
vậy, ở đây Platôn cho rằng con người không có khả năng nhận thức thế giới và
thế giới là từ ý niệm mà ra.
Arixtốt là một trong những người có quan niệm cổ điển về chân lý, ông đã
cho rằng, chân lý là sự phù hợp giữa quan niệm con người về sự vật với sự vật
tồn tại trên thực tế. Theo Ông, tự nhiên là tính thứ nhất, tri thức là tính thứ hai,
nhiệm vụ của nhận thức là nhận thức cái tất yếu của tự nhiên và phản ánh vào
trong khái niệm. Con đường hình thành khái niệm diễn ra như sau: Cảm giác kinh nghiệm - nghệ thuật - khoa học. Đây là sự phát triển đi lên từ thấp đến cao
và các giai đoạn phát triển này có liên quan chặt chẽ đến nhau, giai đoạn trước
làm tiền đề cho giai đoạn sau. Trong khoa học các phạm trù và các khái niệm
được hình thành, trong đó triết học là khoa học có tính khái quát cao nhất. Đây là
quan niệm rất tiến bộ về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong thời kỳ cổ
đại.

14


Triết học tiền tư bản chủ nghĩa tiêu biểu là triết học Anh, chủ nghĩa duy
vật Pháp và triết học cổ điển Đức.
Triết học Anh cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, đại diện là triết học duy
tâm chủ quan của Béccơli và bất khả tri luận của Hium. Họ cho rằng, ý thức là
cái tồn tại có thực, còn sự vật chỉ có trong cảm giác, trong khái niệm, trong “cái

ngoài của sự vật chứ không nhận thực được bản chất của sự vật.
Như vậy, chủ nghĩa duy tâm và những học thuyết biến tướng của nó bằng
cách này hay cách khác không thừa nhận nhận thức của con người là sự phản ánh
thế giới khách quan, không thấy được sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Các nhà duy vật trước Mác tuy có nhiều tiến bộ và kiên quyết chống lại chủ
nghĩa duy tâm nhưng quan niệm về nhận thức còn hạn chế mang tính trực quan
máy móc, coi nhận thức của con người như là sự phản ánh của cái gương. Còn
các nhà duy vật thô thiển quan niệm rằng, óc tiết ra tư tưởng cũng như gan tiết ra
mật từ đó dẫn đến họ không phân biệt được đặc tính riêng của tinh thần hay nhận
thức và đi đến đồng nhất vật chất với tinh thần.
Quan niệm tiến bộ nhất về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn của chủ
nghĩa duy vật trước Mác là triết học của Cantơ. Ông đã nhận thấy vai trò đặc biệt
của tri thức lý luận đối với khoa học, ông coi đây là nền tảng của quá trình nhận
thức chân lý của con người. Vì thế, giải quyết nhiệm vụ trên cũng có nghĩa là
luận chứng sự tồn tại của các khoa học lý luận thời đó.
V.I.Lênin nhận xét: “Lần đầu tiên trong lịch sử Cantơ hiểu được vai trò
quyết định của hành động thực tiễn con người, đặt nó cao hơn lý luận” [21,
tr.172].
Nhận xét về các quan điểm triết học duy vật trước Mác, Mác viết “Khuyết
điểm chủ yếu của mọi chủ nghĩa duy vật (kể cả chủ nghĩa duy vật của PhơBách)
là sự vật hiện tượng - cái có thể cảm giác được chỉ được nhận thức là hoạt động
16


cảm giác của con người, là thực tiễn không được nhận thức về mặt chủ quan”
[25, tr.9].
1.1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về lý luận và thực tiễn
Dựa vào những thành tựu của khoa học nói chung và khoa học tự nhiên
nói riêng, cùng với hoạt động của các ông trong phong trào đấu tranh của quần
chúng lao động, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có công lớn trong việc đưa thực tiễn

đồng, do cộng đồng.
Hoạt động thực tiễn mang tính tất yếu, nhưng tất yếu có nhận thức, có ý
thức. Đó là ý thức về kết quả, ý thức về phương pháp, ý thức về đối tượng,… đặc
biệt là ý thức về mục đích của quá trình hoạt động. Mục đích của hoạt động thực
tiễn là nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và xã hội.
Mỗi một hoạt động đều có mục đích khác nhau để giải quyết nhu cầu cụ thể,
không có hoạt động nào không có mục đích, mặc dù kết quả của hoạt động thực
tiễn không phải là lúc nào cũng diễn ra phù hợp với mục đích của con người.
Hoạt động thực tiễn rất phong phú, đa dạng, song có thể chia ra ba hình
thức cơ bản là: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt
động thực nghiệm khoa học. Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động trực tiếp
tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại
và phát triển của xã hội. Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của con người
trực tiếp tác động vào xã hội, cải biến các quan hệ xã hội theo hướng tiến bộ. Hoạt
động thực nghiệm khoa học là hoạt động của các nhà khoa học tác động làm cải
biến những đối tượng nhất định, trong một điều kiện nhất định, theo một mục đích
nghiên cứu nhất định.Trong đó hoạt động sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định
vì đó là cơ sở cho các hoạt động khác.
Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức cơ bản của thực tiễn vì:

18


Thứ nhất, về mặt quan hệ là nó là tính thứ nhất và là cái quyết định đối với
ý thức và với tất cả các hình thức hoạt động xã hội - tinh thần khác của con
người.
Thứ hai, nó là cái quyết định, xét về mặt tiềm năng dù ở bất cứ trình độ
nào của nó đối với tất cả các hoạt động cơ bản của con người như các hoạt động
khoa học, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật…
Thứ ba, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động thực tiễn cảm tính, nó

hoạt động thực tiễn.
Đối với khoa học tự nhiên, nếu coi thực tiễn chỉ là thực nghiệm trong
phòng thí nghiệm thì chưa đủ, bởi thực nghiệm trong phòng thí nghiệm chỉ tạo ra
những điều kiện lý tưởng, giả định của thực tiễn thuận tiện nhất cho việc nhận
thức từng quy luật khách quan, nó chưa thể bao quát đầy đủ toàn bộ mối liên hệ
phổ biến của những điều kiện lịch sử cụ thể và của sự tác động qua lại với các
quy luật khác. Chỉ trong hoạt động thực tiễn thì các hoạt động của các quy luật
khách quan mới được biểu hiện thực sự phong phú, sinh động cụ thể.
Song, thực nghiệm là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của thực tiễn
và rất cần thiết để nhận thức quy luật khách quan, phát hiện ra bản chất của hiện
tượng, không có thực nghiệm khoa học thì không thể tiến lên được. Có ba loại
thực nghiệm: Thực nghiệm trong sản xuất; trong khoa học tự nhiên và trong xã
hội.
Các hình thức hoạt động thực tiễn tuy có sự khác nhau tương đối nhưng
chúng thống nhất, có chung chủ thể hoạt động, có cùng mục đích, chúng hỗ trợ,
ảnh hưởng lẫn nhau. Do đó, sự phân biệt giữa các hình thức hoạt động thực tiễn
mang tính tương đối.

20


Hoạt động sản xuất vật chất không thể không hoạt động trong cộng đồng
xã hội. Mặc dù hoạt động chính trị - xã hội trực tiếp tác động đến những vấn đề
của đời sống chính trị, tinh thần, nhưng kết quả hoạt động của lĩnh vực này lại
tác động tích cực đến phát triển sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, cũng như
những vấn đề có tính quy luật mà hoạt động thực nghiệm khoa học đang quan
tâm. Cũng như vậy, hoạt động thực nghiệm khoa học không thể không lấy mục
đích phục vụ kinh tế - xã hội.
Trong các hình thức hoạt động thực tiễn thì hoạt động sản xuất vật chất là
cơ bản nhất. Mặc dù các hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm

thức nhất định trong hoạt động sản xuất cũng như hoạt động khoa học mới có thể
hình thành tri thức kinh nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm khoa học giúp
các nhà khoa học hình thành lý luận. Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri
thức nhưng ở trình độ thấp. Thế nhưng, nó là cơ sở để hình thành lý luận.
Lý luận có những cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò
phương pháp luận của nó. Có thể phân chia lý luận thành lý luận ngành và lý
luận triết học.
Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển
của một ngành. Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận cho
hoạt động của ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật...
Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và
con người, là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con
người.
Do quá trình hình thành và bản chất của nó, lý luận có hai chức năng cơ
bản là chức năng phản ánh hiện thực khách quan và chức năng phương pháp luận
cho hoạt động thực tiễn. Lý luận phản ánh hiện thực khách quan bằng những quy
luật chung hay chung nhất. Tri thức kinh nghiệm cũng như tri thức lý luận đều

22


phản ánh hiện thực khách quan nhưng ở những phạm vi, lĩnh vực và trình độ
khác nhau. Lý luận phản ánh hiện thực khách quan để làm phương pháp luận
nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan bằng hoạt động thực tiễn.
1.1.1.3. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa
Mác-Lênin
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con
người với thế giới khách quan. Con người luôn luôn tác động tích cực vào thế
giới khách quan - tự nhiên và xã hội, cải biến thế giới khách quan bằng thực tiễn.
Trong quá trình đó, sự phát triển nhận thức của con người và sự biến đổi thế giới

càng tăng của cá nhân và xã hội. Tự thân lý luận không thể tạo nên những sản
phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt
động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn sẽ biển đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích
của con người. Đó thực chất là mục đích của lý luận. Tức lý luận phải đáp ứng
nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người.
Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận. Tính chân lý của lý luận chính
là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm
nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận đối với hoạt động thực tiễn của con
người. Do đó, mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm. Chính vì thế
mà C.Mác cho rằng: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt đến
chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn
đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý” [18,
tr.10]. Thông qua thực tiễn, những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào
kho tàng tri thức nhân loại; những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục
điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại. Giá trị của lý luận nhất thiết phải được
chứng minh trong hoạt động thực tiễn.

24


Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, nhưng không phải mọi thực
tiễn đều là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận khi
thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó. Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã
trải qua quá trình tồn tại, vận động, phát triển và chuyển hóa. Đó là chu kỳ tất
yếu của thực tiễn. Thực tiễn có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Nếu lý luận
chỉ khái quát một giai đoạn nào đó, một bộ phận nào đó của thực tiễn thì lý luận
có thể xa rời thực tiễn. Do đó, chỉ những lý luận nào phản ánh được tính toàn vẹn
của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý. Chính vì vậy mà V.I.Lênin cho rằng:
“Thực tiễn của con người lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần được in vào ý thức
của con người bằng những hình tượng logic. Những hình tượng này có tính vững


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status