ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ HUYỀN
KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ TRÁCH NHIỆM
KỶ LUẬT LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ HUYỀN
KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ TRÁCH NHIỆM
KỶ LUẬT LAO ĐỘNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành
: Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
lý của việc áp dụng trách nhiệm kỷ luật lao động...................................... . ...16
1.2.1 Khái niệm trách nhiệm kỷ luật lao động ................................................ 16
1.2.2 Căn cứ áp dụng trách nhiệm kỷ luật lao động ....................................... 17
1.2.3 Hậu quả pháp lý của việc áp dụng trách nhiệm kỷ luật lao động..........20
1.3 Điều chỉnh pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ luật lao
động……………………………………………………………………… ….21
1.3.1 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ
luật lao động…………………………………………………………………21
1.3.2 Nội dung pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ luật lao động ..... 23
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VỀ KỶ LUÂT LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬT LAO ĐỘNG
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN……………………………………………33
2.1 Thực trạng pháp luật về kỷ luật lao động và thực tiễn thực hiện…….. …33
2.1.1 Thực trạng quy định của pháp luật về kỷ luật lao động…………………33
2.1.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về kỷ luật lao động............................ .....46
2.2 Thực trạng pháp luật về trách nhiệm kỷ luật lao động và thực tiễn thực
hiện…………………………………………………………………… . ……50
2.2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về trách nhiệm kỷ luật lao động……...50
2.2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm kỷ luật lao động……….66
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KỶ
LUẬT LAO ĐỘNG VÀ TRÁCH NHIỆM KỶ LUẬTLAO ĐỘNG Ở
VIỆT NAM……………………………………………………… …………74
3.1 Hoàn thiện pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ luật lao
động……………………………………………………………… ……….....74
3.1.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ luật
lao động………………………………………………………… .. …………74
3.1.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về kỷ luật
hiệu quả sản xuất – kinh doanh.
Tuy nhiên hiện nay, tình trạng người lao động vi phạm kỷ luật lao
động diễn ra không hề ít. Bên cạnh đó, việc xử lý vi phạm kỷ luật lao động
đối với người lao động tại các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng nghiêm
túc, đúng pháp luật, người sử dụng lao động thường kỷ luật người lao động
một cách vô căn cứ, không tuân theo đúng trình tự, thủ tục được pháp luật
định sẵn. Hệ quả của tình trạng xử lý vi phạm kỷ luật lao động trái với các
quy định của pháp luật không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của người
1
lao động, mà còn là nguyên nhân gây ra tình trạng tranh chấp, khiếu kiện giữa
người lao động và người sử dụng lao động, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến
tranh chấp lao động tập thể, đình công, bãi công, làm cho hoạt động sản xuất
kinh doanh bị gián đoạn, doanh nghiệp chịu nhiều tổn hại, nền kinh tế của đất
nước không phát triển ổn định. Điều này, cho thấy kỷ luật lao động và trách
nhiệm kỷ luật lao động đóng một vai trò rất quan trọng đối với các doanh
nghiệp. Bởi vậy, rất cần thiết phải có sự nghiên cứu, tìm hiểu một cách khoa
học và đúng đắn về kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ luật lao động theo quy
định của pháp luật và thực trạng của nó, để đề ra các giải pháp sửa đổi, hoàn
thiện. Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ luật
lao động trong pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ luật lao động là yếu tố quan trọng
không thể thiếu của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do vậy, trong khoa học
pháp lý hiện nay đã có khá nhiều công trình đề cập đến vấn đề này.
Giáo trình Luật lao động của một số trường đại học như: Giáo trình
Luật lao động của Trường đại học Luật Hà Nội năm 2013; Giáo trình Luật lao
động của Khoa luật, Đại học Quốc gia 1999;…Các giáo trình này đã đề cập
đến một số vấn đề cơ bản nhất như khái niệm, vai trò kỷ luật lao động và các
sung năm 2002, 2006 và 2007. Do đó, khi Bộ luật lao động 2012 ra đời kèm
theo nhiều văn bản mới hướng dẫn đã khiến các quy định về kỷ luật lao động
cũng như trách nhiệm kỷ luật lao động có nhiều thay đổi so với trước đây.
Mặc khác, trong bối cảnh tình hình kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước liên
tục vận động, biến đổi thì việc các quy định của pháp luật dần bộc lộ những
hạn chế, bất cập, tỏ ra không còn phù hợp với hoàn cảnh thực tế là điều khó
tránh khỏi. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ
luật lao động vẫn luôn cần thiết, nhằm liên tục đề ra các giải pháp để hoàn
3
thiện các quy định của pháp luật lao động kịp thời, đáp ứng được yêu cầu phát
triển thực tiễn của đất nước.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ lý luận cơ bản và thực
trạng pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ luật lao động. Đồng
thời, dựa trên việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật cũng như
thực trạng của vấn đề kỷ luật lao động, trách nhiệm kỷ luật lao động rút ra
được những ưu điểm, hạn chế của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực này, từ
đó, đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật.
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn cần phải thực hiện được
những nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất, luận giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản liên
quan tới kỷ luật lao động lao động và trách nhiệm kỷ luật lao động như: khái
niệm, nội dung, vai trò,…
- Thứ hai, phân tích và đánh giá một cách có hệ thống và khoa học
thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kỷ luật lao động
và trách nhiệm kỷ luật lao động, cũng như thực tiễn áp dụng. Từ đó, chỉ ra
được các ưu điểm, hạn chế cần sửa đổi của pháp luật lao động.
- Thứ ba, đề ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định
sau đây:
- Hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về kỷ luật
lao động và trách nhiệm kỷ luật lao động.
- Phân tích làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về kỷ luật lao động
và trách nhiệm kỷ luật lao động theo pháp luật lao động Việt Nam hiện hành.
Đồng thời, đánh giá đúng thực trạng thực thi kỷ luật lao động và trách nhiệm
kỷ luật lao động ở nước ta hiện nay, trên cơ sở đó chỉ ra những điểm tích cực
cũng như những điểm còn tồn tại trong lĩnh vực này.
5
- Đưa ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng
cao hiệu quả thi hành pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ luật lao
động ở Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương sau :
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kỷ luật lao động và trách nhiệm
về kỷ luật lao động.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về kỷ luật lao
động, trách nhiệm kỷ luật lao động và thực tiễn thực hiện.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ luật lao
động ở Việt Nam.
6
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ
chức đó có thể áp dụng một hình thức phạt nhất định đối với thành viên vi
phạm của mình.
Trong xã hội nói chung, kỷ luật là những quy định về hành vi của con
người theo những chuẩn mực do pháp luật, đạo đức quy định tùy theo từng
thời kỳ lịch sử trên cơ sở lợi ích của toàn xã hội hay của một giai cấp nhất
định. Kỷ luật mang tính tiến bộ khi nó bảo đảm sự phát triển của cả cộng
đồng và cá nhân, cũng như bảo đảm quyền tự do của cá nhân trong phạm vi
hợp lý và thống nhất với lợi ích của cộng đồng. Do mang tính tất yếu, khách
quan nên trong mỗi gia đình, cơ quan, tổ chức, trường học, bệnh viện,…nơi
nào cũng có sự tồn tại của kỷ luật, tùy theo các mối quan hệ xã hội khác nhau
mà hình thành nên các dạng kỷ luật khác nhau. Trong trường học có kỷ luật
của trường học, quân đội có kỷ luật quân đội, còn trong lao động có kỷ luật
lao động. Vậy kỷ luật lao động là gì?
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Kỷ luật lao động được hiểu là
chế độ làm việc đã được quy định và được sự chấp hành nghiêm túc, đúng
đắn của mỗi cấp, mỗi nhóm người, mỗi người trong quá trình lao động, tạo ra
sự hài hòa của tất cả các yếu tố sản xuất, liên kết mọi người vào một quá
trình thống nhất” [26].
Như vậy, theo nghĩa thông thường và đơn giản nhất, kỷ luật lao động là
những quy tắc quy định hành vi cá nhân của người lao động mà đơn vị sử dụng
lao động xây dựng dựa trên cơ sở pháp luật hiện hành, chuẩn mực đạo đức xã hội
và yêu cầu đặc thù của hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra một khuôn
khổ, trật tự làm việc nhất định buộc mọi người phải tuân theo trên tinh thần hợp
tác và nếu có sự vi phạm thì sẽ phải gánh chịu hình thức kỷ luật tương ứng.
8
Dưới góc độ pháp lý, với tư cách là một chế định của Bộ Luật lao
động, kỷ luật lao động là tổng thể những quy phạm pháp luật quy định trách
nhiệm, nghĩa vụ của người lao động đối với cơ quan, đơn vị mà mình làm
cán bộ, công chức. Do đó, kỷ luật lao động và kỷ luật cán bộ, công chức là hai
khái niệm khác nhau, không thể đồng nhất coi kỷ luật cán bộ, công chức là
một phần của kỷ luật lao động.
Như vậy, từ quá trình phân tích trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm
về kỷ luật lao động như sau: Kỷ luật lao động là những tiêu chuẩn quy định
hành vi cá nhân của người lao động dựa trên ý chí của người sử dụng lao
động và pháp luật hiện hành, người lao động có nghĩa vụ phải tuân thủ, nếu
có vi phạm xảy ra người lao động phải chịu trách nhiệm trước người sử dụng
lao động về hành vi vi phạm của mình.
* Về bản chất kỷ luật lao động:
Quản lý là hoạt động tất yếu, khách quan trong quá trình lao động
nhằm gắn kết, hướng hoạt động của các cá nhân đơn lẻ thành hoạt động chung
thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Các Mác từng nói rằng: “Quản
lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao
động” [11]. Nếu như không có hoạt động quản lý thì năng suất, chất lượng
lao động không thể đạt được hiệu quả cao như mong muốn.
Mặt khác, trong quan hệ lao động quyền quản lý lao động thuộc về
người sử dụng lao động, bởi họ là người nắm giữ các tư liệu sản xuất chủ yếu.
Đồng thời, với tư cách là người mua sức lao động của người lao động nên
người sử dụng lao động có quyền quản lý đối với quá trình làm việc của
người lao động nhằm đảm bảo đem lại hiệu quả cao nhất cho quá trình sản
xuất, kinh doanh. Còn người lao động có nghĩa vụ phải tuân theo sự sắp xếp,
điều hành của người sử dụng lao động.
10
Người sử dụng lao động có nhiều cách thức để thực hiện tốt quyền
quản lý lao động của mình, song một trong những cách thức quan trọng không
thể không nhắc tới đó chính là thiết lập kỷ luật lao động. Thông qua việc thiết
lập và duy trì kỷ luật lao động, người sử dụng lao động có thể dễ dàng quản
Mục đích của kỷ luật lao động là nhằm đảm bảo hành vi của người lao
động được đúng đắn, phù hợp với quy định của doanh nghiệp. Do vậy, việc
xây dựng và duy trì kỷ luật lao động không chỉ mang lại sự phát triển ổn định
cho doanh nghiệp, mà quan trọng hơn nó còn mang lại sự phát triển ổn định
cho đất nước trên nhiều phương diện khác nhau.
Trên phương diện kinh tế, kỷ luật lao động được chấp hành tốt sẽ làm
cho thời gian lao động hữu ích tăng lên kéo theo đó là sự phát triển của các
doanh nghiệp. Bởi lẽ , nguồn lực quan trọng hàng đầu cho sự phát triển kinh
tế - người lao động được sử dụng, phân bổ một cách hợp lý, khoa học phục vụ
tốt hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Cụ thể, người lao động với trình
độ, chuyên môn và tính kỷ luật cao sẽ đảm bảo cho quá trình vận hành các
máy móc, thiết bị của doanh nghiệp được liên tục, ổn định, giảm nguy cơ xảy
ra sự cố, tai nạn lao động,…qua đó góp phần làm tăng năng suất, chất lượng
sản phẩm, tránh lãng phí nguyên, nhiên vật liệu và làm tăng khả năng cạnh
tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt, đối với
những ngành, lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc gia, đến cuộc sống của mọi
người dân trong cả nước như: nhiệt điện, thủy điện, cầu, đường, hàng không,
hầm lò,... vấn đề kỷ luật lao động càng có ý nghĩa quan trọng. Sự chấp hành
nghiêm chỉnh kỷ luật lao động sẽ đảm bảo cho các ngành trọng yếu này được
phát triển ổn định, làm cơ sở cho sự phát triển chung của các ngành khác
trong xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước không ngừng tăng trưởng.
Ngoài ra, việc tuân thủ kỷ luật lao động còn là một trong các yếu tố
thu hút sự đầu tư của nước ngoài vào trong nước góp phần thúc đẩy tăng
12
trưởng kinh tế. Đồng thời, tận dụng được nguồn lực khoa học, kỹ thuật tiên
tiến của các nước trên thế giới vào trong sản xuất, làm xuất hiện nhiều ngành
nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao. Việc xuất hiện của các ngành nghề
này làm cho nền cơ cấu kinh tế của nước ta có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ
thể đạt được hiệu quả công việc một tối ưu. Mỗi một hành vi mà người lao
động thực hiện đều không được phép trái với quy định của kỷ luật lao động
hay nói cách khác, mỗi cá nhân người lao động sẽ phải có trách nhiệm thực
hiện nghiêm túc chế độ kỷ luật lao động do người sử dụng lao động ban hành,
bất kỳ hành vi vi phạm nào cũng có thể bị xử phạt tùy thuộc mức độ nghiêm
trọng và lỗi đã thực hiện.
Bên cạnh đó, kỷ luật lao động cũng là cách thức quan trọng để người
sử dụng lao động thực hiện quyền quản lý của mình trong việc tổ chức, điều
hành hoạt động của doanh nghiệp. Theo đó, người sử dụng lao động sẽ có
quyền tự chủ trong việc đề ra các mệnh lệnh, yêu cầu buộc người lao động
phải tuân theo nhằm đạt được những lợi ích mà họ mong muốn và tất nhiên,
các yêu cầu, mệnh lệnh này không được trái với quy định của pháp luật,
không được xâm phạm tới các quyền lợi cơ bản của con người. Mặc dù, các
quy định về kỷ luật lao động không phải là các quy phạm pháp luật nhưng
chúng lại có giá trị pháp lý buộc người lao động phải tuân theo. Do vậy, nếu
như người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật lao động, người sử dụng lao
động sẽ có quyền xử lý kỷ luật đối với họ. Quyền xử lý kỷ luật lao động là
một trong các quyền quản lý quan trọng của người sử dụng lao động được
pháp luật ghi nhận nhằm đảm bảo duy trì trật tự, nề nếp trong doanh nghiệp,
hỗ trợ người sử dụng lao động điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh một
cách hiệu quả.
Vai trò của kỷ luật lao động đối với người lao động:
Chấp hành tốt kỷ luật lao động không chỉ bảo vệ lợi ích của doanh
14
nghiệp mà còn bảo vệ lợi ích của chính bản thân người lao động. Thực tế đã
chứng minh, khi người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động, hiệu quả,
năng suất lao động của họ sẽ tăng lên, mục tiêu công việc đặt ra sẽ được hoàn
thành tốt, cơ hội thăng tiến của người lao động cũng dần rộng mở hơn. Bởi
1.2 Khái niệm, căn cứ áp dụng trách nhiệm kỷ luật lao động và hậu
quả pháp lý của việc áp dụng trách nhiệm kỷ luật lao động
1.2.1 Khái niệm trách nhiệm kỷ luật lao động
Trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, nói tới “trách nhiệm” là nói tới
bổn phận của một người mà họ phải hoàn thành, bổn phận này mang tính tích
cực, xuất phát từ ý thức của con người về vị trí, vai trò của mình đối với xã
hội, đối với gia đình và những người xung quanh. Vậy trách nhiệm kỷ luật lao
động phải được hiểu như thế nào?
Chúng ta đều biết, kỷ luật lao động có vai trò đặc biệt quan trọng để
thiết lập và duy trì trật tự, nề nếp trong các đơn vị lao động. Việc chấp hành kỷ
luật lao động là nghĩa vụ cơ bản của người lao động, do đó, để đảm bảo cho ý
thức chấp hành kỷ luật lao động của người lao động luôn được đề cao, người sử
dụng lao động có quyền áp dụng các chế tài xử phạt đối với người lao động có
hành vi vi phạm kỷ luật lao động. Người lao động phải chịu trách nhiệm trước
người sử dụng lao động về hành vi vi phạm của mình. Việc chịu trách nhiệm
này của người lao động làm hình thành lên trách nhiệm kỷ luật lao động.
Trách nhiệm kỷ luật cũng không phải là một loại trách nhiệm pháp lý,
trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm của người có hành vi vi phạm pháp luật
với Nhà nước. Trong đó, Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng
chế có tính chất trừng phạt được quy định trong chế tài của các quy phạm
pháp luật đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật thông qua các tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền.
16
Còn trong quan hệ pháp luật lao động, đối tượng áp dụng của trách
nhiệm kỷ luật lao động là người lao động khi họ có hành vi vi phạm kỷ luật
lao động, tức là người lao động phải chịu trách nhiệm trước người sử dụng lao
động về hành vi vi phạm kỷ luật lao động của mình chứ không phải chịu trách
pháp luật thì người sử dụng lao động không thể căn cứ vào các hành vi được quy
định trong nội quy để xử lý kỷ luật người lao động.
Hành vi vi phạm kỷ luật lao động thường được thể hiện dưới dạng
không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ lao động
được giao. Khi có hành vi vi phạm kỷ luật lao động xảy ra, người sử dụng lao
động cần tiến hành lập biên bản, trong nội dung biên bản phải xác định người
lao động đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ lao động cụ thể nào, thời gian, địa
điểm xảy ra vi phạm;…Ngoài ra, khi tiến hành xử lý kỷ luật lao động, mọi
trình tự, thủ tục đều phải tuân theo quy định của pháp luật, có như vậy kết quả
xử lý kỷ luật lao động mới không bị coi là trái pháp luật. Bởi trên thực tế, có
rất nhiều vụ kiện tụng về kỷ luật lao động đã xảy ra, tuy người lao động thật
sự có hành vi vi phạm kỷ luật và người sử dụng lao động đã áp dụng đúng
hình thức kỷ luật nhưng vẫn bị Tòa án tuyên là kỷ luật lao động trái pháp luật
do việc xử lý kỷ luật đã không được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục mà
pháp luật quy định. Bên cạnh đó, người sử dụng lao động cũng phải chú ý
rằng không phải mọi hành vi vi phạm nghĩa vụ của người lao động đều bị xử
lý kỷ luật lao động, bởi có những nghĩa vụ người lao động vi phạm nhưng
không xâm phạm đến trật tự trong doanh nghiệp thì cũng không phải xử lý kỷ
luật lao động.
- Thứ hai, lỗi của người lao động vi phạm: Lỗi là thái độ, tâm lí của
người lao động đối với hành vi vi phạm kỷ luật lao động và hậu quả do hành
vi đó gây ra. Một người lao động được coi là có lỗi nếu hành vi vi phạm đó là
kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi họ có đủ điều kiện chủ quan và
18
khách quan để lựa chọn, thực hiện cách xử sự khác phù hợp với yêu cầu, đòi
hỏi của doanh nghiệp. Do đó, khi có hành vi vi phạm xảy ra nhưng do các yếu
tố khách quan, bất khả kháng mà người lao động hoàn toàn không có lỗi thì
người sử dụng lao động cũng không thể xử lý kỷ luật đối với người lao động.
trọng. Bởi căn cứ vào yếu tố lỗi, người sử dụng lao động có thể lựa chọn ra
hình thức kỷ luật lao động tương ứng, phù hợp nhất. Người lao động chỉ có thể
bị xử lý kỷ luật lao động khi có lỗi. Vì vậy, khi tiến hành xử lý kỷ luật lao động,
người sử dụng lao động buộc phải chứng minh được lỗi của người lao động.
Ngoài căn cứ vào hai yếu tố chính là hành vi vi phạm kỷ luật lao động
và lỗi của người lao động thì khi áp dụng trách nhiệm kỷ luật lao động người
sử dụng lao động có thể căn cứ vào các yếu tố khác như: quá trình công tác,
cống hiến cho công ty của người lao động; hoàn cảnh gia đình;....để ra một
quyết định kỷ luật hợp tình, hợp pháp.
1.2.3 Hậu quả pháp lý của việc áp dụng trách nhiệm kỷ luật lao động
Việc áp dụng trách nhiệm kỷ luật lao động sẽ gây ra những hậu quả
pháp lý bất lợi cho người lao động, bằng cách buộc người lao động phải chịu
những hình thức kỷ luật nhất định, nhằm giáo dục, răn đe, giúp họ nâng cao ý
thức chấp hành kỷ luật lao động. Bởi thông qua việc áp dụng các hình thức kỷ
luật lao động khác nhau như: cảnh cáo, khiển trách, kéo dài thời hạn nâng
lương, cách chức hay sa thải,…mà quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động
trực tiếp bị ảnh hưởng nhiều hoặc ít. Trong đó, sa thải là hình thức kỷ luật
nặng nhất, khiến người lao động bị mất đi việc làm và không được hưởng trợ
cấp thôi việc. Ở mức độ nhẹ hơn là hình thức kỷ luật cảnh cáo, khiển trách
việc áp dụng các hình thức kỷ luật này hầu như không ảnh hưởng đến quyền
lợi của người lao động. Còn đối với hình thức kỷ luật cách chức, người lao
động sẽ bị người sử dụng lao động cho thôi giữ chức vụ đang làm mà chuyển
sang một vị trí công việc khác thấp hơn.
20