Vận dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát huy năng lực của học sinh trong bài dạy đây thôn vĩ dạ - Pdf 42

Sáng ki ến kinh nghi ệm d ạy h ọc Ng ữv ăn
theo định h ướn g phát huy n ăng l ự
c c ủa
h ọc sinh
Sáng kiến kinh nghiệm thi giáo viên giỏi tỉnh :dạy học Ngữ văn theo định hướng phát
huy năng lực của học sinh. Đây là sáng kiến của thầy Vương, trường Tạ Uyên. Sáng
kiến kinh nghiệm được Sở GD ĐT Ninh Bình xếp loại giỏi. Thu Trang chia sẻ với quý
thầy cô.
Tên đề tài :VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY
NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG BÀI DẠY ĐÂY THÔN VĨ DẠ
NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1.Giải pháp cũ thường làm
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT mà đặc biệt là giảng dạy
những tác phẩm văn học thuộc thể loại thơ trữ tình trước đây, bản thân tôi cùng các
đồng nghiệp vẫn quen sử dụng phương pháp dạy học truyền thống. Dạy học vẫn
nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết và truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương
pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên. Số giáo viên thường xuyên chủ động,
sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương
pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều.
Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học
sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học
chưa được thực hiện rộng rãi và hiệu quả trong các trường trung học phổ thông.
Những giờ dạy học Ngữ văn trước đây tôi thấy dù có thành công mấy đi chăng nữa thì
học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ lĩnh hội, tiếp thu và ghi nhớ tri thức một cách máy
móc mà chưa phát huy hết được năng lực chủ động, sáng tạo trong quá trình chiếm
lĩnh tri thức mới.
Là một giáo viên đứng trên bục giảng tôi luôn băn khoăn suy nghĩ, trăn trở làm cách
nào có thể nâng cao được chất lượng giáo dục học sinh và điều quan trọng hơn là học
sinh qua mỗi bài học các em có thể khám phá được những tri thức mới như thế nào
và có thể ứng dụng được gì vào trong thực tiễn cuộc sống. Chính vì điều đó tôi muốn

giúp học sinh có hứng thú hơn trong quá trình học tập.
Phần 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY
NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH
1.

Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học Ngữ văn theo định
hướng phát huy năng lực của học sinh

1.1 Cơ sở lí luận của việc dạy học Ngữ văn theo định hướng phát huy năng
lực của học sinh


Đổi mới PPDH môn ngữ văn ở trường THPT là kết quả của một quá trình nghiên cứu,
thực hiện kiên trì và được nghiệm thu. Khâu đột phá về chất lượng đổi mới phương
pháp dạy học Ngữ văn là bồi dưỡng năng lực thực hành nghề nghiệp của đội ngũ giáo
viên. Trước hết đội ngũ giáo viên phải nhận thức việc đổi mới phương pháp dạy học
bộ môn thường xuyên là lẽ sống, là trách nhiệm, lương tâm, danh dự của người thầy.
Thầy giỏi mới đào tạo được trò giỏi. Thầy giỏi ở trường THPT là người có khả năng tự
nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo xu thế quốc tế, đáp ứng
những đòi hỏi của đất nước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, biết thường
xuyên vận dụng kết quả tự nghiên cứu của mình vào quá trình dạy học bộ môn.
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục
tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến
việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để
đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối
“truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ
năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi
mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm
phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ

thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng
làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
– Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và
đào tạo: ” Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại;
phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người
học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt, một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy
cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi
mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực…”
– Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo quyết định
711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của thủ tướng chính phủ chỉ rõ: ” Tiếp tục đổi mới
phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lục tự học của người học.”
Những quan điểm, định hướng nêu trên là cơ sở thực tiễn và môi trường pháp lí thuận
lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới phương pháp dạy học theo
định hướng năng lục người học nói riêng.
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực
hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn
với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ
với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới
quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát
triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của


các môn học chuyên môn cần bổ xung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển
năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các môn học
thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:
– Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát



về thế giới quan, chịu ảnh hưởng của tư tưởng bảo thủ lạc hậu như: có thái độ coi
thường phụ nữ, coi khinh lao động chân tay, ý thức tổ chức kỉ luật kém, thích có cuộc
sống xa hoa, hưởng thụ hoặc sống thụ động…
Ở lứa tuổi học sinh THPT thì các em đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống cho mình,
biết xây dựng hình ảnh con người lý tưởng gần với thực tế sinh hoạt hàng ngày. Các
em có thể hiểu sâu sắc và tinh tế những khái niệm, biết xử sự một cách đúng đắn
trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau nhưng có khi các em lại thiếu tin tưởng
vào những hành vi đó. Vì vậy, giáo viên phải khéo léo, tế nhị khi phê phán những hình
ảnh lý tưởng còn lệch lạc để giúp các em chọn cho mình một hình ảnh lý tưởng đúng
đắn để phấn đấu vươn lên.
2.2. Đặc điểm về sự phát triển trí tuệ
Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ. Do cơ thể
các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện
cho sự phát triển các năng lực trí tuệ.
Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt. Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ
đạo trong hoạt động trí tuệ. Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật
tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học. Có nghĩa là khi học bài các em đã
biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quan trọng, những ý trọng tâm,
lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh. Các em cũng hiểu được rất rõ trường
hợp nào phải học thuộc trong từng câu, từng chữ, trường hợp nào càn diễn đạt bằng
ngôn từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu thôi, không cần ghi nhớ. Nhưng ở một số em
còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng có những em có thái độ coi thường việc ghi
nhớ máy móc và đánh giá thấp việc ôn lại bài.
Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh. Các em đã có khả năng tư duy
lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn. Năng lực phân tích, tổng
hợ, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái
niệm phức tạp và trừu tượng. Các em thích khái quát, thích tìm hiểu những quy luật
và nguyên tắc chung của các hiện tượng hàng ngày, của những tri thức phải tiếp

thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã
hội. Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo
quan điểm riêng của mình. Các em bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng môn học.
Rất hiếm xảy ra trường hợp có thái độ như nhau với các môn học. Do vậy, giáo viên
phải làm cho các em học sinh hiểu ý nghĩa và chức năng giáo dục phổ thông đối với
giáo dục nghề nghiệp và đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của học sinh.
Mặt khác,ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các em đã trở
nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn. Các em thường bắt đầu có hứng thú nhất
định đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một hoạt động nào đó. Điều đó
đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri thức trong các lĩnh vực
tương ứng. Đó là những khả năng rất thuận lợi cho sự phát triển năng lực của các
em. Nhà trường cần có những hình thức tổ chức đặc biệt đối với hoạt động của học


sinh THPT nhất là học sinh cuối cấp để tạo ra sự thay đổi căn bản về hoạt động tư
duy, về tính chất lao động trí óc của các em.
3.

Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực học sinh

3.1. Xác định các năng lực cần phát triển qua môn Ngữ văn cấp THPT
Xã hội ngày càng phát triển thì việc hình thành các kỹ năng, năng lực để đáp ứng
những yêu cầu phát trển đó càng trở nên quan trọng và cần thiết, nó trở thành một
trong những vấn đề đáng quan tâm của toàn xã hội nói chung và trong hệ thống giáo
dục nước nhà nói riêng.
Trong dự thảo đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau
2015 đã nêu rõ một trong những quan điểm nổi bật là phát triển chương trình theo
định hướng năng lực. Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có
tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…., nhằm
đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.

hướng tới các năng lực chung và các năng lực đặc thù của môn học.
3.2. Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển
năng lực học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là chuyển những kết quả về đổi mới phương
pháp dạy học của chương trình Ngữ văn hiện hành từ “mặt bên ngoài” vào “mặt bên
trong” để phát huy hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học, đáp ứng mục tiêu hình
thành và phát triển năng lực của học sinh.
Đối với môn Ngữ văn, khi vận dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh như giải quyết vấn đề, dạy học khám phá,
dạy học theo dự án,…cần chú ý đến sự khác biệt về năng lực và sở thích của mỗi học
sinh trong tiếp nhận văn bản, nhất là các văn bản văn học để có cách tổ chức dạy
học phân hóa phù hợp; đặc biệt chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, qua đó
hướng dẫn học sinh biết kiến tạo tri thức và nền tảng văn hóa cho bản thân từ những
cảm nhận, suy nghĩ và những trải nghiệm của cá nhân trong cuộc sống. Tăng cường
tính giao tiếp, khả năng hợp tác của học sinh trong giờ học Ngữ văn qua các hoạt
động thực hành, luyện tập, trao đổi, thảo luận,…vận dụng các phương pháp dạy học
theo đặc thù của môn học và các phương pháp dạy học chung một cách phù hợp
nhằm từng bước nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn.
3.2.1. Phương pháp tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh.
Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học tạo được sự tham gia tích
cực của học sinh trong học tập. Trong thảo luận nhóm, học sinh được tham gia trao
đổi, bàn bạc, chia sẻ ý kiến về một vấn đề mà cả nhóm cùng quan tâm. Thảo luận
nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính cách dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ
quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng,
hình thành quan điểm cá nhân, giúp học sinh rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề khó
khăn.


Phương pháp đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày
những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định”. Đây là phương pháp

hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho người học tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh
vực học tập và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống. Quá trình học theo
dự án giúp người học củng cố kiến thức, xây dựng các kỹ năng hợp tác, giao tiếp và
học tập độc lập, chuẩn bị hành trang học tập suốt đời cho người học, đặc biệt là cho


thế hệ trẻ và đối mặt với thử thách trong cuộc sống. Học theo dự án là hoạt động tìm
hiểu sâu về một chủ đề cụ thể với mục tiêu tạo cơ hội để người học thực hiện nghiên
cứu vấn đề thông qua việc kết nối các thông tin, phối hợp nhiều kỹ năng giá trị và
thái độ nhằm xây dựng kiến thức, phát triển khả năng.
3.2.2. Hình thức tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh.
Hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh là một trong những nhân tố
góp phần không nhỏ vào sự thành công trong việc nâng cao hiệu quả của công tác
giáo dục ở trường trung học phổ thông.
Dạy học môn ngữ văn ở trương THPT thường được tổ chức dưới hai hình thức cơ bản
là: hình thức tổ chức dạy học trong lớp và ngoài lớp. Hình thức tổ chức dạy học trong
lớp là hình thức tổ chức dạy học trong các giờ học chính khóa. Trong đó giáo viên sẽ
tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh theo các nội dung học tập. Hình thức tổ
chức dạy học này được thực hiện theo các cách sau: Học theo cá nhân, học theo
nhóm, học theo góc. Hoạt động học theo góc là hình thức tổ chức hoạt động học tập
mà người học thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp
học, đáp ứng nhiều phong cách học khác nhau và người học có quyền lựa chọn các
phong cách phù hợp, tạo cơ hội khám phá, thực hành, mở rộng, phát triển, sáng tạo,
đọc hiểu các nhiệm vụ và hướng dẫn bằng văn bản của người dạy; cơ hội cá nhân tự
áp dụng và trải nghiệm. Do vậy học theo góc kích thích người học tích cực thông qua
hoạt động; mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái, đảm bảo
học sâu, hiệu quả bền vững, tương tác mang tính cá nhân cao giữa thầy và trò, tránh
tình trạng người học phải chờ đợi.
Hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp học là hình thức quan trọng, gắn các nội dung
học tập với việc vận dụng vào thực tiễn. Hình thức tổ chức này góp phần tạo ra một

các hoạt động của học sinh chiếm vị trí chủ yếu. Với giáo viên, phương pháp thuyết
trình nên giảm thiểu tới mức tối đa, thay vào đó là tổ chức hoạt động cho học sinh
bằng việc nêu vấn đề, đề xuất các tình huống, dự án.
Để phát huy được vai trò chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh THPT
trong quá trình học tập cần vận dụng lý thuyết kiến tạo của J. Bruner vào trong quá
trình dạy học. Thuyết kiến tạo của J. Bruner là lý thuyết về sự nhận thức được bắt
nguồn từ tư tưởng của J. Piaget. Đây là một trong những lý thuyết dạy học vượt trội
được sử dụng trong giáo dục hiện nay. Tư tưởng cốt lõi của thuyết kiến tạo là: con
người kiến tạo những sự hiểu biết và tri thức về thế giới thông qua trải nghiệm và
phản ánh…Trong bất cứ trường hợp nào, mỗi người thật sự là nhà kiến tạo tri thức cho
chính bản thân. Để làm điều này, chúng ta phải đưa ra những nghi vấn, khám phá và
đánh giá cái mà chúng ta biết…Trong một lớp học kiến tạo, tâm điểm là xu hướng
thay đổi từ giáo viên làm trung tâm đến học sinh làm trung tâm. Trong mô hình kiến
tạo, học sinh được tạo cơ hội để hoạt động trong tiến trình học tập của mình. Giáo
viên đóng vai trò như là người cố vấn, giúp học sinh phát triển và đánh giá những
hiểu biết và việc học tập của các em. Một trong những công việc lớn nhất của giáo
viên khi vận dụng lý thuyết sáng tạo vào dạy học là biết cách “hỏi những câu hỏi
tốt”. Tiến trình dạy học kiến tạo bao gồm 3 bước:


Bước 1: Làm bộc lộ quan niệm của học sinh
Trong bước này, giáo viên giúp học sinh hệ thống, ôn lại những kiến thức cũ có liên
quan đến kiến thức mới bằng cách sử dụng các câu hỏi, các bài tập. Sau đó giáo viên
hoặc học sinh sẽ nêu vấn đề, tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ quan niệm của mình về
vấn đề học tập.
Bước 2: Tổ chức điều khiển học sinh tiến hành thảo luận
Giáo viên tổ chức cho học sinh đề xuất các giả thuyết, kiểm tra giả thuyết (thử và sai)
phân tích kết quả và từ đó rút ra kết luận chung cho cả lớp.
Bước 3: Tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức
Giáo viên tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề về lý thuyết

Hoạt động này giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệ thống các bài
tập/nhiệm vụ.
* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ
Các tri thức ở hoạt động này thuộc các phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn
trong sách giáo khoa hiện hành được tiến hành theo trình tự sau:
1.2.1. Đọc hiểu văn bản
Bước này yêu cầu học sinh đọc văn bản và chú thích. Giáo viên có thể giao nhiệm vụ
cho học sinh đọc trước ở nhà. Đến lớp chỉ đọc một đoạn hoặc bài ngắn và một vài lưu
ý trong chú thích. Sau đó giáo viên thiết kế những hoạt động hướng dẫn học sinh tìm
hiểu văn bản bằng việc sử dụng một số câu hỏi tập hợp thành một bài tập/nhiệm vụ
lớn hơn; thiết kế các bài tập trắc nghiệm, kết hợp tự luận; thiết kế các hoạt động kích
thích, sáng tạo… Nội dung các bài tập/nhiệm vụ trong mục này nêu lên các yêu cầu
tìm hiểu về đặc điểm thể loại, nội dung, nghệ thuật của văn bản.
1.2.2. Tích hợp kiến thức kỹ năng Tiếng Việt
Tích hợp với nhiệm vụ tìm hiểu văn bản. Giáo viên đưa ra một số bài tập/nhiệm vụ
yêu cầu học sinh tìm hiểu các kiến thức Tiếng Việt.
Các khái niệm thuộc ngôn ngữ học được giảm tải, chuyển hóa thành dạng kỹ năng,
giúp học sinh dễ tiếp nhận hơn.


1.2.3. Tích hợp kiến thức, kỹ năng làm văn
Các kiến thức làm văn cũng được dạy tích hợp với Đọc hiểu và Tiếng Việt. Cũng như
phần kiến thức Tiếng Việt, những nội dung lý thuyết Làm văn được giảm tải và
chuyển hóa thành kỹ năng.
Lưu ý:
– Giáo viên cần dự kiến những trường hợp học sinh không làm được bài tập/nhiệm vụ
để có phương án giải quyết. Có thể kích thích lại hứng thú hoặc ra bài tập/nhiệm vụ
khác, từ những bài tập dễ hơn, phù hợp hơn, rồi từ đó nâng dần hiểu biết của các em.
– Các hoạt động của học sinh trong mục này gồm: Hoạt động cá nhân, hoạt động
nhóm. Kết thúc hoạt động nhóm, học sinh phải trình bày kết quả và thảo luận với

sinh nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cái mới theo sự hiểu biết của mình; tìm phương
pháp giải quyết vấn đề và đưa ra những các giải quyết vấn đề khác nhau; góp phần
hình thành năng lực học tập với gia đình và cộng đồng.
* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ
Các bài tập ứng dụng gồm các loại:
– Vận dụng kiến thức đọc hiểu để giải thích, phân tích một hiện tượng văn học, văn
hóa khác tương ứng. Ví dụ: giải thích các câu tục ngữ, phân tích các bài ca dao, nêu ý
kiến về một hiện tượng văn hóa…
– Vận dụng kiến thức, kỹ năng Tiếng Việt để giải quyết một số vấn đề như: giải nghĩa,
từ loại, xác định cấu tạo từ…trong các hiện tượng ngôn ngữ của cuộc sống.
– Tiếp tục rèn luyện kỹ năng làm văn.
Lưu ý:
Hoạt động ứng dụng khác với Hoạt động thực hành. Hoạt động thực hành là làm các
bài tập cụ thể do giáo viên hoặc sách hướng dẫn đặt ra, còn Hoạt động ứng dụng là
hoạt động được triển khai ở nhà, cộng đồng; động viên khuyến khích học sinh nghiên
cứu, sáng tạo; giúp học sinh gần gũi với gia đình, địa phương, tranh thủ sự hướng dẫn
của gia đình, địa phương. Học sinh tự đặt ra yêu cầu cho mình, trao đổi và thảo luận
với gia đình và cộng đồng để cùng giải quyết. Tuy nhiên Hoạt động ứng dụng vẫn có
thể được tổ chức trên lớp nếu giáo viên thấy cần thiết và có thời gian.
1.5. Hoạt động bổ xung
* Mục đích của hoạt động


Hoạt động này giúp học sinh tiếp tục mở rộng kiến thức, kỹ năng. Hoạt động này dựa
trên lập luận cho rằng, quá trình nhận thức của học sinh là không ngừng, như vậy cần
có sự định hướng để đáp ứng nhu cầu tiếp tục học tập, rèn luyện sau mỗi bài học cụ
thể.
* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ cụ thể
– Đọc thêm các đoạn trích, văn bản có liên quan
– Trao đổi với người thân về nội dung bài học như: kể cho người thân nghe về câu

+ Hoạt động chung cả lớp: là hình thức hoạt động phù hợp với số đông học sinh. Đây
là hình thức nhằm tăng cường tính cộng đồng, giáo dục tinh thần đoàn kết, sự chia
sẻ, tinh thần chung sống hài hòa.
+ Hoạt động cộng đồng: là hình thức hoạt động cue học sinh trong mối tương tác với
xã hội. Hoạt động với cộng đồng bao gồm các hình thức từ đơn giản như: tham gia
bảo vệ môi trường, tìm hiểu các di tích văn hóa, lịch sử ở địa phương….
Định hướng thiết kế bài học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực của học sinh cấp
THPT trên đây là một hướng đi mới. Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay nên đi
theo định hướng thiết kế bài học ngữ văn như trên.
2.

Thiết kế bài học Đây thôn Vĩ dạ theo hướng phát triển năng lực
của học sinh

2.1. Hoạt động trải nghiệm
Hoạt động này giáo viên có thể tổ chức cho học sinh đi thực tế thăm Huế, thăm thôn
Vĩ dạ để học sinh có hứng thú ban đầu khi tiếp nhận tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ của
Hàn Mặc Tử (Giáo viên có thể sắp xếp thời gian hợp lý để tổ chức cho học sinh đi thực
tế trước khi đi vào tìm hiểu tác phẩm)
Trước khi vào bài học Giáo viên tổ chức học sinh khởi động bằng cách đưa ra bài tập
trắc nghiệm liên quan đến bài học, mục đích vừa để kiểm tra lại kiến thức mà các em
đã tích lũy được trong cuộc sống và quá trình học tập trước đó, vừa để các em bước
đầu làm quen và chuẩn bị tâm thế sẵn sàng khám phá tri trức mới của bài học. Câu
hỏi trắc nghiệm như sau:
Nhận xét nào sau đây là đúng về Hàn Mặc Tử?
1.

Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới

2.

đó giáo viên sẽ nhận xét phần trình bày của các nhóm và đi đến thống nhất rồi chốt
lại kiến thức cơ bản.
Giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi trắc nghiệm kết hợp với câu hỏi tự luận để các
nhóm thảo luận như sau:
* Đối với phần hình thành kiến thức chung về bài thơ đây thôn Vĩ Dạ
– Dòng nào nhận xét đúng về âm điệu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ?
1.

Trầm hùng, bi phẫn trang trọng

2.

Hào sảng, khoan thai dõng dạc

3.

Nhẹ nhàng, da diết, khắc khoải

4.

Chậm buồn, ảo não, nghẹn ngào

– Đề tài của bài thơ là:
1.

Tình yêu thiên nhiên

2.

Tình yêu quê hương đất nước

gợi dẫn và định hướng để các em hình thành kĩ năng tiếp cận tri thức mới đúng
hướng, có hiệu quả
2.4. Hoạt động ứng dụng
Vận dụng kiến thức đọc hiểu về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ để giải thích, phân tích một
hiện tượng văn học, văn hóa khác tương ứng. Ví dụ: nêu ý kiến về một hiện tượng văn
hóa: ở một số nơi trong quá trình đổi mới, hiện đại hóa nhiều vùng theo năm tháng
đã thay đổi, không còn lưu giữ được những giá trị tốt đẹp, những vẻ đẹp văn hóa
truyền thống vốn có của quê hương xứ sở. Ý kiến của anh/chị như thế nào về vấn đề
này?
Sau bài học học sinh có thể về trao đổi thảo luận với gia đình, cộng đồng về việc gìn
giữ vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc và nét độc đáo trong những giá trị văn hóa
của thôn quê, vùng miền, biết chân trọng và lưu giữ những giá trị tốt đẹp đó của quê
hương xứ sở đừng để nó phai tàn hoặc bị chôn vùi theo thời gian, năm tháng.
Vận dụng kiến thức, kỹ năng Tiếng Việt đã được rèn luyện và khám phá qua bài học
Đây thôn Vĩ Dạ để giải quyết một số vấn đề như: giải nghĩa, từ loại, xác định cấu tạo
từ…trong các hiện tượng ngôn ngữ của cuộc sống và trong giao tiếp hàng ngày.
2.5. Hoạt động bổ xung
Hoạt động này yêu cầu hoc sinh làm ở nhà: giáo viên giao nhiệm vụ/bài tập về nhà
yêu cầu học sinh tìm đọc sách, báo mạng và sưu tầm những tác phẩm văn chương,


đặc biệt là thơ viết về Huế nói chung và thôn Vĩ Dạ nói riêng, từ đó nêu cảm nhận về
giá trị của những tác phẩm đó.
Thu Trang ,Trường THPT Tạ Uyên , Yên Mô, Ninh Bình ( sưu tầm )
3.Giáo án thực nghiệm

ĐÂY THÔN VĨ DẠ
(Tiết 1)
1.


1.

THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU

– SGK Ngữ văn 11, tập hai
– SGV Ngữ văn 11, tập hai
– Tư liệu tham khảo
– Thiết kế bài học
– Thiết kế giáo án điện tử bằng ứng dụng Powerpoint để giảng dạy cho HS. Các tranh
ảnh, vedioclip sẽ được chuyển thành file hình ảnh, âm thanh và trình chiếu trên phần
mềm điện tử.
1.

TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN

2.

Ổn định tổ chức

3.

Kiểm tra bài cũ

Nhận xét nào sau đây là đúng về Hàn Mặc Tử?
1.

Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới

2.


I. Tìm hiểu chung

Thao tác 1: Tìm hiểu

a. Cuộc đời

về tác giả.

– Hàn Mặc Tử (1912 – 1940), tên thật là Nguyễn Trọng Trí

– Trên cơ sở phân chia
nhóm và giao bài tập
hoạt động nhóm về
nhà, HS đã chuẩn bị

1. Tác giả

– Quê quán: làng Lệ Mĩ, huyện Phong Lộc, nay thuộc TP. Đồng Hới
(Quảng Bình), xuất thân trong một gia đình công giáo nghèo.


bài ở nhà, có những

– Ông có một số phận đau thương và bất hạnh đến nghiệt ngã.

hiểu biết nhất định về
cách trình bày sơ đồ tư
duy về một tác giả, GV
yêu cầu một nhóm cử


ngộ (kịch thơ 1939); Quần tiên hội (kịch thơ 1940); Chơi giữa mùa
GV nhận xét, bổ xung,
mở rộng và chốt lại
kiến thức

trăng (thơ văn xuôi 1940).
2. Tác phẩm
a. Hoàn cảnh sáng tác

– Bài thơ được sáng tác năm 1938, in trong tập “Thơ điên”, phần
“Hương thơm”.
– Ban đầu bài thơ có tên : Ở đây thôn Vĩ Dạ, về sau đổi lại thành Đây
Thao tác 2: Tìm hiểu
những nét khái quát về
bài thơ.
GV hướng dẫn HS đọc
đoạn cuối phần tiểu
dẫn SGK và trả lời câu
hỏi:

thôn Vĩ Dạ.
– Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ tấm bưu thiếp vẽ
phong cảnh Huế có hình người chèo đò trên sông Hương với lời thăm
hỏi chúc thi sĩ mau bình phục của Hoàng Thị Kim Cúc – một cô gái ở
thôn Vĩ Dạ gửi cho Hàn Mặc Tử, khi tác giả đang dưỡng bệnh ở Quy
Hoà


– Trình bày xuất xứ của


b. Hào sảng, khoan thai

d. Bố cục
Bài thơ gồm 3 khổ thơ:
Khổ 1: Cảnh nhà vườn xứ Huế vào buối sáng

dõng dạc
Khổ 2: Cảnh sông nước đêm trăng và tâm trạng ngóng trông đầy khắc
c. Nhẹ nhàng, da diết,

khoải của nhà thơ

khắc khoải
Khổ 3: Hình bóng con người cùng những hoài nghi, mơ tưởng trong tâm
d. Chậm buồn, ảo não,

trạng của thi nhân.

nghẹn ngào
2. Đề tài của bài thơ là:
a. Tình yêu thiên nhiên

II. Đọc – hiểu văn bản
1. Khổ 1
* Câu thơ mở đầu

b. Tình yêu quê hương
đất nước
c. Tình yêu lứa đôi
d. Cả A, B,C

khổ thơ đầu.
GV yêu cầu HS đọc khổ
1 làm việc nhóm và

@ Cảnh thôn Vĩ:
– Nắng hàng cau
+ Cau là cây cao nhất, cây đầu tiên đón ánh nhắng trong vườn-> tinh
khôi
+ Nắng rọi vào sương trên những lá cau, tạo thành sự hoà phối giữa
màu và ánh->vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết; giản dị mà giàu sức gợi.
+ Thân cau, bóng cau là những nét mảnh mai-> thanh thoát

trình bày
Xác định Hình thức? Sắc

-> Thân cau thẳng tắp và chia những đốt đều đặn, hiện lên như cây

thái? Chủ thể trữ tình

thước để đo mực nắng của thiên nhiên

trong câu thơ đầu?
+ “Nắng mới lên”: cái nắng đầu tiên của một ngày-> tinh khôi, trong
trẻo
-> lặp lại từ “nắng” như nhấn mạnh một hình ảnh ám ảnh và đầy ấn
tượng trong lòng nhà thơ, đồng thời khái quát nét đặc trưng của nắng
miền trung
=> nắng tràn ngập, hàng cau tắm mình trong biển nắng mai.
GV bổ sung, nhấn
mạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status