TRNG I HC S PHM H NI
KHOA GIO DC MM NON
TRN TH LN
Sử DụNG BàI HáT CHO TRẻ 4- 5 TUổI LàM QUEN
VớI TIếNG ANH ở TRƯờNG MầM NON XUÂN LA, TÂY Hồ, Hà NộI
KHO LUN TT NGHIP H I HC CHNH QUY
NGNH GIO DC MM NON
Ngi hng dn: PGS. TS. Hong Quý Tnh
H Ni, 2017
LI CM N
1
Tác giả xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô khoa Giáo dục Mầm
non, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ, hướng
dẫn tác giả trong suốt 4 năm học vừa qua.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Quý Tỉnh,
người thầy tâm huyết đã luôn quan tâm và tận tình giúp đỡ hướng dẫn tác giả
trong suốt thời gian tác giả thực hiện đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng các cô, các cháu lớp Mẫu
giáo nhỡ (4-5 tuổi) B3 trường mầm non Xuân La đã tận tình giúp đỡ, tạo điều
kiện giúp tác giả hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn
bên cạnh động viên, khích lệ, là chỗ dựa tinh thần vững chắc giúp tác giả thực
hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận
MĐCT
MĐKT
SD
TA
TC1
TC2
TC3
TC4
TN
: Biện pháp
: Đào tạo
: Đối chứng
: Giáo dục
: Giáo viên
: Giáo viên mầm non
: Hoạt động
: Hình thức
: Khả thi
: Làm quen với tiếng Anh
: Mầm non
: Mức độ cần thiết
: Mức độ khả thi
: Sử dụng
: Tiếng Anh
: Tiêu chí 1
: Tiêu chí 2
: Tiêu chí 3
: Tiêu chí 4
: Thực nghiệm
trong những yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả và chất lượng làm
quen tiếng Anh của trẻ [11].
Sử dụng các bài hát để cho trẻ làm quen với tiếng Anh là một phương
pháp độc đáo, phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý của trẻ mầm non, đặc biệt
là trẻ 4-5 tuổi. Phương pháp này được đánh giá cao về tính hiệu quả bởi nó góp
phần vào việc giúp trẻ tăng cường khả năng ghi nhớ và có hiệu quả lâu dài. Đặc
điểm của bài hát tiếng Anh đó là giai điệu vui nhộn, ca từ đơn giản, dễ nhớ vì
có sự lặp đi lặp lại về giai điệu, từ ngữ và mục đích giáo dục của giáo viên.
Một số bài hát có sự kết hợp vận động và biểu cảm bằng cử chỉ nét mặt tạo cơ
5
hội cho trẻ trải nghiệm bằng nhiều giác quan của cơ thể, giúp trẻ khắc sâu nội
dung kiến thức cần nhớ. Với giai điệu vui nhộn, trẻ dễ dàng bị lôi cuốn vào bài
hát, thử hát theo. Khi trẻ hát, song song với quá trình ghi nhớ lời bài hát, trẻ có
cơ hội học, luyện phát âm từ mới, cấu trúc câu mới một cách tự nhiên, dễ dàng.
Đồng thời việc thích thú với âm điệu của bài hát cũng giúp phát triển tai nghe
và cải thiện bộ máy phát âm giúp trẻ nói tiếng Anh có trọng âm và ngữ điệu
một cách tự nhiên [2].
Chính vì những lý do đó, tôi quyết định chọn đề tài “Sử dụng bài hát
cho trẻ 4- 5 tuổi làm quen với tiếng Anh ở trường mầm non Xuân La, Tây
Hồ, Hà Nội ”
2.
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về việc sử dụng bài hát trong
hoạt động cho trẻ từ 4 đến 5 tuổi làm quen với tiếng Anh, qua đó:
Chỉ ra thực trạng trẻ 4-5 tuổi làm quen với tiếng Anh ở trường mầm
non Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội.
Đề xuất một số biện pháp sử dụng bài hát cho trẻ 4-5 tuổi làm quen với
nhằm giúp trẻ 4-5 tuổi làm quen với tiếng Anh.
Tổ chức thực nghiệm và kiểm tra tính khả thi của các biện pháp.
Xử lí kết quả nghiên cứu.
6.
Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu việc sử dụng bài hát trong việc cho trẻ từ 4 đến 5 tuổi làm
quen với tiếng Anh ở trường mầm non.
6.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Địa điểm dự kiến: Trường mầm non Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội.
6.3. Khách thể nghiên cứu
Tiến hành trên 40 trẻ từ 4-5 tuổi và 20 giáo viên ở trường mầm non
Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội.
7.
Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
7.1.1. Phương pháp so sánh
Tìm và thu thập tài liệu các công trình nghiên cứu đi trước. Đọc và so
sánh các quan điểm, cách làm của họ để phân tích, tổng hợp hệ thống lại, có
cái nhìn khái quát về đề tài nghiên cứu.
7.1.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Thu thập tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu, phân tích các công
trình nghiên cứu đi trước, tổng hợp đưa ra quan điểm của bản thân.
- Xây dựng hệ thống khái niệm công cụ, xây dựng khung lý thuyết,
7.1.3. Phương pháp hệ thống
- Thu thập, đọc các tài liệu lí thuyết, phân loại sắp xếp chúng thành hệ
thống qua điểm, luận cứ.
khảo sát thực trạng.
-
Công thức sử dụng để phân tích số liệu:
Điểm trung bình:
=
Phương sai:
=
Độ lệch chuẩn:
S=
8. Cấu trúc đề tài
Chương 1. Cơ sở lí luận của việc sử dụng bài hát giúp trẻ 4-5 tuổi làm
8
quen với tiếng Anh ở trường mầm non
Chương 2. Thực trạng sử dụng bài hát giúp trẻ 4-5 tuổi làm quen với
tiếng Anh ở trường mầm non
Chương 3. Đề xuất một số biện pháp sử dụng bài hát giúp trẻ 4-5 tuổi
làm quen với tiếng Anh ở trường mầm non
9
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BÀI HÁT GIÚP TRẺ 4-5 TUỔI
LÀM QUEN VỚI TIẾNG ANH
1. 1. Vài nét lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những công trình nghiên cứu trên Thế giới về sự tiếp nhận ngôn
ngữ của trẻ
truyền từ đời này qua đời khác. Trẻ em dùng năng lực bẩm sinh về ngôn ngữ
này để học ngôn ngữ, cụ thể: Nghe - nói - viết - các quy tắc từ vựng, ngữ
pháp. Đứa trẻ hình thành một ngôn ngữ qua quá trình tiếp nhận, học tập, sáng
tạo, nhờ năng lực bẩm sinh ngôn ngữ. Trẻ bắt chước và lặp lại theo lời người
lớn, tự ghép nối những từ đơn theo những quy tắc chúng cảm nhận được khi
nghe người xung quanh nói và tự điều chỉnh, rút kinh nghiệm theo chỉ bảo
của người lớn cho đúng với tình huống giao tiếp. Sau năm năm đầu đời trẻ vô
thức tiếp nhận được cơ cấu tiếng mẹ đẻ bằng năng lực bẩm sinh ngôn ngữ và
năng lực này vẫn được trẻ dùng để tiếp nhận một ngoại ngữ khác. Chính nhờ
khả năng này mà trẻ có thể học được bất kỳ ngoại ngữ nào tùy theo điều kiện,
hoàn cảnh, môi trường [13].
Trong lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ, Stephen D.Krashen (1941) kết luận
rằng con người có khả năng học ngôn ngữ bẩm sinh và không có khác biệt
đáng kể nào giữa cách chúng ta học tiếng mẹ đẻ và cách chúng ta học ngoại
ngữ. Cách học ngoại ngữ hiệu quả theo Krashen có thể được tóm tắt như sau:
Chúng ta phát triển ngôn ngữ thông qua quá trình thụ đắc trực tiếp, không
phải từ việc học thuộc danh sách từ vựng, quy tắc văn phạm hay làm bài tập.
Hiệu quả thụ đắc trực tiếp diễn ra khi ta có thể hiểu được nội dung mà ta tiếp
nhận trong trạng thái tinh thần thoải mái. Để kết quả thụ đắc trực tiếp biến
thành năng lực ngôn ngữ thì quá trình tích lũy phải dài và nội dung tiếp nhận
phải đa dạng và đủ nhiều [4].
1.1.1.3. Xu hướng 3. Tiếp nhận ngôn ngữ là sự trả lời các phản xạ
Paplop đã nghiên cứu rất nhiều về vấn đề kích thích (Stimulate- S)
và phản xạ (Reflection- R) trong cuộc sống. Sự trả lời các kích thích khi tác
11
động vào con người tạo nên những phản xạ với công thức S-> R. Mọi hoạt
động của con người là sự trả lời các phản ứng nhằm giúp người thích nghi
với môi trường [4]
tư duy hay nhận thức của một đứa trẻ như sau: Ngôn ngữ và nhận thức cùng
phát triển nhưng có khi một khả năng nào đó của nhận thức phát triển trước
một khả năng ngôn ngữ. R.Ellis (1994) có nhận định đáng chú ý là nếu trẻ
được tiếp xúc với phát âm chuẩn, độ tuổi mà trẻ có thể đạt được phát âm
giống như người bản ngữ là 6 tuổi. Ngoài độ tuổi dậy thì (khoảng 9 tuổi trở
lên) thì trẻ khó có thể có được chất giọng giống người bản ngữ thực sự. Cùng
thống nhất với R.Ellis có Litllewood và Beverly A.Clark (2000) cho rằng trẻ
em không thể thụ đắc ngôn ngữ nếu chúng không được tiếp cận ngôn ngữ đó
trước 6-7 tuổi [4].
1.1.1.5. Xu hướng 5. Khả năng tiếp nhận ngoại ngữ của trẻ nhỏ là rất lớn
Các nhà khoa học trên thế giới đã nhận định rằng khả năng tiếp nhận
ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là rất lớn, tức là khi trẻ nhỏ tiếp
nhận tiếng Anh có rất nhiều thuận lợi so với người lớn. Thời thơ ấu chính là
thời gian lý tưởng để dạy trẻ học tiếng Anh. Trước khi biết nói, trẻ nhỏ học
tập, hình thành khái niệm, hiểu biết của mình bằng việc quan sát các hành vi,
lắng nghe những âm thanh xung quanh mình. Việc cho trẻ tiếp xúc với ngoại
ngữ thường xuyên sẽ giúp nuôi dưỡng và phát triển não bộ, nền tảng từ vựng
từ đó cũng dần được hình thành [13].
Theo tiến sỹ April Benasich – Cố vấn và giám đốc phòng thí nghiệm,
nghiên cứu trẻ sơ sinh tại trung tâm Hành vi và Khoa học Thần kinh, Đại học
Rutgers thì: “Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có kỹ năng học tập sớm đáng ngạc nhiên.
Bộ não của trẻ nhỏ được trang bị đặc biệt để xây dựng, tiếp cận một hoặc
nhiều ngôn ngữ ngay từ khi chào đời” [5].
Kết quả nghiên cứu về tiềm năng con người trên Thế giới và đặc biệt là
của nhà nghiên cứu não bộ nổi tiếng nước Mỹ Benjamin Bloom: “Nếu đến
năm 17 tuổi, trí tuệ của con người có thể phát triển 100% thì vào năm 4 tuổi,
trí tuệ của trẻ đã đạt đến 50%, đến năm 8 tuổi phát triển tới 80%, năm 8 tuổi
13
Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, trong đó phần IV Nhiệm vụ
và giải pháp đã đưa ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 có ít nhất 30% số
trường mầm non được tiếp cận với tin học, ngoại ngữ [9].
16
Bà Đỗ Ngọc Thiên Hương – Giám đốc trung tâm đào tâm đào tạo ngữ
âm và văn hóa giao tiếp PSC – số 23 Trần Duy Hưng – Trung Hòa – Cầu
Giấy – Hà Nội nghiên cứu về việc học ngôn ngữ là một phần của sự phát triển
của trẻ. PSC đã mở lớp học đầu tiên về ngữ âm cho trẻ ở Việt Nam, đây là
chương trình ngữ âm đầu tiên tại Việt Nam được thiết kế trên cơ sở giáo trình
quốc tế và nguồn học liệu mở hỗ trợ từ các trường Đại học danh tiếng của
nước ngoài và sự cố vấn của các chuyên gia bản ngữ, được áp dụng trong
phòng học đa phương tiện (video, project, labroom, .v.v.)
Tuy có nhiều nghiên cứu khác nhau nhưng đa số đều dựa trên những
nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài và đưa ra những nhận định về
việc có thể cho trẻ học ngôn ngữ thứ hai từ những năm đầu tiên của cuộc đời
bởi khả năng học ngôn ngữ của trẻ phát triển nhanh chóng khi lên 7 tuổi. Giai
đoạn này nếu trẻ được tiếp xúc với ngôn ngữ thứ hai một cách thường xuyên
trẻ có thể nói trôi chảy ngôn ngữ đó. Sau 7 tuổi, việc học ngôn ngữ thứ hai
thường theo kiểu dịch ra từ tiếng mẹ đẻ và có thể gặp rất nhiều khó khăn.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Sử dụng
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng: "Sử dụng" nghĩa là lấy cái gì đó
làm phương tiện để phục vụ nhu cầu, mục đích nào đó"
1.2.2. Bài hát và bài hát dành cho trẻ mẫu giáo
1.2.2.1. Bài hát
Theo từ điển bách khoa, Bài hát (các từ đồng nghĩa trong tiếng
Việt: bài ca, ca khúc hay khúc ca) thường là một sản phẩm âm nhạc, gồm
có phần lời hát và giai điệu.
hơn với trẻ thông qua các hoạt động vui chơi, học tập ở trường mầm non.
1.2.4. Từ vựng và từ vựng tiếng Anh
1.2.4.1. Từ vựng
Theo từ điển Tiếng Việt, "vựng" là yếu tố gốc Hán có nghĩa là cái kho,
nơi chứa. Từ vựng là kho từ, vốn từ của một ngôn ngữ gồm các từ và các đơn vị
tương đương với từ. Từ vựng của một ngôn ngữ thường có thể gồm nhiều trăm
nghìn từ.
18
1.2.4.2. Từ vựng tiếng Anh
Từ vựng tiếng Anh là kho từ, vốn từ của ngôn ngữ Anh. Theo thống kê,
số lượng từ vựng tiếng Anh khoảng hơn một triệu từ, tuy nhiên trên thực tế,
lượng từ tiếng Anh được sử dụng chủ yếu vào khoảng 20.000 từ.
1.3. Đặc điểm của trẻ 4-5 tuổi
1.3.1. Đặc điểm tâm - sinh lí
Cơ quan phát âm của con người có cấu tạo rất phức tạp. Trong đó,
thanh quản đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành lời nói. Lời nói
được tạo ra khi có luồng không khí thổi từ phổi lên, sự rung động của dây
thanh tác động lên cột không khí này, tạo nên âm thanh. Khi phát âm, dây
thanh đóng kín, hình dạng dây thanh có thể biến đổi lúc dày, lúc mỏng, khi
căng ít, khi căng nhiều, .v.v. tùy theo nhu cầu phát âm. Sự phát âm đúng có
liên quan chặt chẽ đến sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan phát âm của
trẻ đồng thời phụ thuộc vào sự hoàn thiện của bộ máy phát âm. Ở độ tuổi 4-5
tuổi, những điều kiện này đạt ở mức tương đối tốt. Trẻ có khả năng điều chỉnh
dây thanh âm tốt do dây thanh âm chưa bị cứng. Do đó, trẻ có khả năng phát
âm đúng, kể cả những phụ âm khó trong tiếng Anh nếu có sự luyện tập và rèn
luyện phù hợp.
Trẻ 4-5 tuổi cơ quan thính giác và cơ quan phát âm đang hoàn thiện.
Tai trẻ đặc biệt nhạy cảm với các loại âm thanh xung quanh, chúng tiếp nhận
Ngôn ngữ của trẻ mang tính chất hoàn cảnh, tình huống nghĩa là ngôn
ngữ của trẻ gắn liền với sự vật, hoàn cảnh, con người, hiện tượng đang xảy ra
trước mắt trẻ. Cuối 4 tuổi, ngôn ngữ của trẻ đã bắt đầu biết nối kết giữa tình
huống hiện tại với quá khứ thành một "văn cảnh". Vốn từ của trẻ tăng lên
không chỉ số lượng từ mà điều quan trọng là lĩnh hội được các cấu trúc ngữ
pháp đơn giản.
Mặt âm thanh của lời nói của trẻ 4-5 tuổi cũng nhanh chóng phát triển.
Trẻ lĩnh hội và phát âm đúng nhiều âm vị, phát âm từ, câu rõ nét hơn: Trẻ bắt
đầu biết điều chỉnh tốc độ, cường độ của giọng nói. Đã hình thành những cảm
xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu, âm tiết .v.v. Tuy nhiên dưới tác động
20
của cảm xúc trẻ có thể nghe nhầm, phát âm nhầm.
1.3.2.2. Vốn từ
Thứ nhất, nhờ có đặc điểm trực quan hành động và trực quan hình tượng
của tư duy nên trước hết trẻ nắm được các tên gọi của sự vật, hiện tượng mang
tính chất biểu tượng trực quan và phù hợp với hoạt động của chúng.
Thứ hai, sự lĩnh hội ngôn ngữ diễn ra dần dần. Thoạt đầu trẻ chỉ đối
chiếu từ với sự vật cụ thể (không có nghĩa khái quát, khám phá những thuộc
tính dấu hiệu bản chất, khái quát theo dấu hiệu nào đó), dần dần cùng với sự
phát triển tư duy trẻ mới nắm được nội dung khái niệm trong từ. Việc nắm
nghĩa của từ còn biến đổi trong suốt tuổi mẫu giáo.
Thứ ba, vốn từ của trẻ 4-5 tuổi có khối lượng nhỏ hơn rất nhiều so với số
lượng vốn từ của người lớn. Vì khối lượng tri thức của chúng còn quá hạn hẹp.
1.2.3.3. Ngữ pháp
Đặc điểm ngữ pháp trong lời nói của trẻ 4-5 tuổi: Cấu trúc C-V hạt
nhân là mô hình chủ yếu trong lời nói của trẻ: Chủ ngữ thường là danh từ, vị
ngữ thường là động từ, câu đơn mở rộng thành phần trạng ngữ chỉ thời gian, địa
điểm chiếm 20%, câu đơn đặc biệt, rút gọn thường xuyên xuất hiện.
âm của âm vị, tiếng, từ thì trẻ có thể nói tiếng Anh một cách dễ dàng. Đặc
điểm của tiếng Anh là một ngôn ngữ biến thể do đó về mặt âm tiết phát âm
tiếng Anh có rất nhiều hiện tượng gây khó khăn cho người học. Nghe có thể
là một kỹ năng khó nhất đối với người học ngoại ngữ nên điều kiện đầu tiên
cần quan tâm đến trong hoạt động tổ chức cho trẻ làm quen với tiếng Anh là
nghe và phát triển kỹ năng nghe.
22
Kỹ năng nói:
“Nói” luôn là kỹ năng thứ hai cần phát triển đối với bất kỳ một người
học ngoại ngữ nào. Từ khi sinh ra, trẻ đã được những âm thanh phát ra từ
tiếng nói của ông bà, cha mẹ, của những người xung quanh. Trẻ nghe đi nghe
lại rất nhiều lần và trẻ cố gắng bắt chước những âm thanh đó, lặp đi lặp lại
nhiều lần. Trẻ nói nhiều, nói mà không hiểu mình nói gì và cũng không cần ai
hiểu, trẻ có thể nói đúng, nói sai nhưng trẻ vẫn cố gắng lặp lại những âm
thanh đó một cách vô thức. Từ đó trẻ có thể nói thành thạo và dùng tiếng mẹ
đẻ như một phương tiện giao tiếp với mọi người. Làm quen với tiếng Anh
cũng vậy, trẻ có thể nói đúng, nói sai nhưng trẻ phải được nói và phải nói. Trẻ
có khả năng bắt chước rất tốt nên giáo viên cần là người phát âm tiếng Anh
chuẩn, tạo điều kiện cho trẻ được nói lặp đi lặp lại rất nhiều lần.
Kỹ năng đọc:
Trẻ 4-5 tuổi chưa học chữ viết nên “đọc” ở đây không phải đọc sách,
đọc báo mà là “đọc những âm tiết”, “đọc hình ảnh”. Trẻ không cầm sách để
đọc mà thông qua những tranh ảnh, trò chơi và bài hát tiếng Anh, trẻ đọc
những âm tiết xuất hiện trong hình ảnh, trò chơi đó. Trong tiếng Anh có rất
nhiều phụ âm có cách phát âm khác với tiếng Việt như: /p/, /d/, /t/, /k/, /l/ .v.v.
Những phụ âm này đòi hỏi người học cần có cơ quan phát âm hoàn thiện và
quá trình rèn luyện, tập luyện phát âm thường xuyên thì mới có thể phát âm
chuẩn được. Vì thế, trong quá trình làm quen với tiếng Anh trẻ 4-5 tuổi rất dễ
Bảng 1.1. Sự Khác biệt giữa tiếng Anh và Tiếng Việt
Tiếng Việt
Chữ cái
Nguyên âm
29
12
Đơn vị cơ bản
Phụ âm
Tiếng
17
24
Tiếng Anh
26
5
nguyên
âm
đơn
(/ɪ/,
/
e/,
/
æ/,
/
ʊ/,
/
- Phụ âm hoặc nguyên âm,
là phụ âm thường là âm khó
nghe
- Phụ âm, nguyên âm hoặc bán
âm:
6 phụ âm: m, n, p, k, t
3 bán âm: ua, ia , ưa
- Đơn vị cấu tạo từ là hình
vị
- Từ có ít nhất một chữ cái,
nhiều nhất có 7 chữ cái
- Trong một từ có tối đa 2
nguyên âm đứng liền nhau
- Không thay đổi hình thái ở
các ngôi
- Các từ khác nhau chỉ thêm
phụ tố
- Không có nội và ngoại
động từ
- Danh từ chung
- Danh từ riêng
- Danh từ chỉ tổng thể
- Danh từ đơn thể
- Danh từ loại thể
- Tính từ mô tả
- Tính từ giới hạn
- Tính từ thuộc tính
- Tính từ vị ngữ
- Tính từ độc lập
- Chỉ cách thức
- Tính từ mô tả
- Tính từ sở hữu
- Tính từ số mục
- Tính từ giới hạn
- Tính từ chỉ thị
- Tính từ nghi vấn
- Chỉ thể cách
- Chỉ thời gian
- Sự thường xuyên
- Chỉ nơi chốn
- Chỉ mức độ
- Nghi vấn
- Liên từ kết hợp
- Cặp liên từ: as... as, either....or,
neither.... nor, not only.... but