ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYễN THị áNH TUYếT
ĐảNG LãNH ĐạO PHáT TRIểN KINH Tế NÔNG NGHIệP
Từ NĂM 1975 ĐếN NĂM 1985
LUậN VĂN THạC Sĩ lịch sử
Hà Nội, 2015
ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYễN THị áNH TUYếT
ĐảNG LãNH ĐạO PHáT TRIểN KINH Tế NÔNG NGHIệP
Từ NĂM 1975 ĐếN NĂM 1985
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã Số: 60 22 03 15
LUậN VĂN THạC Sĩ lịch sử
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS. TS Vũ Quang Hiển
Hà Nội, 2015
1. Lý do chọn đề tài................................................................................................1 2.
Tình hình nghiên cứu vấn đề ............................................................................4 3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................6
3.1. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................6 3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................................6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................6
4.1. Đối tượng nghiên cứu....................................................................................6 4.2.
Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................7
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................7
5.1. Nguồn tài liệu ................................................................................................7 5.2.
Phương pháp nghiên cứu...............................................................................7
6. Bố cục ..................................................................................................................8
CHƢƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI NỀN
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1975-1980 ..................................................9
1.1. Những nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của kinh tế nông nghiệp ở
Việt Nam và chủ trƣơng của Đảng.......................................................................9
1.1.1 Những nhân tố ảnh hưởng tới ngành nông nghiệp......................................9
1.1.2. Chủ trương phát triển nông nghiệp của Đảng ..........................................13
1.2. Sự chỉ đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng ..................................................24
1.2.1. Đảng chỉ đạo cải tạo xã hội chủ nghĩa và giải quyết các nguồn lực để phát triển
nông nghiệp................................................................................................24 1.2.2. Chỉ
đạo phát triển sản xuất nông nghiệp ..................................................45
Kết luận Chƣơng 1...............................................................................................61
CHƢƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1981 ĐẾN NĂM 1985 ............................................................................62
2.1. Yêu cầu mới và chủ trƣơng mới của Đảng về nông nghiệp......................62
2.1.1. Tình hình kinh tế nông nghiệp những năm cuối thập niên 70 .................62
2.1.2. Chủ trương mới của Đảng trong phát triển kinh tế nông nghiệp .............64
năm 1981 đến năm 1985 ...............................................93 Bảng 2.4: Sản lượng màu lương
thực trong những năm 1981-1985 ........................95 Bảng 2.5: Diện tích gieo trồng màu
lương thực trong từ năm 1981 đến năm 1985......95
Bảng 2.6: Diện tích và sản lượng cây công nghiệp hàng năm trong 5 năm
1981-1985 ................................................................................................97
Bảng 2.7: Chăn nuôi gia súc gia cầm trong từ năm 1981 đến năm 1985 ...............103 Bảng
2.8: Sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong từ năm 1981 đến năm 1985 ........103
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975),
dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, đi lên chủ
nghĩa xã hội. Hơn lúc nào hết, cả đất nước cần tiếp tục nêu cao tinh thần đoàn kết, ý chí
quật cường trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh việc duy trì khả năng quân sự,
kinh tế được Đảng xác định là mặt trận quan trọng hàng đầu trong những năm tiếp theo,
chỉ có phát triển kinh tế, cải thiện đời sống cho nhân dân thì mới có thể tăng cường vị
thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Với đặc thù của một đất nước có truyền thống
nông nghiệp lâu đời, trong giai đoạn lịch sử mới này kinh tế nông nghiệp có vị trí chiến
lược trong sự nghiệp phát triển kinh tế, góp phần quan trọng bảo vệ nền độc lập mới giành
được của dân tộc.
Trải qua thực tiễn lịch sử đấy tranh của dân tộc chống giặc ngoại xâm (19451975), nông nghiệp, nông dân và nông thôn chứng minh sứ mệnh vẻ vang của "hậu
phương lớn đối với tiền tuyến lớn". Thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh "ruộng rẫy là
chiến trường, quốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền
phương" cùng với những phong trào tiêu biểu như "hũ gạo nuôi quân"; "thóc không
thiếu một cân, quân không thiều một người"... đã góp phần quan trọng vào thắng lợi
của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành lại hoà bình, thống
nhất đất nước.
T r o n g n h ữ n g n ă m t h á n g c h i ế n t ra n h , n h ân d â n mi ề n B ắ c v ừ a x ây d ự n g chủ
nghĩa xã hội vừa làm nhiệm vụ của hậu phương lớn vừa phải trực tiếp chống lại hai
thức sản xuất mới nào có thể hoàn thiện được ngay mà không trải qua nhiều thất bại,
nhiều sai lầm. Lê-nin cho rằng, trong sự nghiệp mới mẻ, khó khăn, vĩ đại như thế, không
thể vì e ngại khuyết điểm, sai lầm, thiếu sót mà không dám thay đổi, điều quan trọng là
từ thực tiễn phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng và xây dựng đất nước theo hướng
xã hội chủ nghĩa trong những năm 1975-1985 để tìm ra mô hình tổ chức đúng đắn và
phù hợp với hoàn cảnh của đất nước trong giai đoạn tiếp theo.
Trong giai đoạn thử nghiệm con đường mới đầy thử thách này, với bản lĩnh
chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng, Đảng lãnh đạo toàn dân
tộc bước vào những trang sử mới. Để kinh tế nông nghiệp Việt Nam bước ra từ trong
chiến tranh, với cơ chế quản lý trì trệ, lạc hậu, ruộng đất thì nhiều nhưng đời sống của
người dân phải chạy xuôi, chạy ngược lo miếng ăn hàng ngày có thể vươn
2
lên phát triển, đảm bảo đời sống hàng ngày cho nhân dân và tiến đến trở thành bộ
phận quan trọng của nền kinh tế. Do vậy Đảng xác định, cải cách kinh tế được bắt đầu
trong lĩnh vực nông nghiệp. Bằng nhiều chính sách và biện pháp cụ thể, vai trò của kinh
tế nông nghiệp trong cơ câu kinh tế quốc dân dần được xác lập, thực hiện bố trí nhân lực,
tài chính để vực dậy nền nông nghiệp đang suy thoái. Tiêu biểu cho những cố gắng này là
vào tháng 01/1981 Đảng ra Chỉ thị 100/BCHTW với nội dung cơ bản là khoán sản phẩm
trong nông nghiệp đến nhóm và người lao động. Đến Đại hội Đảng lần thứ V (3/1982)
Đảng đã thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ III (1981- 1986) với nội dung nổi bật là tập
trung phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu và ra sức đẩy mạng
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, phát triển kinh tế nhiều thành phần… Những cải
cách trên đây là tiền đề quan trọng định hình phương hướng tổ chức, phát triển của nền nông
nghiệp trong bối cảnh và bước đầu mang lại một số kết quả khả quan tuy nhiên chưa chủ
để tạo nên một cuộc cách mạng trong sản xuất nghiệp.
Cho đến nay, nông nghiệp vẫn là một trong những ngành sản xuất vật chất cơ bản
của xã hội cung cấp nhiều loại sản phẩm thiết yếu cho đời sống xã hội và tạo nên tích
h i ệ p v ẫ n l à n gà n h đ ó n g v ai t r ò q u a n t r ọ ng t r o n g t o à n b ộ nề n k in h t ế c ủ a Vi ệ t Na m.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Ở trong nước, cho tới nay, đã có khá nhiều tác giả và công trình nghiên cứu
về tình hình kinh tế Việt Nam nói chung và tình hình kinh tế nông nghiệp nói riêng. Tiêu
biểu có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau, có thể phân chia theo
mức độ có liên quan đến đề tài:
Những công trình nghiên cứu có đề cập đến sự phát triển của kinh tế nông
nghiệp trong một giai đoạn cụ thể:
Tác giả Nguyễn Sinh Cúc có cuốn Nông nghiệp Việt Nam 1945 - 1995, Nxb,
Thống kê, Hà Nội, năm 1995, cung cấp những thông tin về điều kiện sản xuất, quan hệ
sản xuất, lực lượng sản xuất, kết quả và hiệu quả kinh tế của cả nước, từng vùng, từng địa
phương từ năm 1945 đến năm 1995 trong lĩnh vực nông nghiệp.
Tác giả Đinh Thị Thu Cúc có bài viết: "Nội dung chủ yếu các thời kỳ phát triển
của nông nghiệp Việt Nam kể từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945", tạp chí Nghiên cứu
lịch sử, số 4-2000 trình bày khái quát về tình hình kinh tế nông nghiệp, sự chuyển biến cơ
cấu kinh tế, bước phát triển của nông nghiệp trải qua các thời kỳ 1945-1957; 1958-1988;
1988-2000.
4
Tác giả Bùi Huy Đáp với tác phẩm Nông nghiệp Việt Nam từ cội nguồn đến
Đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1996, trình bày quá trình phát triển nông
nghiệp Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử; những truyền thống và kinh nghiệm làm
nông nghiệp, sự đổi mới (công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nền nông
nghiệp Việt Nam).
Đặng Phong (Chủ biên): Lịch sử Kinh tế Việt Nam 1945-2000, Nxb. Khoa học
xã hội, Hà Nội, 2002, Tập 1: tập trung nghiên cứu, phân tích tình hình kinh tế
Việt Nam nói chung trong đó có kinh tế nông nghiệp trong những năm 1945-1954.
Đào Văn Tập (chủ biên) (1990), trong công trình 45 năm kinh tế Việt Nam
nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung làm rõ chủ trương, chính sách của
Đảng với nông nghiệp trong những năm từ 1975-1985: khi đất nước thời hậu chiến và
tiền đổi mới với nhiều khó khăn và thử thách.
Những công trình nghiên cứu, bài viết tạp chí của các nhà nghiên cứu đi trước
đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ thêm sự lãnh đạo của Đảng với kinh tế nông nghiệp trong những
năm từ 1975-1985
- Góp phần tổng kết và rút ra một số bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc xác
định phương hướng xây dựng và phát triển kinh tế nông nghiệp trong tình hình
hiện tại
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày được hoàn cảnh lịch sử và những chủ trương của Đảng Cộng sản
Việt Nam với kinh tế nông nghiệp trong những năm 1975-1985.
- Trình bày những hoạt động cụ thể trong thực tiễn của Đảng trong lĩnh vực
nông nghiệp và những kết quả cụ thể đã đạt được.
- Đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của Đảng trong lãnh đạo nông nghiệp
từ năm 1975 đến năm 1985, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho lãnh đạo kinh tế
nông nghiệp giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:
- Những chủ trương, chính sách và và quá trình thực hiện những chủ trương,
chính sách đó trong thực tiễn của Đảng với kinh tế nông nghiệp; những thành công
6
và hạn chế của Đảng trong lãnh đạo kinh tế nông nghiệp giai đoạn này từ đó rút ra
7
- Trình bày những thành tựu kinh tế nông nghiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng
từ năm 1975-1985
- Rút ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình Đảng chỉ đạo phát triển
kinh tế nông nghiệp
7. Bố cục:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo luận văn gồm có 3 chương.
- Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với nền kinh tế nông
nghiệp từ năm 1975-1980
- Chương 2: Đảng lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ 1981 đến 1985
- Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm
8
CHƢƠNG
1
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI
NỀN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1975-1980
1.1. Những nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của kinh tế nông
nghiệp ở Việt Nam và chủ trƣơng của Đảng
1.1.1 Những nhân tố ảnh hưởng tới ngành nông nghiệp
Điều kiện tự nhiên
Việt Nam có vị trí địa lý nằm trọn trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa với nền
nhiệt độ cao và tương đối ổn định, đường bờ biển dài hơn 3000km, vùng biển rộng lớn
với diện tích hàng triệu km2, hàng năm, đã cung cấp độ ẩm cho cây cối phát triển quanh
năm. Cộng thêm với vị trí nằm ở cửa ngõ của khu vực, Việt Nam là nơi trung chuyển và
gặp gỡ của nhiều luồng di cư động thực vật nên tài nguyên sinh vật và nguồn gen tự nhiên
chuyên canh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên).
Ngoài đất, nước, nguồn thực vật tự nhiên cũng ảnh hưởng đến sự phát triển và phân
bố của nông nghiệp. Đây chính là nguồn gen để lai tạo các chủng loại cây trồng làm phong
phú giống cây trồng nông nghiệp. Bên cạnh đó, với diện tích đồng cỏ lớn là nguồn thức ăn
tự nhiên và cũng là yếu tố quan trọng chi phối ngành chăn nuôi.
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, điều kiện tự nhiên cũng mang đến những khó
khăn cho sản xuất nông nghiệp. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa gây nhiều trở ngại cho
sản xuất nông nghiệp như nhiều bão lũ, hạn hán. Với nền nhiệt và độ ẩm cao là điều
kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát triển quanh năm. Miền Bắc có mùa đông lạnh, sương
muối, sương giá ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của vật nuôi, cây trồng. Khả
năng mở rộng diện tích nông nghiệp rất khó khăn do việc ngày càng mở rộng diện tích đất
chuyên dụng, đất công nghiệp và đất ở. Đất đai bị khai thác và sử dụng quá mức dẫn đến
có một diện tích lớn đất đai đang trong tình trạng bạc màu và suy thoái. Ở miền núi, tình
trạng đất đai bị rửa trôi, xói mòn diễn ra phổ biến. Bên cạnh đó, nguồn nước phân bố
không đều theo không gian, thời gian gây khó khăn lớn với hoạt động sản xuất nông
nghiệp. Ở một số nơi, mùa khô thiếu nước, mùa mưa ngập úng khiến cho sản xuất bấp
bênh. Chất lượng nguồn nước mặt ở một số sông, hồ đang bị ô nhiễm nghiêm trọng ảnh
hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Ở ven biển, nước mặn có chiều hướng tiến sâu vào đất
liền, lấn chiếm vào diện tích đất nông nghiệp, gây tốn kém chi phí để thau chua rửa mặn.
Đặc biệt, ở ven biển miền Trung có hiện tượng cát bay làm thu hẹp diện tích đất nông
nghiệp.
10
Điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển và phân bố
nông nghiệp
Dân cư và lao động vừa là lực lượng sản xuất trực tiếp vừa là nguồn tiêu thụ nông
sản. Việt Nam có dân số đông, kết cấu dân số trẻ cung cấp nguồn lao động dồi dào cho sản
xuất nông nghiệp, với lực lượng lao động hàng chục triệu người.
đất màu mỡ, tương đối bằng phẳng với khí hậu rất thuận hoà, có thể khai phá nhanh để
trồng trọt và dễ dàng cho năng suất cao. Thống nhất đất nước, mang lại cho đất nước cơ
hội đưa diện tích canh tác trong cả nước lên gấp đôi trong một thời gian tương đối
ngắn, đó là một thuận lợi đặc biệt đối với việc phát triển nông nghiệp. Với đất đai của
cả nước, không những có thể mở rộng diện tích trồng lúa mà còn có thể dành những vùng
khá lớn để trồng ngô, mía, bông, cao su, dừa, rau, hoa quả nhiệt đới, chăn nuôi bò, trâu
và gia cầm trên quy mô lớn.
Dưới chế độ cai trị của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, tháng 3-1970 sắc lệnh
"Người cày có ruộng" được ban hành. Trong khu vực trồng lúa và hoa màu phụ, về cơ
bản, chế độ sở hữu ruộng đất theo kiểu phong kiến, bao gồm chế độ đại sở hữu - một
trong những đặc trưng của tình trạng chiếm hữu ruộng đất ở các tình đồng bằng Nam
bộ đã bị tàn lụi và thay vào đó là sở hữu nhỏ về ruộng đất của những người tiểu nông.
Nhiều tàn tích của quan hệ bóc lột phong kiến trong nông thôn vẫn còn tồn tại cho đến
trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Sự chuyển biến về hình thức sở hữu ruộng đất có ý nghĩa tích cực đối với sự phát
triển sản xuất nông nghiệp, lực lượng sản xuất đã thoát khỏi quan hệ sản xuất cũ, phần
lớn đất đai trở về với người trực tiếp sản xuất theo quy mô từng gia đình; cơ sở vật chất
kỹ thuật cho nông nghiệp được tăng cường, đặc biệt là cơ giới hóa nông nghiệp, máy
móc được sử dụng rộng rãi trong các khâu sản xuất, tạo hiệu quả. Bên cạnh trồng lúa là
chính, nông dân đã trồng thêm nhiều hoa màu và cây lâu năm. Xu hướng đa canh ngày càng
phát triển. Ngay trong vùng nông thôn giải phóng, thu nhập từ lúa cũng có xu hướng
giảm trong cơ cấu thu nhập của nông dân. Ngành chăn nuôi bước đầu phát triển và
chiếm tỷ trọng ngày một lớn. Bên cạnh việc chăn nuôi theo phương thức gia đình, trong
ngành chăn nuôi đã bắt đầu xuất hiện nhiều nông trại lớn chăn nuôi theo phương pháp
công nghiệp với quy trình máy móc hiện đại (tập trung ở Gia Định, Biên Hòa, Bình
Dương, Long An).
Những biến đổi đó mới chỉ đạt ở mức đủ để hình thành những nhân tố cơ bản cho
sự khởi đầu một thời kỳ phát triển năng động hơn: một nền nông nghiệp hàng hóa lấy sở
hữu ruộng đất quy mô nhỏ và hộ gia đình làm đơn vị kinh tế chủ yếu, một sự tiếp cận
bước đầu với tiến bộ khoa học kỹ thuật, loại bỏ dần phương thức
những năm qua bị xáo trộn nhiều lần, vì vậy để đoàn kết nông thôn và khôi phục sản
xuất thì việc điều chỉnh ruộng đất là điều cần thiết. Đối với ruộng đất công cần có sự điều
chỉnh sao cho phù hợp giữa các hộ gia đình trên tinh thần bàn bạc thỏa thuận, tránh sự
xáo trộn, cần tiến hành chia lại ruộng đất trên cơ sở phân
13
tích rõ nguồn gốc của từng loại ruộng đất, tránh sự vội vãn, chồng chéo, thiếu công
bằng, gây mâu thuẫn trong nội bộ những người nông dân.
Về hợp tác hoá nông nghiệp, Đảng chủ trương trong những năm đầu sau giải
phóng "chỉ nên tập trung làm thí điểm cho tốt để rút kinh nghiệm, vận động nhân
dân tổ chức vần công, đổi công và ra sức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở"[22;52].
Để giải quyết vấn đề lương thực thực phẩm cấp bách trước mắt, trong Điện của
Ban Bí thư Số 25, ngày 5 tháng 2 năm 1976, về việc lãnh đạo đẩy mạnh sản xuât lương
thực trong cả nước đã nhìn nhận tình hình cấn đối lương thực năm 1976 còn có nhiều khó
khăn do vậy "phải tận lực và bằng mọi cách đẩy mạnh sản xuất lương thực
trong cả nước, đặc biệt là hoa màu, lương thực ngắn ngày vụ đông xuân".[22;57]
Đảng đã chỉ rõ, "vấn đề lương thực có ý nghĩa kinh tế, chính trị to lớn"[22;60].
Chính vì vậy, tất cả các ngành, các cấp kiểm tra lại tình hình, bàn ngay kế hoạch thực
hiện chủ trương này, theo chức năng và phạm vi phụ trách của mình, chủ động khắc phụ
khó khăn, bàn bạc với các cơ quan có trách nhiệm để giải quyết các vấn đề cụ thể và báo
cáo lên Trung ương những yêu cầu chưa giải quyết được.
Báo cáo chính trị tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội chung cả nước, ngày 25 tháng 6
năm 1976 do Lê Duẩn trình bày đã xác định "Nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội là công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, đưa nền kinh tế đất nước tiến
lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa"[22;147]. Đường lối xây dựng kinh tế chủ nghĩa xã
hội được Đảng đề ra trong thời kỳ này là: "Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách
hợp lý trên cơ sở ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng
công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp hiện
nước."[22;214]
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ IV, 12-1976 nhận thức về kinh tế của Đảng có sự
thay đổi, từ chỗ "ưu tiên phát triển công nghiệp nặng" Đảng đã xác định "ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng một cách hợp lý", hướng đến xây dựng một cơ cấu kinh tế công - nông
nghiệp, điều này thể hiện nhận thức về vị trí của nông nghiệp dần được xác lập trong tư
duy kinh tế của Đảng.
Trong Báo cáo Chính trị do Lê Duẩn trình bày tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ IV xác định đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới:
"Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ
nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông
nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông
nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp…"[22;524]
Cũng trong Báo cáo cũng đã xác định nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm
15
1976-1980: "Tập trung cao độ sức của cả nước, của các ngành, các cấp tạo ra một
bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp; ra sức đẩy mạnh lâm nghiệp, ngư nghiệp; phát
triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm"[22;527]. Đối với nông nghiệp trong 5
năm này: "Phát triển toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, đẩy mạnh lâm nghiệp, ngư
nghiệp theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, nhằm sớm bảo đảm đủ lương thực,
thực phẩm cho toàn xã hội và có lương thực dự trữ, cung cấp
nguyên liệu cho công nghiệp, tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu".[22;541]
Tóm lại, kế hoạch 5 năm đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất Đảng đặt nhiệm
vụ kết hợp phát triển công nghiệp với nông nghiệp trong một cơ cấu kinh tế thống nhất,
trên phạm vi cả nước và trên địa bàn từng địa phương, đây là bước đi hợp lý; tất nhiên,
trong quá trình thực hiện phải tuỳ điều kiện địa lý và tài nguyên thiên nhiên từng nơi,
mà kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lâm nghiệp, hoặc kết hợp công nghiệp với
công - nông nghiệp, phấn đấu "từ nay đến năm 1985 đạt được một chuyển biến cơ bản
của nông nghiệp đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, với trình độ tập trung hoá, chuyên
môn hoá, hiệp tác hóa và liên hiệp hóa ở mức độ ngày càng cao, với sự phân bố lao
động theo lãnh thổ và trong nội bộ ngành nông nghiệp ngày càng hợp lý, với trang bị kỹ
thuật ngày càng hiện đại và có chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối ngày càng
hoàn thiện"[22;164] và "phải quán triệt nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ là
đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và trong kế hoạch 5 năm trước mắt phải nắm
nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là nông nghiệp"[22;168].
Ở miền Bắc, trong nông nghiệp, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm về quản lý
hợp tác xã, phải căn cứ vào những kinh nghiệm ấy để cải tiến quản lý các hợp tác xã
nông nghiệp, đi đôi với phát triển kinh tế trên địa bàn huyện và tăng cường cấp huyện.
Việc xây dựng, tăng cường hợp tác xã sản xuất nông nghiệp phải gắn với xây dựng huyện,
gắn huyện với hợp tác xã trong một cơ cấu chung về sản xuất và quản lý, song hợp tác xã
sản xuất nông nghiệp vẫn là những đơn vị hạch toán độc lập.
Nghị quyết 24 của Trung ương đã chỉ rõ rằng, việc kết hợp cải tạo và xây dựng
phải đưa lại kết quả thiết thực là sản xuất không ngừng phát triển, năng suất lao động xã
hội ngày càng tăng, sản phẩm hàng hoá ngày càng nhiều và đời sống xã hội ngày càng lành
mạnh, tiến bộ, điều kiện sinh hoạt vật chất và văn hoá của nhân dân không ngừng được
cải thiện. Từ đó Đảng xác định, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp
miền Nam phải tiến hành rất khẩn trương, nhanh, gọn, nhưng phải tiến hành thận trọng,
vững chắc, phải nắm chắc tình hình và nghiên cứu đề ra những chính sách sát hợp, nhất
là phải chuẩn bị rất tốt về cán bộ, có quyết tâm
17
cao phát động quần chúng và chuẩn bị những điều kiện cho việc hoàn thành nhanh,
gọn, tốt cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm này. Giữa các
vùng khác nhau, tốc độ tiến hành cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp cũng có thể có
chỗ nhanh, chậm khác nhau, nhưng nói chung, đối với tất cả các vùng, cần "đưa phong