Hoàng Viết Thảo
1
Quản lý đất đai
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn hoạt động
chủ yếu của nền kinh tế. Đất phục vụ cho phát triển Nông - Lâm nghiệp được
đánh giá theo tầng dày, độ phì của nó. Xói mòn đất là một hiện tượng phổ
biến trong mùa mưa thường xuyên xảy ra trên đất dốc, các lớp đất màu bị trôi
đi khiến cho đất đai mất độ phì nhiêu, làm giảm năng suất của cây trồng, gây
thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế.
Xói mòn đất là quá trình phá huỷ lớp thổ nhưỡng (bao gồm cả phá huỷ
các thành phần cơ, lý, hoá, chất dinh dưỡng v.v... của đất) dưới tác động của
các nhân tố tự nhiên và nhân sinh làm giảm độ phì của đất, gây ra bạc màu,
thoái hoá đất, laterit hoá, trơ sỏi đá v.v..., ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống và
phát triển của thảm thực vật rừng, thảm cây trồng khác.
Võ Nhai là huyện vùng cao nằm về phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên
có tổng diện tích tự nhiên 84.5104,41 ha với dân số 58.900 người, với điều
kiện địa hình phức tạp nhiều đồi núi có độ dốc cao, giao thông đi lại khó
khăn, đồng thời tổng lượng mưa và cường độ mưa trong năm lớn. Đây chính
là nguyên nhân dẫn đến lượng đất đai bị xói mòn mạnh.
Có nhiều có nhiều phương pháp nghiên cứu, đánh giá xói mòn đất được
các tác giả trong và ngoài nước sử dụng để chống xói mòn đất như trồng cây
phòng hộ, thâm canh, cải tạo các hệ thống chắn nước, thoát nước... Trong đó,
việc ứng dụng công nghệ hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một phương pháp,
là công cụ mạnh có khả năng phân tích không gian trong thời gian ngắn. Công
nghệ GIS còn cho phép tích hợp phương trình mất đất tổng quát của
- Đề ra các giải pháp trong công tác chống xói mòn đất cho người nông
dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên để từ đó có các biện pháp canh tác hợp
lý, mang lại hiệu quả cao trong sản xuất và đất đai không bị gây xói mòn
trong thời gian tới.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Về khoa học
- Góp phần bổ xung và hoàn thiện cơ sở lý luận khoa học trong công
tác ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để nghiên cứu và đánh giá đúng
đắn bản chất hiện tượng và quá trình xói mòn đất đai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Hoàng Viết Thảo
3
Quản lý đất đai
- Đề tài sau khi hoàn thành sẽ là minh chứng cho việc củng cố và áp
dụng các kiến thức chuyên môn đã học vào thực tiễn công tác.
* Về thực tiễn
- Luận văn ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong việc nghiên
cứu xói mòn đất đai tại huyện Võ Nhai. Từ đó xây dựng bản đồ dự báo nguy
cơ xói mòn đất khu vực nghiên cứu làm cơ sở đề xuất một số giải pháp hạn
chế xói mòn đất.
4. Bố cục của luận văn
Luận văn bao gồm 2 phần và 3 chương
- Xói mòn theo dòng: Là kiểu xâm thực, xói mòn tập trung trong các
dải trũng như các rãnh sâu, thung lũng, sông suối. Xâm thực theo dòng chia
làm 2 loại là xâm thực sâu và xâm thực ngang.
1.1. Các quá trình xói mòn đất
Các quá trình xói mòn gồm: Xói lở sông suối và xói mòn, rửa trôi bề
mặt.
* Xói lở sông suối
Quá trình xói lở sông suối được xác định theo công thức về động năng
của dòng chảy [10].
F
mv 2
2
Trong đó:
F: là động năng của khối nước chảy
m: là khối lượng nước chảy
v: là vận tốc dòng chảy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Hoàng Viết Thảo
Quản lý đất đai
5
* Xói mòn và rửa trôi bề mặt
270 - 320C, lượng mưa trung bình là 300 - 500 mm chiếm 50 - 70% lượng
mưa cả năm. Đây là mùa thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển cây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Hoàng Viết Thảo
6
Quản lý đất đai
trồng và đàn gia súc. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, nhiệt độ trung bình là
170 - 210C có lúc xuống thấp đến 120C.
Như vậy, do tổng lượng mưa và tính chất của mưa, thời gian và
cường độ của mưa cũng như tính liên tục của nó đã tạo nên hiện tượng xói
mòn do dòng chảy bề mặt. Ngoài mưa ảnh hưởng trực tiếp tới xói mòn,
các yếu tố khí hậu khác như gió cũng có những ảnh hưởng gián tiếp đến
quá trình xói mòn đất.
1.2.2. Ảnh hưởng của địa hình, địa mạo
Võ Nhai có địa hình khá phức tạp, đồi núi là chủ yếu, đất ruộng ít, phần
lớn diện tích là đồi núi dốc và núi đá vôi chiếm đến 92% còn lại là diện tích
bằng phẳng cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, tập trung theo các khe
suối, các triền sông và các thung lũng, độ cao trung bình 100 - 800m so với
mặt nước biển.
Địa hình là nhân tố tự nhiên ảnh hưởng lớn đến xói mòn đất. Nếu xét
trên diện rộng, địa hình có tác dụng làm thay đổi sự phân bố nhiệt và lượng
mưa rơi xuống. Sự thay đổi về độ cao kéo theo sự thay đổi về nhiệt độ, lượng
mưa, ẩm độ. Các yếu tố địa hình như độ dốc, chiều dài sườn dốc, hình dạng
của đất ảnh hưởng đến xói mòn đất là thành phần cơ giới, cấu trúc và độ thấm
đất cũng như hàm lượng mùn trong đất. Những yếu tố đó ảnh hưởng đến khả
năng hình thành dòng chảy khi mưa rào.
1.2.5. Ảnh hưởng của con người
Con người ảnh hưởng trực tiếp đến xói mòn đất thông qua hoạt động
sống. Việc phá rừng đã gián tiếp đẩy mạnh quá trình xói mòn đất. Những diện
tích rừng mất đi làm lộ ra những khoảng trống không có thảm thực vật che
phủ đất. Khi mưa xuống quá trình xói mòn bề mặt xảy ra mạnh.
Canh tác trên đất dốc không khoa học, du canh du cư cũng là những tác
nhân gia tăng xói mòn đất. Trên độ dốc < 30 đã bắt đầu xảy ra xói mòn khi có
mưa to. Từ độ dốc 30 trở lên, tuỳ vào yếu tố đất đai, thực vật, lượng mưa v.v...
mà quá trình xói mòn xảy ra mạnh hay yếu [7].
2. Nghiên cứu xói mòn đất trên thế giới và ở Việt Nam
2.1. Tình hình nghiên cứu xói mòn đất trên thế giới
2.1.1. Nghiên cứu xói mòn đất ở Liên Xô (cũ)
Nghiên cứu xói mòn đất do mưa và do tuyết tan được nhà bác học Nga
M.B.Lômônôxốp (các năm 1751, 1753, 1763) đặt nền móng đầu tiên và chú
ý nhiều đến nhiệm vụ bảo vệ đất khỏi xói mòn. Sau đó là công trình của
P.A.Kostưtrep (năm 1886), N.A. Xocolop (năm 1884), v.v…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Hoàng Viết Thảo
8
Quản lý đất đai
Hoàng Viết Thảo
9
Quản lý đất đai
tộc. Trong thập niên gần đây giá trị tổn thất của tài nguyên đất và nguồn nước
đạt tới 4 tỉ đôla trong một năm, chưa kể đến những thiệt hại do mất chất dinh
dưỡng vì xói mòn đất. Thiệt hại do xói mòn đất được đánh giá đến 500 triệu đôla
một năm.
Do mất rừng phòng hộ nên ở Mỹ người ta đã đề ra những biện pháp cơ
bản để chống xói mòn do nước và do gió có hiệu quả. Những giải rừng trồng
khẩn cấp phòng hộ cho đồng ruộng đã được soạn thảo nhằm mục đích này.
Các phương tiện để thực hiện đồ án đó đã được tách ra khỏi cái được gọi là
“Nguồn hỗ trợ”. Các dải rừng được thành lập chủ yếu ở hai dạng đối xứng và
không đối xứng. Ở các dải đối xứng người ta trồng cây có chiều cao lớn ở các
dãy giữa, còn ở các dãy hai bên thì trồng các cây thấp hơn và cây bụi. Ở kết
cấu không đối xứng, số lượng lặp được giảm bớt, nguyên tắc bố trí cây như
sau: các giống chậm phát triển và sống lâu được bố trí ở một nửa dải rừng, còn
loại phát triển nhanh thì phân bố ở nửa dải rừng còn lại.
Ở Mỹ đã khởi thảo các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp và cải tạo đất
lâm nghiệp bằng đồng cỏ để chống xói mòn đất. Tất cả các biện pháp này
(cày vòng theo đường đồng mức, gieo cách dải các loại cây nông nghiệp, bố
trí các rãnh và các kênh dẫn nước dọc theo đường đồng mức để ngăn dòng
chảy trên mặt, phủ đất làm ruộng bậc thang các sườn dốc, cày hốc, cày không
lật vỉa, bón phân khoáng, san các mương xói, v.v…) đều nhằm giảm dòng
chảy của nước trên mặt đất, giảm tốc độ của gió, tạo một lớp phủ ổn định và
bằng cày lật vỉa, người ta bắt đầu áp dụng máy xới cắt phẳng, máy xới lưỡi
nặng và cày ngả rạ loại đĩa, khi làm đất chúng sẽ trừ lại gốc không bị cày lên,
tiêu diệt được cỏ dại và tích trữ được độ ẩm cho đất. Ở đây tất cả mọi biện
pháp làm đất cũng như việc gieo cây nông nghiệp đều theo nguyên tắc là tiến
hành theo phương trực giao với các ngọn gió ưu thế.
Trong cuộc đấu tranh chống xói mòn do gió người ta áp dụng việc cày
cấy theo dải và vòng khoanh với các giải gieo trồng có chiều rộng từ 40 200m. Xen kẽ với các dải bỏ hoang, ở đó người ta giữ lại rạ cho đến khi xuất
hiện cây non ở dải bên cạnh. Một biện pháp triệt để nhất chống xói mòn do
gió và nước được phổ biến rộng rãi là việc gây rừng phòng hộ. Các dải rừng
phòng hộ thường được bố trí theo ranh giới đất quanh nhà [10].
2.1.4. Nghiên cứu xói mòn đất ở Pháp
Nước Pháp có khoảng 30% lãnh thổ là núi và miền cao, miền Bắc và
miền Tây là những miền đất thấp, rộng lớn. Đặc trưng của địa hình nơi đây là
đồi núi, miền đất cao và cao nguyên có độ mấp mô lớn, ổn định chống xói
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....
data error !!! can't not
read....