MỤC LỤC
1
A.
MỞ ĐẦU
Mỗi con người trên thế giới này ai sinh ra và lớn lên cũng phải trải qua
sinh, lão, bệnh, tử thì mới có thể được trải nghiệm được trọn vẹn một cuộc đời.
Nếu thiếu đi một thứ thì cuộc sống chưa được trọn vẹn và cũng chưa nếm được
hương vị đầy đủ của cuộc sống. Trong cuộc sống đó, không bao giờ chúng ta có
thể tồn tại một cách độc lập và không có sự gắn kết với một ai cả hay nói cách
khác là chúng ta không sống một mình. Lúc nhỏ chúng ta sống với cha mẹ, ông
bà, chúng ta có bạn bè chơi chung chúng ta gắn kết với bạn bè. Những mối quan
hệ mà chúng ta thiết lập luôn tỉ lệ thuận với thời gian, thời gian trôi qua càng
nhiều thì các mối quan hệ đó được xác lập ngày càng nhiều. Và sự gắn kết giữa
chúng ta và các chủ thể khác trong mối quan hệ đó tùy theo những mối quan hệ
đó là gì mà chúng mang một tính chất khác nhau. Nhưng có một điều đặc biệt
rằng đa số chúng ta khi đến độ tuổi trưởng thành sẽ xác lập một mối quan hệ có
tính chất đặc biệt được gọi là hôn nhân.
Khi quan hệ hôn nhân được xác lập sẽ làm nảy sinh rất nhiều điều ý nghĩa,
bởi vì hôn nhân chính là nền tảng của việc hình thành nên gia đình. Mà bản chất
cấu tạo của xã hội chính là gia đình, gia đình là một xã hội thu nhỏ và gia đình
chính là tế bào để hình thành nên xã hội. Gia đình được hình thành nên từ nền
tảng hôn nhân và hôn nhân phát sinh sau khi có mội sự kiện được gọi là “kết
hôn”. Kết hôn là việc thường tình của nam nữ khi đến độ tuổi nhất định từ thời
xa xưa đến giờ. Minh chứng là ngay từ xa xưa ông bà ta đã có câu tục ngữ: “trai
lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng”. Và ngày nay, kết hôn được xem là quyền thiêng
liêng của mỗi cá nhân và được quy định tại điều 36 Hiến pháp năm 2013. Nhưng
sau khi thực hiện các quy định của pháp luật về kết hôn tại cơ quan đăng ký kết
hôn nhằm chung sống với nhau và xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc.
Nói một cách ngắn gọn thì hôn nhân được hiểu là sự liên kết giữa nam và nữ
trong quan hệ vợ chồng. Sự liên kết này không phải chỉ là việc riêng tư giữa hai
cá thể mà nó còn là mối quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Do đó mà hôn nhân
trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật của các quốc gia trên thế giới.
Theo sự giải thích từ ngữ của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì
“Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định
của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” 1. Nếu hiểu một cách dầy
đủ thì kết hôn là sự kiện pháp lý được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền nhằm xác lập quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ, khi hai bên nam nữ tuân
thủ quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
II. ĐIỀU
KIỆN KẾT HÔN
Điều kiện kết hôn trước hết được hiểu là những điều kiện đã được luật
định, khi đảm bảo được những điều kiện đó thì nam nữ mới được đăng ký kết
hôn và việc kết hôn của nam và nữ mới được nhà nước công nhận và bảo vệ.
Điều kiện kết hôn được pháp luật quy tại điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 và được quy định tại điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
1.
Tuổi kết hôn
Tuổi kết hôn có thể được hiểu là một độ tuổi mà khi một người đạt đến độ
tuổi đó thì được phép lấy vợ/chồng và nếu đạt đọ tuổi đó thì mới được đăng ký
kết hôn, lúc đó hôn nhân mới được thừa nhận là hợp pháp. Độ tuổi kết hôn ở
mỗi nước được quy định khác nhau và ngay cả bản thân nước ta mỗi thời kỳ hác
quyền đăng ký kết hôn.
Sở dĩ pháp luật có quy định khác nhau về độ tuổi kết hôn giữa nam và nữ
đều xuất phát từ các nghiên cứu khoa học. Mục đích chính của việc quy định độ
tuổi kết hôn tối thiểu ở đây là để đảm bảo sức khỏe cho nam và nữ, đồng thời
bảo đảm cho họ có đủ khả năng nhận thức để thực hiện trách nhiệm làm cha,
làm mẹ, làm vợ, làm chồng của mình, đảm bảo cho cuộc sống của gia đình được
5
ấm no, hạnh phúc, bền vững. Ngoài ra việc quy định độ tuổi tối thiểu trong việc
kết hôn còn nhằm đảm bảo cho con cái của vợ chồng sinh ra được khỏe mạnh và
phát triển tốt cả về thể chất lẫn trí tuệ. Bên cạnh đó việc quy định độ tuổi kết hôn
tối thiểu của nữ giới là từ đủ 18 tuổi để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp
của người vợ sau khi kết hôn (quyền yêu cầu ly hôn, quyền tự quyết định các
vấn đề liên quan đến bản thân,…).
Pháp luật nước ta có quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu nhưng lại luật
không có quy định độ tuổi tối đa trong việc kết hôn và cũng như không quy định
về độ tuổi chênh lệch giữa vợ và chồng khi kết hôn.
Tuổi kết hôn được quy định dựa trên những căn cứ về phát triển tâm sinh
lý, về khả năng nhận thức, khả năng lao động và duy trì cuộc sống, điều kiện
kinh tế, xã hội. Theo đó mỗi quốc gia thường dựa trên sự phát triển tâm sinh lý
của công dân nước mình cũng như điều kiện phát triển kinh tế xã hội mà đưa ra
quy định cụ thể về độ tuổi kết hôn. Vì có sự khác nhau về các điều kiện trên
giữa các quốc gia mà có sự khác nhau về độ tuổi kết hôn tối thiểu giữa các quốc
gia đó. Ví du như ở Trung Quốc thì độ tuổi kết hôn là nam 22 tuổi, nữ 20 tuổi;
Thụy Sĩ nam là 17 tuổi, nữ là 16 tuổi; Indonexia: nữ là 16 tuổi, nam là19 tuổi…
Như vậy việc quy định của pháp luật về độ tuổi kết hôn là rất quan trọng
và có ý nghĩa to lớn trong việc xác lập quan hệ hôn nhân.
2.
liệt và làm cho người bị cưỡng ép không có sự lựa chọn nào khác phải kết hôn
trái với ý muốn của họ. Do đó nếu một người bị đe dọa nhưng không có căn cứ
để sự đe dọa đó xả ra hoặc một người do bị dụ dỗ mà đã đồng ý kết hôn thì
không được coi là cưỡng ép kết hôn.
Lừa dối kết hôn là một trong hai người đã có hành vi để che đậy sự thật về
nhân cách hoặc lý lịch tư pháp đặc biệt xấu, làm cho người kia lầm tưởng và kết
hôn với mình. Chỉ khi người kết hôn có hành động hoặc lời nói để che giấu sự
thật về nhân cách hoặc lý lịch tư pháp đặc biệt xấu thì mới được xem là lừa dối
để kết hôn. Các trường hợp người kết hôn nói sai sự thật về vị trí công tác, về
thu nhập của bản thân, về tài sản của gia đình mình,… thì vẫn không bị coi là
lừa dối kết hôn.
7
Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu
sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều
kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Ở đây hành vi cản trở là hành vi của
một bên thứ ba nhằm mục đích không cho nam nữ được thực hiện nguyện vọng
kết hôn của mình.
Bên cạnh đó pháp luật cũng đòi hỏi việc kết hôn phải do chính người kết hôn
quyết định trên cơ sở mong muốn kết hôn của họ. Chính vì thế mà pháp luật
cũng không cho phép cử người đại diện trong kết hôn. Vì lý do trên mà những
người bị mất năng lực hành vi dân sự thì không được kết hôn, do không xác định
được sự tự nguyện của họ nên.
Chính vì vậy mà pháp luật đòi hỏi việc kết hôn phải xuất phát từ sự tự
nguyện của hai bên kết hôn. Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhằm
đảm bảo hạnh phúc, sự tồn tại lâu dài của gia đình và để bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của các bên khi kết hôn.
3.
nhiệm và nghĩa vụ của mình phát sinh do việc kết hôn. Nếu cho họ được phép
kết hôn thì sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của vợ hoặc chồng họ
và của con cái họ. Mặt khác nếu một người mất năng lực hành vi dân sự mà kết
hôn thì việc kết hôn của họ không thể nào mà xác định được là họ có tự nguyện
kết hôn hay không. Bởi vì họ không có khả năng nhận thức, không có khả năng
là chủ hành vi của mình thì sự thể hiện mong muốn tự nguyện kết hôn của họ
cũng là bất khả thi. Chính vì thế mà người mất năng lực hành vi dân sự không
thể kết hôn.
Nhưng trong thực tế vẫn tồn tại nhiều trường hợp người mất năng lực
hành vi dân sự nhưng vẫn chưa bị tòa án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân
sự do chưa có yêu cầu tuyên người đó mất năng lực hành vi dân sự từ những bên
có liên quan. Như vậy khi có người tự nguyện kết hôn với này này thì phải giả
quyết việc này như thế nào? Xét về mặt lý luận thì không thể chấp nhận yêu cầu
đăng ký kết hôn trong trường hợp này. Vì người mất năng lực hành vi dân sự
không thể thể hiện ý chí của mình đối với sự tự nguyện kết hôn nên họ không đủ
điều kiện để được kết hôn.
9
Những đạo luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986 và 2000 đều cấm
người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn. Nhưng Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014 thì không cấm họ kết hôn mà chỉ xem là họ không có đủ điều kiện để
được kết hôn nhằm tránh gây tâm lý nặng nề cho những người thân của người bị
mất năng lực hành vi dân sự.
4.
Việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm kết hôn
Theo quy định tại điểm d khoản 1 điều 8 và khoản 2 điều 5 Luật Hôn
việc kết hôn giả tạo thuộc trường hợp cấm kết hôn. Để giải quyết thiếu sót trên
thì trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định kết hôn giả tạo là
một trong những trường hợp cấm kết hôn tại được quy dịnh tại điều 8 của luật
này.
Như vậy khi tiến hành đăng ký kết hôn cho hai bên nam nữ đăng ký kết
hôn mà cơ quan đăng ký kết hôn có cơ sở để cho rằng việc kết hôn đó là giả tạo
nhằm mục đích khác ngoài mục đích xây dựng gia đình thì có quyền từ chối
đăng ký kết hôn cho họ. Và theo quy định tại điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014 thì đối với những trường hợp đã đăng ký kết hôn mà có cơ sở cho
rằng việc kết hôn trên là giả tạo, thì theo yêu cầu của những người có quyền tòa
án sẽ hủy việc kết hôn trái pháp luật trên.
b.
Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hôn
Hôn nhân một vợ một chồng là nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân
gia đình của Việt Nam và được ghi nhận tại khoản 1 điều 2 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014. Để đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc này cần phải có quy
định cụ thể nhằm xóa bỏ chế độ đa thê đã tồn tại trước đó. Kể từ khi ra đời Luật
Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã công nhận nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng và quy định về cấm kết hôn đối với những người đang có vợ hoặc có
chồng.
Người đang có vợ hoặc có chồng được hiểu là những người đã kết hôn với
một người khác theo đúng quy định của pháp luật mà quan hệ của họ chưa chấm
dứt do một bên chết hoặc một bên do tòa án tuyên bố là đã chết hoặc do ly hôn.
Đối với trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày
11
12
vợ, có chồng trong Nam, tập kết ra Bắc lấy vợ hoặc lấy chồng khác thì đây là
trường hợp đặc biệt và quyền và lợi ích của tất cả các bên đều được pháp luật
bảo vệ.
Trong thực tế, hiện nay vẫn có nhiều trường hợp người đang có vợ hoặc
chồng chung sống như vợ chồng với người khác một cách công khai hoặc lén lút
và đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tan vỡ của một gia đình, gây
ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội. Luật Hôn nhân và gia đình có quy định cấm
người đang có vợ hoặc có chồng sống chung với người khác như vợ chồng
nhưng lại thiếu cơ chế giám xác và xử lý đối với các trường hợp vi phạm. Vì thế
cần có các biện pháp để xử lý các trường hợp trên.
c.
Cấm những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc những người có họ trong
phạm vi ba đời kết hôn với nhau
Quy định trên xuất phát từ kết quả nghiên cứu khoa học về huyết học và
khảo sát thực tế nhằm đảm bảo sức khỏe cho con của vợ chồng được sinh ra
khỏe mạnh không mắc phải các bệnh tật và dị dạng do quan hệ tính giao cận
huyết gây ra. Và nguyên tắc trên cũng xuất phát từ việc đảm bảo phong tục, tập
quán và thuần phong mỹ tục.
Theo sự giải thích từ ngữ tại khoản 17 điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014 thì “Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan
hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau”. Như vậy
theo quy định của pháp luật thì những trường hợp cấm kết hôn ở đây bao gồm:
cha, mẹ với con; ông bà với cháu nội, cháu ngoại; cụ với các chắt nội, chắt
ngoại,…
Và theo sự giải thích từ ngữ tại khoản 18 điều 3 Luật Hôn nhân và gia
Đối với vấn đề này chúng ta có thể thấy được rằng nhằm bắt kịp với thực
trạng của xã hội hiện tại thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy định
khác với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về vấn đề giới tính của hai người
kết hôn. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã không còn quy định “cấm” hai
người có cùng giới tính kết hôn mà thay vào đó là việc nhà nước “không thừa
nhận” hôn nhân giữa những người có cùng giới tính.
Quy định không cấm kết hôn giữa những người đồng giới này xuất phát
từ quan điểm: kết hôn là quyền tự do cơ bản của công dân, là một trong các
quyền cơ bản của con người, công dân có quyền lựa chọn kiểu hôn nhân phù
hợp với mình pháp luật tôn trọng và bảo vệ các quyền đó. Việc Nhà nước không
14
thừa nhận hôn nhân giữa những người đông giới xuất phát từ chức năng duy trì
nòi giống của hôn nhân và xuất phát từ việc nếu công nhận hôn nhân đồng giới
cũng có nghĩa nhà nước đã trao quyền cho họ, việc đó buộc nhà nước phải có
những chính sách để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của họ, cũng như có
những sự điều chỉnh trong những quy định của pháp luật nước mình cho phù
hợp với việc coong nhận và việc này sẽ gây ra một sự xáo trộn rất lớn. Chính vì
các lý do trên mà nước ta không cấm cũng như không công nhận hôn nhân giữa
những người cùng giới tính.
Vì vậy, khi hai người cùng giới tính yêu cầu đăng ký kết hôn thì cơ quan
đăng ký kết hôn sẽ từ chối đăng ký. Trong trường hợp hai người cùng giới
chung sống như vợ chồng nhưng sau đó chấm dứt việc chung sống, nếu có tranh
chấp về tài sản thì giải quyết như đối với các trường hợp nam nữ chung sống
như vợ chồng.
Trên thế giới hiện nay có một số quốc gia đã thừa nhận việc kết hôn đồng
giới như Hà Lan, Thụy Điển, Na Uy, Bỉ, Thụy Sỹ, Canada,… Hiện nay các nước
có xu hướng thừa nhận hon nhân đồng giới có xu hướng ngày càng tăng.
D.
4.
Nghị quyết số 35/2000/NQ/QH10, ngày 9/6/2000, của quốc hội khóa X về việc
thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.
16