PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN kĩ NĂNG THẢO LUẬN NHÓM CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG THÔNG QUA dạy học PHẦN “CÔNG dân với đạo đức”ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG QUẾ võ số 1 TỈNH bắc NINH - Pdf 42

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
----&----

NGUYN TH KIM THOA

PHƯƠNG PHáP PHáT TRIểN Kĩ NĂNG THảO LUậN NHóM
CHO HọC SINH TRUNG HọC PHổ THÔNG
THÔNG QUA DạY HọC PHầN CÔNG DÂN VớI ĐạO ĐứC
ở TRƯờNG TRUNG HọC PHổ THÔNG QUế Võ Số 1 TỉNH BắC NINH
PHNG PHP PHT TRIN K NNG THO LUN NHểM
CHO HC SINH
TRUNG HC PH THễNG THễNG QUA DY HC PHN
CễNG DN VI O C
TRNG TRUNG HC PH THễNG QU Vế S 1 TNH
BC NINH
Chuyờn ngnh: Lớ lun v phng phỏp ging dy Giỏo dc chớnh tr
Mó s: 60.14.01.11

LUN VN THC S KHOA HC GIO DC


Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Như Hải

HÀ NỘI – 2014


LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn Nhà giáo
ưu tú PGS.TS Nguyễn Như Hải đã trực tiếp hướng dẫn tận tình chu đáo trong suốt
quá trình em làm đề tài luận văn tốt nghiệp.

Học sinh

PPDH:

Phương pháp dạy học

PTKNTLN: Phát triển kĩ năng thảo luận nhóm
THPT:

Trung học phổ thông


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC BIỂU ĐỒ


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh quốc tế được đặc trưng bởi xã hội
tri thức và toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng
đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục trong việc giáo dục thế hệ trẻ và đào
tạo đội ngũ nhân lực. Giáo dục cần đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng được
những đòi hỏi mới của xã hội và thị trường lao động, đặc biệt là năng lực hành động,
tính năng động, sáng tạo, tính tự lực và trách nhiệm cũng như năng lực cộng tác làm
việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp[13,3]. Để thực hiện được nhiệm vụ đó

điểm của từng lớp học, môn học; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo
được hứng thú học tập cho HS, tận dụng được công nghệ mới nhất; khắc phục
lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều các kiến thức có sẵn, phát huy cao
năng lực tự học, học suốt đời trong thời đại bùng nổ thông tin. Tăng cường học
tập cá thể phối hợp với hợp tác tập thể. Định hướng vào người học được coi là
quan điểm định hướng chung trong đổi mới PPDH [5,9].
Mục đích của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học
truyền thụ một chiều sang dạy học theo PPDH tích cực nhằm giúp HS phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần
hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và
trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập. Làm cho “Học” là quá
trình kiến tạo, tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự
hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, dạy
HS cách tìm ra chân lí. Chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác,
…) Dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học. Học để đáp ứng
yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai. Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho
bản thân HS và cho sự phát triển xã hội [5,10].
Môn GDCD có vai trò quan trọng trong việc phát triển tâm lực - một thành tố
cơ bản của nhân cách và là nội lực của sự phát triển nhân cách, góp phần quan trọng
vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng được đòi hỏi của thời kì công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại.
Đổi mới PPDH môn GDCD là việc sử dụng PPDH nhằm bồi dưỡng cho HS
năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên. Phải
cuốn hút HS vào các hoạt động học tập do GV thiết kế, tổ chức và hướng dẫn, qua
đó HS có thể tự khám phá và chiếm lĩnh nội dung bài học, HS sẽ hứng thú, thông

2


hiểu và ghi nhớ những gì các em nắm được qua hoạt động chủ động, tích cực của



Khổng Tử (551-479 TCN), nhà tư tưởng nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại, khi
truyền giảng tri thức cho học trò của mình, ông cho rằng: không tức giận vì muốn biết thì
không truyền mở cho; không tức giận vì nói không rõ ra được, thì không bày vẽ cho. Vật
có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa.
Như vậy, các nhà tư tưởng thời cổ đại đã đề cập đến việc làm thế nào để phát
huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS, không chấp nhận lối truyền thụ một chiều
trong quá trình dạy học.
Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu: Học thầy không tày học bạn, điều này cho
thấy lợi ích của việc học tập từ bạn bè. Qua đó chúng ta thấy, từ lâu cha ông ta đã có tư
tưởng về hình thành và phát triển kĩ năng thảo luận nhóm trong việc dạy học.
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX trên thế giới đã có nhiều nhà giáo dục
đề cập đến việc dạy học định hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của
người học. Nhà giáo dục Mĩ J. DeWay là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ
“Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” mà bản chất là khuyến khích tính tích
cực, tự giác, độc lập, sáng tạo của HS trong quá trình học tập để giải quyết
các nhiệm vụ học tập, mà thực chất là hình thành các kĩ năng cho người học
trong đó có kĩ năng thảo luận nhóm.
Trong những năm gần đây, lí luận về PPDH và đổi mới PPDH được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm. Có rất nhiều các tài liệu nghiên cứu về đổi mới PPDH nhằm phát
huy tính tích cực, chủ động của người học, hình thành và phát triển kĩ năng cho người
học đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội.
Trần Bá Hoành đã quán triệt quan điểm “Dạy học lấy học sinh làm trung
tâm” với đặc trưng cơ bản là: mọi hoạt động dạy học hướng vào phát triển tối đa
năng lực vốn có của người học, chú ý tới nhu cầu và hạnh phúc của người học.
Trong đó GV đóng vai trò là người trọng tài, cố vấn, người hướng dẫn, người tổ
chức, người kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của HS. HS là người tự tổ chức, tự
điều khiển, tự đánh giá hoạt động học tập của mình. Quan điểm dạy học lấy HS làm
trung tâm nhằm hình thành và phát triển cho HS các kĩ năng để đáp ứng yêu cầu của

3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Đề tài nghiên cứu cơ sở khoa học của phương pháp PTKNTLN để từ đó rút ra
các quy trình vận dụng phương pháp phát triển kĩ năng đó vào dạy học phần “Công dân
với đạo đức” cho HS ở trường THPT Quế Võ số 1 tỉnh Bắc Ninh, nhằm nâng cao hiệu
quả của quá trình dạy học ấy.

5


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học tích
cực để phát triển kĩ năng thảo luận nhóm cho học sinh qua phần “Công dân với đạo
đức” ở trường THPT Quế Võ số 1 - Bắc Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát lí luận và thực trạng của phương pháp PTKNTLN cho HS
thông qua việc dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT Quế Võ
số 1 - Bắc Ninh.
Thông qua hoạt động thực nghiệm sư phạm để rút ra quy trình và điều kiện để
dạy học phát triển kĩ năng thảo luận nhóm cho học sinh THPT.
5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
5.1. Những luận điểm cơ bản
Cơ sở khoa học của việc phát triển kĩ năng thảo luận nhóm trong dạy học môn
giáo dục công dân.
Áp dụng phương pháp phát triển kĩ năng thảo luận nhóm vào dạy học phần
“Công dân với đạo đức” ở trường THPT Quế võ số 1- Bắc Ninh.
Xây dựng quy trình và điều kiện thực hiện phương pháp phát triển kĩ năng thảo
luận nhóm cho học sinh THPT qua phần “ Công dân với đạo đức”.
5.2. Đóng góp mới của tác giả
- Về mặt lí luận

NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG THẢO
LUẬN NHÓM THÔNG QUA DẠY HỌC PHẦN
“CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”
1.1. Cơ sở lí luận của phương pháp phát triển kĩ năng thảo luận nhóm trong dạy
học phần”Công dân với đạo dức”
1.1.1. Phương pháp dạy học môn giáo dục công dân
- Phương pháp
Phương pháp là một thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hi lạp “Methodos” có nghĩa là
“con đường nghiên cứu” , “cách thức để đạt tới mục đích nào đó”. Phương pháp hiểu
theo nghĩa chung nhất, rộng nhất là cách thức hành động để đạt đến một mục đích nhất
định. Đó cũng là con đường mà người ta cần đi theo để hoàn thành mục đích đề ra.
Phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, giúp
con người nhận thức được hiện thực khách quan, nhận thức được thực tiễn. Tuy nhiên,
hiện thực khách quan và thực tiễn luôn vận động theo những quy luật vốn có của bản
thân và chịu sự tác động hợp quy luật của thế giới xung quanh. Do đó, phương pháp là
một trong những yếu tố quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động nhận thức
và cải tạo thế giới của con người[21,10].
Phương pháp là sự đúc rút kinh nghiệm, vừa là khoa học, đồng thời là nghệ
thuật, nó đòi hỏi tính sáng tạo và mang dấu ấn của chủ thể sử dụng phương pháp.
Trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người đều cần đến phương pháp.
- Phương pháp dạy học
Dạy học là một quá trình xử lí, chuyển giao thông tin tri thức của người dạy và
quá trình thu nhận, xử lí thông tin của người học. Để quá trình dạy học đạt hiệu quả đòi
hỏi phải có phương pháp dạy học thích hợp. Theo các nhà giáo dục học: PPDH là cách
thức tổ chức hoạt động, phối hợp thống nhất GV và HS trong quá trình dạy học được
tiến hành dưới vai trò chủ đạo của GV nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ
dạy học. Do đó, PPDH bao gồm cả phương pháp giảng dạy và phương pháp học tập.


cho từng HS biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng
đồng, thực hiện thầy chủ đạo, trò chủ động: “Hoạt động làm cho lớp học ồn ào hơn,
nhưng là sự ồn ào hiệu quả”[5,10].

9


+ Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của HS.
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không
chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học. Trong
xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh, với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công
nghệ phát triển như vũ bão, thì không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối lượng kiến thức
ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ cấp Tiểu học và
càng lên cấp học cao hơn càng phải được chú trọng.
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện
được cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ
tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học
tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động
trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự
học chủ động, đặt vấn đề tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở
nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV.
+ Dạy học phân hoá kết hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều
tuyệt đối thì khi áp dụng PPDH tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường
độ, mức độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế
thành một chuỗi hoạt động độc lập.
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được
hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp
thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường
chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi

mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của GV.
+ Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của bạn và tự đánh giá
Hoạt động đánh giá đa dạng: đánh giá chính thức và không chính thức; đánh
giá bằng định tính và định lượng; đánh giá bằng kết quả và bằng biểu lộ thái độ tình cảm; đánh giá thông qua sản phẩm được giới thiệu và định hướng phát triển các
mối quan hệ xã hội.
Đối với bất cứ cấp học nào và với GV nào thì vấn đề PPDH luôn là vấn đề quan
tâm, ưu tiên lớn nhất vì nó quyết định chất lượng dạy học. PPDH tốt sẽ đạt hiệu quả
cao trong việc truyền đạt tri thức, phương pháp “tồi” sẽ khiến HS thiếu tập trung, thiếu
hứng thú trong học tập.

11


- Phương pháp dạy học môn GDCD
Với tư cách là một khoa học, PPDH GDCD được xem là một bộ phận cấu thành
của khoa học giáo dục, là một hệ thống lí thuyết và kĩ năng cơ bản để tổ chức quá trình
dạy học môn GDCD ở trường trung học.
PPDH GDCD là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của GV và HS nhằm
phát hiện những quy luật của quá trình dạy học môn GDCD, xây dựng hệ thống các
nguyên tắc, hình thức và PPDH cụ thể để tổ chức thành công hoạt động dạy học môn
GDCD ở trường trung học [21,20].
Định hướng đổi mới PPDH môn GDCD là phải phát huy được tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình dạy học. HS cần phải tích cực hoạt
động để tự phát hiện và chiếm lĩnh các tri thức, kĩ năng mới, hình thành thái độ tích cực
dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của GV.
- Một số cách tiếp cận PPDH GDCD:
+ Cách tiếp cận hoạt động
Hoạt động là phương thức sống của con người. Chính thông qua hoạt động mà
các kinh nghiệm lịch sử - xã hội được truyền đạt và lĩnh hội, nhân cách được hình
thành và phát triển. Vì vậy, quá trình dạy học môn GDCD là quá trình tổ chức cho HS

Trong phần lớn cách dạy học truyền thống, GV giữ vị trí trung tâm của quá
trình dạy học: GV nói, GV hỏi, GV viết trên bảng hay sử dụng một số phương tiện
nghe nhìn phục vụ cho công tác giảng dạy; HS theo dõi và lắng nghe những gì GV nói,
trả lời những câu hỏi của GV và ghi chép tất cả những gì GV trình bày.
Trong phương pháp tiếp cận cùng tham gia, sự tập trung chú ý lại hướng vào
HS, vào suy nghĩ của chính HS. Ý nghĩa triết học sâu xa đằng sau cách tiếp cận này
nhấn mạnh rằng mọi người đều có thể là một nguồn thông tin và vai trò chủ yếu của
GV là nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc hơn về những gì mà các em cũng như các bạn
cùng lứa với các em đã biết. GV khuyến khích, hỗ trợ để HS được hiểu biết tốt hơn về
những gì mà các em đã biết, hay tổ chức tốt hơn cách suy nghĩ của HS và giúp các em
tìm ra những nguồn thông tin thích hợp, rồi từ đó các em sẽ học thêm.
Với phương pháp cùng tham gia, GV không phải là nguồn thông tin duy
nhất. GV chỉ là một nguồn thông tin – nhưng chỉ là một trong số nhiều nguồn
thông tin.

13


+ Cách tiếp cận kĩ năng sống
Mục đích của môn GDCD là hình thành ý thức và hành vi của người công dân
cho HS, giáo dục các em trở thành những người công dân tốt, có các phẩm chất và
năng lực đáp ứng được những đòi hỏi của thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu tâm lí – xã hội học đã cho thấy: Có hiểu
biết về những giá trị của người công dân, về quyền và nghĩa vụ công dân vẫn chưa đủ
đảm bảo để thanh thiếu niên có những hành vi tích cực. Giữa nhận thức và hành vi của
con người nhiều khi có mâu thuẫn với nhau. Người ta có thể thực hiện những hành vi
lệch chuẩn mặc dù không phải không biết làm thế là sai, là có hại. Các kĩ năng sống
( như: xác định giá trị, ra quyết định, giải quyết vấn đề, kiên định, ứng phó với căng
thẳng, kĩ năng từ chối, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng kiểm soát cảm xúc, kĩ năng
tự nhận thức, kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thể hiện sự cảm

động não, nêu câu hỏi: Tình yêu là gì? Yêu cầu HS nêu quan niệm của bản thân
hoặc những quan niệm mà em biết về tình yêu (có thể bằng lời hoặc viết ra giấy và
dán trên bảng). Các ý kiến của HS được liệt kê và tìm ra những điểm chung. Cuối
cùng, GV kết luận về sự đa dạng của các định nghĩa, quan niệm về tình yêu trong
sách giáo khoa GDCD lớp 10.
Phương pháp động não có thể dùng để lí giải bất kì một vấn đề nào, song đặc
biệt phù hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong thực tế cuộc sống của HS.
Tất cả mọi ý kiến đều cần được GV hoan nghênh, chấp nhận mà không nên phê
phán, nhận định đúng sai ngay.
Cuối giờ thảo luận GV nên nhấn mạnh kết luận này là kết quả của sự tham gia
chung của tất cả HS.
Động não không phải là một phương pháp hoàn chỉnh, mà chỉ là sự khởi đầu.
Một khi danh sách các câu trả lời đã được hoàn thành, cần phải cho cả lớp dùng danh
sách này để xác định xem câu trả lời nào là sai.
+ Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp thảo luận nhóm là sự phát triển của phương pháp thảo luận trên
lớp. Phương pháp này hiện nay được sử dụng khá phổ biến ở tất cả các môn học trong
trường THPT, trong đó có môn GDCD.
Mục đích của thảo luận nhóm là làm tăng tối đa cơ hội để HS được làm việc và
thể hiện khả năng của mình, được chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết
một vấn đề có liên quan đến nội dung bài học.

15


Đây là PPDH hợp quy luật tâm lí của con người. Mọi cá nhân từ nhỏ đến lớn
đều có xu hướng thích sinh hoạt, quan hệ và làm việc trong các nhóm nhỏ. Ở đó cá
nhân không những được thoả mãn nhu cầu giao tiếp, có cảm giác an toàn mà còn xuất
hiện những hứng khởi làm tăng hiệu suất làm việc do có sự tương tác mặt đối mặt giữa
các thành viên, có sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực và trách nhiệm phải giải

Mặt khác, phương pháp thảo luận nhóm cũng có một số hạn chế như sau:
Các nhóm và cá nhân HS trong nhóm dễ bị chệch hướng với chủ đề mà GV đưa
ra. Với các chủ đề thảo luận có nội dung phong phú, hấp dẫn, phát biểu của HS dễ bị
tản mạn, thiếu tập trung do mải theo đuổi ý tưởng riêng.
Hiệu quả của phương pháp thảo luận nhóm phụ thuộc nhiều vào tinh thần tham
gia của các thành viên trong nhóm. Nếu chỉ có một vài HS tham gia tích cực sẽ dẫn đến
tình trạng một số HS là chủ nhân số còn lại là khách ngồi nghe, là người ngoài cuộc, để
mặc cho người khác dẫn dắt và quyết định.
Đây là phương pháp tốn nhiều thời gian, dễ gây hưng phấn cao cho HS nhưng
cũng dễ tạo ra trạng thái mệt mỏi, trì trệ.
Ở các trường THPT hiện nay, việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm
thường bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết
học, cho nên GV phải biết tổ chức hợp lí và HS đã khá quen với phương pháp này thì
mới có kết quả. Cần lưu ý, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của HS phải được
phát huy và ý nghĩa tích cực của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa
các thành viên trong tổ chức lao động. Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng
lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới
PPDH và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ PPDH càng đổi mới.
Có nhiều hình thức thảo luận theo nhóm, hiệu quả của chúng tuỳ thuộc vào ý đồ
và tính chất sử dụng của GV. Dưới đây là một số hình thức thảo luận nhóm trong dạy
học môn GDCD ở trường THPT:
Nhóm nhỏ thông thường: GV chia lớp học thành các nhóm nhỏ(từ 5-7 HS) để
thảo luận một vấn đề cụ thể và nhanh chóng đưa ra kết luận tập thể về vấn đề đó. Hình
thức này thường được sử dụng kết hợp với các PPDH khác trong một bài học, một tiết
học, nội dung thảo luận của nhóm nhỏ thông thường là các vấn đề ngắn, thời lượng ít
(từ 10-15 phút).
Nhóm nhỏ rì rầm: GV chia lớp thành các nhóm “cực nhỏ” từ 2-3 HS (thường là
cùng một bàn) để trao đổi (rì rầm) và thống nhất trả lời một câu hỏi, giải quyết một vấn

17

nhóm trình bày kết quả thảo luận.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status