Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên THCS năm học 2016 2017 - Pdf 42

TRƯỜNG THCS ………….
TỔ ………………..

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
………….., ngày 10 tháng 4 năm 2017

BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN NĂM HỌC 2016 – 2017
Họ và tên giáo viên: …………….
Sinh ngày: …………………..
Tổ chuyên môn: ………………………….
Năm vào ngành giáo dục: …………………………
Nhiệm vụ được giao trong năm học: ……………………….
PHẦN I: CÁC CĂN CỨ HOÀN THÀNH BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG
THƯỜNG XUYÊN
- Căn cứ thông tư số 31/2011/TT-BGDĐT ngày 08 tháng 08 năm 2011 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo
viên trung học cơ sở.
- Căn cứ Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/7/2012 của Bộ GD&ĐT về việc
ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục
thường xuyên; Công văn số 698/SGDĐT-GDCN-TX ngày 16/4/2013 của Giám đốc Sở
GD&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế BDTX giáo viên mầm non, phổ thông
và GDTX; Công văn số 1428/SGDĐT-GDCN-TX ngày 18/7/2016 của Sở GD&ĐT
Quảng Bình về việc hướng dẫn công tác BDTX giáo viên năm học 2016-2017;
- Căn cứ công văn số 280/PGDĐT-BDTX ngày 3/8/2016 của Phòng GD&ĐT về việc
hướng dẫn công tác bồi dưỡng thường xuyên giáo viên năm học 2016-2017;
- Thực hiện Kế hoạch Số: 03 /2016/BDTX ngày 04 tháng 08 năm 2016 của trường
THCS Phù Hóa về việc bồi dưỡng thường xuyên giáo viên;
- Căn cứ vào kế hoạch năm học 2016 - 2017 của trường THCS Phù Hóa

Quan điểm chỉ đạo:
- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và
của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các
chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt
lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ
chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản
lý của Nhà nước đến hoạt động quản lý của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia
của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học,
ngành học.
Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân
tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh
những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài
hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có
trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.
- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển
toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực
tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
- Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và
bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan.
Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng
và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.
- Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học,
trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và
đào tạo.
- Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo
đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa,
hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát
triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên

giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày
càng hợp lý. Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức 20% tổng chi ngân sách
nhà nước. Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh; hệ thống giáo dục và đào tạo ngoài công
lập góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục và đào tạo chung của toàn xã hội. Công
tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyển biến nhất định.
Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm
2000; phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010; đang tiến tới phổ cập giáo dục
mầm non cho trẻ 5 tuổi; củng cố và nâng cao kết quả xóa mù chữ cho người lớn. Cơ hội
tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các đối
tượng chính sách; cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo.
Những thành tựu và kết quả nói trên, trước hết bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của
dân tộc; sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân, của mỗi gia đình và toàn xã hội; sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành ựu phát triển kinh tế-xã
hội của đất nước.
Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là
giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông
giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ
3


thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu
cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống
và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn
lạc hậu, thiếu thực chất.
Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu
cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề
nghiệp.
Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài chính cho

+ Không ngừng học hỏi, đúc kết kinh nghiệm từ các phương pháp giáo dục để đáp ứng
vào thực tế giảng dạy, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong việc tham gia các hoạt
động giáo dục, đổi mới phương pháp giáo dục.
+ Học tập các chuyên đề do Phòng giáo dục triển khai. Giáo viên cần nắm rõ nội dung,
yêu cầu, phương pháp thực hiện.
4


+ Tập huấn hòa nhập học sinh khuyết tật và tư vấn tâm lí học sinh giúp tôi tư duy sang
tạo, cởi mở trong trong quan hệ giao tiếp. Nắm bắt tâm lí những em học sinh đặc biệt sẽ
là cơ hội để tôi trau dồi kĩ năng lắng nghe tâm tư tình cảm từ đó có cách tư vấn phù hợp.
3.Tự nhận xét:
- Tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Tham gia học tập đầy đủ các buổi học chính trị, học bồi dưỡng thường xuyên.
- Chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà Nước.
- Rèn luyện phẩm chất đạo đức và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
II. NỘI DUNG BỒI DƯỠNG II:
Năm học 2016 - 2017, Sở GD và ĐT Quảng Bình tiếp tục lựa chọn lựa chọn và
biên soạn chương trình bồi dưỡng thường xuyên với chuyên đề: " Một số hình thức tổ
chức dạy học phân hóa đối tượng môn toán ở trường THCS" trong chương trình
Toán THCS.
Mục tiêu của đợt bồi dưỡng thường xuyên lần này là giúp giáo viên nắm được
phương pháp dạy phân hóa theo từng đối tượng học sinh khá – giỏi; Trung bình; Yếu kém trong công tác giảng dạy bộ môn toán THCS, phát triển tư duy sáng tạo cho học
sinh, phù hợp với thực tiễn dạy học của nhà trường nhằm năng cao chất lượng dạy học
môn Toán.
I. Mục tiêu
* Kiến thức
Trình bày và giải thích được ý nghĩa của dạy học phân hóa trong việc giúp đỡ
HSYK; Hiểu rõ và nắm vững các loại bài tập phân hóa giúp đỡ HSYK; Xác định được
cách tổ chức dạy học phân hóa ở một số chức năng điều hành quá trình dạy học, nhằm

- Phương pháp chung: Trong dạy học toán thì củng cố là một trong các chức
năng điều hành quá trình dạy học, luyện tập là một trong các hình thức củng cố nhằm
mục tiêu rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo. Muốn giúp HSYK nắm vững được nội dung kiến
thức đã học, từng bước khắc phục tình trạng yếu kém, thì sau khi học xong bài học
chúng ta cần giúp cho các em có nhiều bài tập vừa sức để có thể luyện tập được. Nếu
được luyện tập nhiều thì HSYK mới nắm vững kiến thức bài học và là tiền đề để có thể
học được những bài tiếp theo. Có như vậy mới tạo được động cơ, hứng thú cho HSYK
cố gắng vươn lên trong học tập. Muốn tạo cho HSYK niềm lạc quan bước vào luyện tập
chúng ta phải ra tăng hệ thống bài tập vừa sức với mức độ tăng dần từ dễ đến khó, giúp
HSYK được luyện tập được nhiều hơn ngay trong các tiết dạy chính khóa và khi làm
bài tập ở nhà.
- Cách ra bài tập:
+ Có thể phân hoá về yêu cầu bằng cách sử dụng những bài tập phân bậc: trong 1
bai có nhiều ý: dành đủ cho các loại đối tượng
+ Cũng có thể phân hoá về mặt số lượng: để hình thành một kiến thức, rèn
luyện một kỹ năng nào đó, số HSYK cần nhiều bài tập cùng loại hơn số các HS khác.
Những HS giỏi, thừa thời gian sẽ nhận thêm những bài tập khác để đào sâu và nâng cao.
Vì vậy GV nên ra đủ liều lượng bài tập cho từng loại đối tượng HS. Cũng như ở
trên lớp, những bài tập về nhà cũng sử dụng những pha phân hoá.
Trong việc làm này người GV cần lưu ý:
* Phân hoá về số lượng bài tập cùng loại: Tuỳ từng loại đối tượng mà GV
ra những bài tập thích hợp cho đối tượng đó. Ví dụ HSYK có thể giao nhiều bài tập
cùng loại để các em thực hành, HS khá giỏi giao thêm những bài nâng cao.
* Phân hoá về nội dung bài tập: Để tránh đ đòi hỏi quá cao đối với HSYK, giáo
viên cần ra những bài tập nhằm đảm bảo trình độ xuất phát cho những HSYK để chuẩn
bị cho bài học sau.
*Phân hoá yêu cầu về mặt tính độc lập: Bài tập cho HS khá giỏi đ đòi hỏi tư duy
nhiều, tư duy sáng tạo. Bài tập cho HSYK chứa các yếu tố dẫn dắt, chủ yếu bài tập
mang tính rèn luyện kỹ năng.
Một trong những nguyên tắc dạy học đó là: tạo niềm tin lạc quan học tập cho

sinh có trình độ từ trung bình trở lên, các bài tập cần được nâng dần mức độ, yêu cầu
nhằm củng cố vững chắc kiến thức trọng tâm, đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng của
bài học và trong cả chương trình.
2.4. Thiết kế bài tập có cùng dạng nhưng mức độ, yêu cầu thấp hơn bài tập trong
sách giáo khoa
Các bài tập trong sách giáo khoa là những bài tập cơ bản, điển hình giúp học sinh
thông qua luyện tập để củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và phát triển tư
duy. Nhưng đối với HSYK thường khó khăn trong việc luyện một số bài tập trong SGK,
nên chúng ta cần hạ thấp mức độ, yêu cầu các bài tập đó về dạng bài tập có cùng thể
loại nhưng mức độ, yêu cầu thấp hơn sách giáo khoa. Thực hiện được các BTBT
chuyển đổi này sẽ tạo tiền đề giúp các em thuận lợi hơn trong việc luyện các bài tập
cùng thể loại trong sách giáo khoa.
3. Thiết kế bài dạy phân hóa giúp đỡ HSYK
3.1. Xác định mục tiêu
a) Mục tiêu chung
b) Mục tiêu giúp đỡ HSYK
Xuất phát từ tư tưởng sử dụng những biện pháp phân hoá đưa diện HSYK lên
trình độ chung. Vì vậy, bên cạnh việc xác định mục tiêu chung cho cả lớp, GV cần xác
7


định rõ mục tiêu nào mà với nền tảng kiến thức của các em khó có thể chiểm lĩnh được
theo trình độ chung của cả lớp. Từ đó cần tập trung nhiều vào mục tiêu ấy để giúp đỡ
HSYK đạt được nội dung kiến thức. Việc giúp HSYK đạt được mục tiêu chung của bài
học không nhất thiết phải thực hiện ngay trong các tiết chính khóa, mà GV có thể giúp
đỡ HSYK đạt được những mục tiêu đó ở những tiết tự chọn, phụ đạo, ...
3.2. Thiết kế hoạt động dạy – học chủ yếu
Ta có thể phân trình độ học sinh thành ba nhóm đối tượng như sau:
* Nhóm 1: HSYK
* Nhóm 2: HS trung bình

thiết ở những học sinh này thường đòi hỏi công sức và thời gian nhiều hơn so với
8


những học sinh khác. Bởi đó là những học sinh đang gặp khó khăn, vấp váp trong
hoạt động học tập làm cản trở nhịp độ và khả năng lĩnh hội kiến thức ở mức bình
thường như những bạn bè cùng lứa tuổi.
Sự yếu kém có những biểu hiện nhiều hình nhiều vẻ, nhưng nhìn chung
HSYK thường có ba mặt đặc điểm sau đây:
- Nhiều lỗ hổng về kiến thức, kĩ năng.
- Tiếp thu chậm.
- Phương pháp học tập toán chưa tốt.
Có thể xem tình trạng HSYK hiện nay là một dạng “suy kiến thức” trầm
trọng, các em không còn khả năng tiếp thu và “tiêu hóa” những kiến thức mới. Bởi
vì với nền tảng kiến thức quá mong manh thì HSYK tiếp thu được bao nhiêu đơn
vị kiến thức trong các tiết dạy chính khóa, lấp được “lỗ hổng” cũ thì các “lỗ
hổng” mới về kiến thức và kỹ năng lại được hình thành. Cứ như thế giáo viên suốt
ngày chỉ có luôn phải “chạy theo” để “bổ túc” lại kiến thức cho học sinh. Cái mà
HSYK đang cần là tiếp thu một lượng kiến thức vừa phải để có thể “tiêu hóa”
được chúng. Vì vậy, bên cạnh việc bổ sung kiến thức nhằm lấp ‘‘lỗ hổng’’ cũ về
kiến thức, kỹ năng cho HSYK thì việc hạn chế hình thành ‘‘lỗ hổng’’ mới về kiến
thức và kỹ năng ngay trong các tiết học chính khóa là việc làm cần thiết giúp
HSYK từng bước khắc phục mức độ yếu kém để có thể sớm tiến tới học hòa nhập
với bạn bè cùng trang lứa.
Việc giúp đỡ HSYK cần được thực hiện ngay trong cả tiết dạy đồng loạt,
bằng những phương pháp phân hóa nội tại thích hợp. Có như vậy chúng ta mới
hạn chế được ‘‘lỗ hổng’’ mới về kiến thức và kỹ năng cho các em. Tuy nhiên,
ngoài việc giúp đỡ HSYK ngay trong các tiết dạy chính khóa, giáo viên cần có sự
giúp đỡ tách riêng đối với nhóm HSYK thông qua các tiết dạy tự chọn, phụ đạo ...
để các em nắm vững, nắm chắc nội dung kiến thức đã học.

b) Làm việc với nội dung mới
Việc hình thành nội dung kiến thức mới là nhiệm vụ trọng tâm của tiết học.
Trong một số tiết, nếu giáo viên sử dụng toàn bộ ví dụ, bài toán như trong sách
giáo khoa sẽ khó cho HSYK và học sinh trung bình tiếp thu được bài. Vì vậy, giáo viên
có thể lựa chọn một số nội dung khó để tổ chức dạy phân hóa giúp HSYK, bằng cách hạ
thấp mức độ, yêu cầu của các ví dụ, bài toán trong SGK. Hệ thống câu hỏi hoặc những
nhiệm vụ giao cho HSYK cần từ dễ đến khó, GV lấy thêm nhiều bài toán nâng dần mức
độ, yêu cầu để giúp HSYK đạt được chuẩn kiến thức, kỹ năng của bài học và giúp học
sinh trung bình nâng cao trình độ của mình.
c) Luyện tập, củng cố
Giáo viên cần thiết kế một số bài tập phân hóa vừa sức với trình độ của HSYK để
các em luyện tập, có thể lấy nhiều bài tập tương tự về thể loại và mức độ tương đương
nhau để HSYK được luyện tập nhiều lần, thông qua đó nắm được nội dung cơ bản của
tiết dạy. Giáo viên có thể hỗ trợ tiếp cho những học sinh không làm được bài tập trong
SGK bằng cách ra tăng bài tập cùng thể loại nhưng mức độ, yêu cầu thấp hơn bài tập
trong SGK.
Cần dành cho học sinh những lời khen ngợi, động viên giúp các em xây dựng
niềm tin trong học tập.
d) Giao bài tập về nhà
- Giao cho HSYK một số BTBT và một số bài tập dễ trong SGK.
- Giao cho học sinh trung bình các bài tập trong SGK.
e) Ví dụ
Khi sử dụng BTBT giúp đỡ HSYK trong bài: Tìm giá trị phân số của một số cho
trước (§14 - Toán 6 tập 2) giáo viên cần lưu ý một số vấn đề sau trong quá trình thực
hiện các chức năng điều hành quá trình dạy học:
(1) Kiểm tra bài cũ
10


Mục đích việc kiểm tra bài cũ là kiểm tra những kiến thức học sinh đã học có liên

- Nhóm 1: Kiểm tra câu hỏi, BTBT hoặc những bài tập có mức độ, yêu cầu vừa
sức với trình độ của HSYK.
- Nhóm 2: Kiểm tra câu hỏi, bài tập có cùng nội dung nhưng mức độ yêu cầu cao
hơn nhóm 1.
- Nhóm 3: Kiểm tra câu hỏi, bài tập có cùng nội dung nhưng mức độ yêu cầu cao
hơn nhóm 2.
GV có thể kiểm tra câu hỏi, bài tập phân hoá nếu bài tập đó đảm bảo yêu cầu
hoạt động cho cả ba nhóm đối tượng HS: Bồi dưỡng lấp lỗ hổng cho HSYK (bài a),
trang bị kiến thức chuẩn cho HS trung bình (bài b) và nâng cao kiến thức cho HS khá
giỏi (bài c).
11


Có thể cho HS trung bình và yếu kém làm tuần tự hai bài a; bài b những HS khá
giỏi có thể bỏ qua bài a; bài b và sử dụng thời gian đó để làm thêm bài c là một bài tập
nâng cao khác.
* Tổ chức nhận xét, đánh giá:
- Cho cả lớp nhận xét lần lượt đối tượng nhóm 1, nhóm 2 và nhóm 3.
- Khi nhận xét bài làm của nhóm 1 thì nên để học sinh trong nhóm 1 nhận xét
- Khi nhận xét nhóm 2 nên nhắc lại yêu cầu bài toán để cả lớp cùng hiểu, nếu
nhóm 1 nhận xét được thì ưu tiên cho nhóm 1 nhận xét, nếu không thì chuyển nhiệm vụ
nhận xét cho nhóm 2, nhóm 3.
- Khi nhận xét nhóm 3 nên nhắc lại yêu cầu bài toán để cả lớp cùng hiểu, nếu
nhóm 1, nhóm 2 nhận xét được thì ưu tiên cho nhóm 1, nhóm 2 nhận xét, nếu không thì
chuyển nhiệm vụ nhận xét cho nhóm 3.
b) Làm việc với nội dung mới
Dạy học phân hóa ở chức năng làm việc với nội dung mới là rất khó khăn, để làm
được điều này người GV phải nắm chắc nội dung kiến thức của từng bài và có sự đầu tư
nghiên cứu cho bài soạn. Để thực hiện phân hóa trong toàn bài là một điều khó có thể
thực hiện được vì thời gian không cho phép, song muốn giúp đỡ HSYK giáo viên cần

GV cần lựa chọn một số bài tập phân hóa với mức độ nâng dần cho cả ba nhóm
thực hiện, bài tập nhóm 1 là gợi ý, là tiền đề để làm bài tập nhóm 2. Bài tập nhóm 2 là
cơ sở để làm bài tập nhóm 3. Có như vậy mới tạo cơ hội cho nhóm 1 hiểu được bài tập
nhóm 2. Nhóm 1, nhóm 2 hiểu được bài tập nhóm 3, từ đó giúp cho HSYK và học sinh
trung bình từng bước nâng cao trình độ của mình.
* Tổ chức nhận xét, đánh giá:
- Cho cả lớp nhận xét lần lượt đối tượng nhóm 1, nhóm 2 và nhóm 3.
- Khi nhận xét bài làm của nhóm 1 thì nên để học sinh trong nhóm 1 nhận xét
- Khi nhận xét nhóm 2 nên nhắc lại yêu cầu bài toán để cả lớp cùng hiểu, nếu
nhóm 1 nhận xét được thì ưu tiên cho nhóm 1 nhận xét, nếu không thì chuyển nhiệm vụ
nhận xét cho nhóm 2, nhóm 3.
- Khi nhận xét nhóm 3 nên nhắc lại yêu cầu bài toán để cả lớp cùng hiểu, nếu
nhóm 1, nhóm 2 nhận xét được thì ưu tiên cho nhóm 1, nhóm 2 nhận xét, nếu không thì
chuyển nhiệm vụ nhận xét cho nhóm 3.
- Giáo viên có thể hỗ trợ tiếp cho những học sinh không làm được bài tập BTBT
theo mặt bằng chung của đa số HSYK bằng cách ra tăng bài tập cùng thể loại nhưng
mức độ thấp hơn bài tập chung của nhóm 1.
- Cần dành cho HSYK những lời khen ngợi, động viên khi các em đã làm được
bài tập dù là những bài tập đơn giản, giúp các em xây dựng niềm tin trong học tập.
d) Giao bài tập về nhà
- Giao cho nhóm 1 một số BTBT và một số bài tập dễ trong sách giáo khoa.
- Giao cho nhóm 2 làm một số bài tập trong sách giáo khoa.
- Giao cho nhóm 3 làm một số bài tập trong sách giáo khoa và một số bài tập
nâng cao khác.
5. Phân hoá việc kiểm tra, đánh giá HSYK
6. Một số biện pháp khác nhằm giúp đỡ HSYK
6.1. Xây dựng mối quan hệ thầy – trò đúng đắn, mẫu mực, thân thiện
6.2. Thiết lập hồ sơ theo dõi
6.3. Tư vấn cho phụ huynh học sinh về quản lý việc học thêm ở nhà
III. Những nội dung bản thân sẽ vận dụng vào thực tiễn giảng dạy và giáo

1. Trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy ở nhà trường chưa đáp ứng được
nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học, mà điều này không phải dễ dàng gì giải
quyết. đòi hỏi phải có sự giúp đỡ của các ban ngành, của cơ quan cấp trên.
2. Ý thức tự học của học sinh vẫn còn thấp, sự quan tâm của phụ huynh tới
việc học của các em còn những hạn chế vì vậy công tác xã hội hóa GD cần được nhà
trường và thầy cô quan tâm nhiều hơn nữa.
3. Việc dạy học phân hóa đối tượng cần nhiều thời gian và tâm huyết của quý thầy
cô vì vậy cần có sự quan tâm của BGH
4. Cần tổ chức hội thảo cấp cụm (huyện) về một số hình thức dạy học giúp học
sinh yếu kém khi học môn toán
III. NỘI DUNG BỒI DƯỠNG III:
MODUN 7: “HƯỚNG DẪN, TƯ VẤN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ”

Nội dung 1:
QUAN NIỆM VỀ HƯỚNG DẪN, TƯ VẤN CHO HỌC SINH
1. Hoạt động 1: Làm quen với khái niệm hướng dẫn, tư vấn cho học sinh.
1.1. Hướng dẫn và tư vấn cho học sinh
- Hướng dẫn là hoạt động được hiểu như là chỉ dẫn cho một vấn đề nào đó để đi
đến kết quả cuối cùng.
- Theo từ điển tiếng việt của Hoàng Phê: “ Tư vấn là góp ý kiến về một vấn đề
được hỏi nhưng không có quyền quyết định”.
- Tư vấn mang ý nghĩa như giảng giải, đưa ra lời khuyên có tính chất quan hệ một
chiều.
14


- Như vậy, theo một ý nghĩa nào đó hướng dẫn hay tư vấn là hoạt động nhằm trợ
giúp cho học sinh khi các em hỏi về một vấn đề nào đó.
- Tư vấn là một tiến trình, là sự tương tác, là nguồn tiềm năng và sự tự quyết.
+ Các vấn đề xã hội là một tiền trình, cần phải có thời gian quan sát, theo dõi,

- Những điều kiện giúp cho cuộc tư vấn thành công
+ Quá trình tư vấn có được sự cộng tác của các thân chủ.
+ Cần có thời gian và sự kiên tâm.
+ Phải đảm bảo tính khách quan, tính rõ ràng (test).
1.4. Những lí do cơ bản gây ra vấn đề ở thân chủ
- Về mặt khách quan
+ Những sáo trộn, căng thẳng trong cuộc sống (stress);
+ Các giai đoạn lứa tuổi;
+ Hệ thống nhu cầu: không thỏa mãn nhu cầu (vật chất, tinh thần...);
+ Vấn đề kinh tế;
+ Vấn đề thất bại: nghề nghiệp, tình cảm, thích nghi;
+ Các áp lưc xã hội: thường là áp lực về môi trường (làm việc, sống, văn hóa, tôn
g i á o . . ) n h ữ n g vấn đề giai cấp, cạnh tranh chèn ép, kì thị, các vấn đề liên quan đến
đời sống cộng đồng, có thể thân chủ là nạn nhân hoặc cảm nhận mình là nạn nhân.
- Về mặt chủ quan
+ Những người thụ động, những người không làm gì cả, thiếu nghị lực trong
hành động (dựa dẫm vào các quyết định của người khác, thiếu ý chí..) những người làm
việc ngẫu hứng, không có mục tiêu;
+ Những người bất lực, không có khả năng gánh trách nhiệm, người hay đổ lỗi,
không cân bằng trong đời sống (lí trí, tình cảm...), luôn thay đổi ý kiến, những người rối
loạn về tình cảm, lí trí, hành động.
- Tiêu chí đánh giá vấn đề của thân chủ
+ Thân chủ thấy không hài lòng, khó chịu về một mối quan hệ nào đó ( hay phàn
nàn, than phiền...).
+ Có những ứng xử gây sự bất bình đối với những người xung quanh.
+ Xuất hiện những cá tính hiếm thấy ở bản thân.
+ Có những lo âu, buồn chán, sợ hãi... ảnh hưởng đến hoạt động sống.
+ Có tính phi lí trong nhận thức (người khác cho là không bình thường) khi thân
chủ biểu hiện qua hành động.
+ Không thích nghi hoặc khó thích nghi với môi trường, luôn hành động theo

+ Cơ hội được tập huấn, bồi dưỡng về tư vấn, hướng dẫn cho học sinh.
+ Sự phát triển nghề tư vấn ở Việt Nam.
Nội dung 2:
CÁC LĨNH VỰC CẦN TƯ VẤN, HƯỚNG DẪN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ.

1. Hoạt động 1: Phân tích các lĩnh vực mà học sinh THCS cần tư vấn
Những lĩnh vực mà học sinh THCS cần tư vấn xuất phát từ những khó khăn tâm lí
bao gồm những lĩnh vục khó khăn tâm lí sau:
+ Khó khăn trong quan hệ ứng xử với thầy cô giáo
+ Giao tiếp với thầy cô (trạng thái tâm lí khi giao tiếp).
+ Sử dụng các phương tiện giao tiếp.
+ Tạo dựng mối quan hệ với thầy cô.
+ Ứng xứ phù họp với vị trí, vai trò của mình.
+ Khó khăn trong quan hệ ứng xử với bạn bè
+ Khó khăn trong quan hệ ứng xử với các thành viên trong gia đình
+ Khó khăn trong giao tiếp với cộng đồng
+ Khó khăn trong vấn đề hướng nghiệp
+ Khó khăn trong những công việc được tập thể giao phó
+ Những khó khăn trong các vấn đề về giới tính: Sự phát triển của cơ thể, những
18


vấn đề thầm kín của bản thân, những hiện tượng đồng tính luyến á i …
+ Khó khăn trong việc chấp hành những nội quy của nhà trường, của lớp.
2. Hoạt động 2: Một số nguyên tắc đạo đức khi thực hiện hoạt động tư vấn,
hướng dẫn
+ Nguyên tắc tôn trọng thân chủ trong quá trình tư vấn.
+ Nguyên tắc không phán xét đối tượng.
+ Nguyên tắc dành quyền tự quyết cho thân chủ.

những tác động nhỏ hằng ngày sẽ được dồn nén và khi bùng phát nó sẽ gây ra những tác
hại không nhỏ. Theo tác giả Võ Văn Bản, có thể chia nguồn gốc gây ra stress như sau:
* Nguồn gốc từ môi trường bên ngoài:

19


- Nguồn gốc từ cuộc sống gia đình: Những tác nhân gây stress từ phía gia đình đó
là những vấn đề có liên quan đến yếu tố kinh tế và tình cảm, những kì vọng của những
người trong gia đình đối với mỗi thành viên.
- Nguồn gốc từ môi trường xã hội: Đó là những yếu tố liên quan đến môi trường
sống, học tập và làm việc, những mối quan hệ, ứng xử xã hội, tâm lí xã hội…
- Nguồn gốc từ môi trường tự nhiên là những yếu tố như khí hậu, thời tiết, cảnh
quan…
* Nguồn gốc từ bản thân:
- Yếu tố sức khỏe: Những rối loạn bệnh lí mới xuất hiện, những bệnh lí ở giai
đoạn cuối hoặc những bệnh lí mãn tính, sự khiếm khuyết về thực thể.
- Yếu tố tâm lí: Đó là trình độ thích nghi của các thuộc tính tâm lí bao gồm năng
lực, ý chí, tình cảm, nhu cầu, trình độ nhận thức, kinh nghiệm của chủ thể.
2. Khái niệm về stress trong học tập.
2.1 Một số đặc điểm tâm lí đặc trưng của học sinh THCS
Học sinh THCS là những lứa tuổi từ 11 đến 15 đang học từ lớp 6 đến lớp 9. Đây
là thời kì phức tạp và quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân, là thời kì
chuyển từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành. Có một số đặc điểm tâm lí cơ bản như sau:
Sự phát triển không cân đối giữa chiều cao và trọng lượng, giữa xương ống tay,
ống chân, xương ngón tay, ngón chân đã dẫn đến sự thiếu cân đối. Các em rất lóng
ngóng, vụng về, không khéo léo khi làm việc, thiếu thận trọng, hay làm đổ vỡ.
Sự phát triển về mặt sinh lí cũng như sự biến đổi căn bản về mặt cơ thể, với nét
đặc trưng lớn nhất là sự phát dục đã dẫn đến nhiều biến đổi về mặt tâm lí
Điều kiện sống của các em cũng có nhiều thay đổi mạnh mẽ. Trong gia đình, các

trong cơ thể hoạt động nhiều dẫn đến giảm khả năng miễn dịch của cơ thể mà suy kiệt.
3.2. Phân loại stress dựa trên nguyên nhân.
Stress có thể phân ra làm ba loại cơ bản:
- Stress sinh thái: Đây là loại stress mà yếu tố gây nên nó có nguồn gốc từ sinh
thái. Loại này phát sinh từ mối quan hệ giữa môi trường bên trong và bên ngoài cơ thể
nhằm tạo ra những phản ứng khác nhau với các tình huống nhất định giúp chủ thể có
khả năng thích ứng.
+ Rối loạn chu kì nhịp sinh học: là loại stress sinh thái cơ bản nhất, nguyên nhân
là do con người không chịu tuân theo những sắp đặt sẵn của tự nhiên. Với điều kiện và
khả năng của mình, qua việc tổ chức cuộc sống như vậy đã rơi vào trạng thái stress.
+ Rối loạn nhịp ăn và ngủ: Đây là loại stress cũng được nghiên cứu nhiều cụ thể
với chế độ lao động nặng kèm với ít ngủ hoặc không ngủ, kèm theo chế độ ăn giảm calo
thì khả năng lao động cũng như trạng thái tâm lí và sinh lí biến đổi, giảm chất lượng do
bị stress.
+ Stress do chấn thương và bệnh tật: Nó trực tiếp làm tổn hại, suy giảm đến
chức năng hoạt động của thực thể. Nếu người bệnh được giải thích và hiểu cặn kẻ về
các triệu chứng của bệnh thì các triệu chứng ấy càng ít gây ra stress và ngược lại.
+ Stress do tiếng ồn: Nó tác động và gây trở ngại cho các hoạt động cần thiết cho
con người. Nếu tiếp xúc lâu dài với tiếng ồn, có cường độ cao, có thể làm tăng huyết áp,
giảm trí nhớ.
- Stress tâm lí xã hội: Những tác động của những biến cố được xem là rất lí
tưởng cũng có thể gây ra sự khởi phát stress, cụ thể:
+ Tâm lí xã hội, nhóm xã hội, trình độ tâm lí…. Là những yếu tố quan trọng tạo
ra những biến đổi trong đời sống tâm lí con người, gây nên stress tâm lí xã hội.
+ Sự thất vọng: Không đạt điều mong muốn sẽ gây nên sự khủng hoảng lòng tin.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất vọng nhưng nguyên nhân cơ bản là sự mất ổn
định chế độ, sự không phù hợp của chính sách kinh tế - xã hội
4. Xác định những ảnh hưởng của stress đến học tập của học sinh THCS
4.1. Ảnh hưởng của stress đến con người
Stress là căn bệnh của thời đại mà xuất phát của nó chủ yếu là từ môi trường, từ

Nhận thức của học sinh trước các tình huống học tập: Vốn hiểu biết có mâu
thuẩn với nhiệm vụ học tập vừa mới, vừa khó trong khi trình độ nhận thức còn hạn chế.
Thái độ của học sinh trước các nhiệm vụ của môn học đề ra, thấy mình không có
khả năng học, không hứng thú với môn học, không tìm thấy phương pháp học tập thích
hợp.
Đó là các yếu tố quan trọng có thể làm tăng thêm mức độ hay giảm mức độ stress
trong học tập của học sinh.
NỘI DUNG II. Biểu hiện và mức độ stress trong học tập của học sinh THCS
1. Phân tích các biểu hiện của stress trong học tập của học sinh THCS
1.1 Biểu hiện cụ thể của stress trong học tập của học sinh THCS
Stress của học sinh THCS được biểu hiện ở các trạng thái ứng phó tâm lí. Do đó,
nó vô cùng đa dạng và phức tạp. Trước yêu cầu của nhiệm vụ học tập, học sinh không
hoàn toàn bị động, sự tiếp nhận hay chống lại những nhiệm vụ ấy tạo nên những biến
đổi đồng loạt của các phẩm chất, nhân cách cụ thể:
- Biểu hiện về nhận thức trong học tập: Thể hiện ở sự biến đổi trong nhận thức
về môn Toán: ghi nhớ kém, hay nhầm lẫn trong tính toán…
22


- Biểu hiện về mặt sinh lí: Đau đầu, chán ăn, mê sảng, ác mộng, chân tay run,
toát mồ hôi, khó thở…
- Biểu hiện về mặt tâm lí: Thể hiện sự không tập trung, mặc cảm tự ti về năng
lực bản thân, cảm thấy buồn bã, chán nản hay cáu gắt với người khác…
1.2 Mức độ stress trong học tập của học sinh THCS
* Mức độ stress
- Stress bình thường: Là chương trình thích nghi bình thường, đảm bảo hoạt
động sống bình thường, không có biểu hiện rối loạn.
- Mức độ stress cao: Là chương trình thích nghi xuất hiện những biến đổi tâm,
sinh lí nhất định khi có tác nhân gây stress từ mức nặng đến cực hạn.
Mức độ stress trong học tập của học sinh THCS được đánh giá trên cơ sở của các

dưỡng thuộc phần bụng được phục hồi. Ngoài ra còn cung cấp thêm ôxi cho cơ thể.
23


- Chơi đùa với thú nuôi: Thú nuôi rất có ích cho việc giải tỏa stress cho con
người. Người ta có thể tâm sự những buồn vui với vật nuôi trong nhà.
- Thư giãn: Sau mỗi công việc căng thẳng, cần có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn
với tất cả những loại hình mà mình thíc
- Cười: Không chỉ mang lại sự vui vẻ, thoải mái mà cơ thể còn tiết ra monphine
tự nhiên, tạo khả năng chống stress.
- Thưởng thức nghệ thuật: Ngắm nhìn một bức tranh, nghe một bản nhạc mà
mình yêu thích.
- Massage: Mỗi ngày dành 30 phút để làm việc này sẽ làm cho hiện tượng co cơ
giảm đi một cách rõ rệt.
- Tập thể dục buổi sáng, đi bộ: Làm lưu thông khí huyết, hít thở không khí trong
làn
- Thiền: Luyện cho tinh thần và cơ thể tránh những căng thẳng thường nhật, tăng
cường hoạt động có hiệu quả của hệ tuần hoàn và tim mạch, giúp các khớp trong cơ thể
có độ đàn hồi, ngăn ngừa bệnh loãng xương, chống được sự mất ngủ, lo lắng, buồn
phiền.
3. Làm quen với một số phương pháp trợ giúp học sinh THCS ứng phó với
stress trong học tập.
3.1 Những nguyên tắc trợ giúp về mặt tâm lí
- Chăm sóc cho sức khỏe và tránh những nguy hiểm có thể có.
- Can thiệp sớm một cách trực tiếp, chủ động và bình tĩnh.
- Tập trung vào những vấn đề của hiện tại.
- Cung cấp những thông tin chính xác về những gì đã xảy ra.
- Không nói những điều không có khả năng thực thi.
- Tìm ra những vấn đề quan trọng cần phải giải quyết.
- Đoàn tụ gia đình.

+ Tập hợp thông tin, đánh giá và xác định vấn đề: Mục đích của giai đoạn này
là tìm hiểu những mối quan tâm chủ yếu của đối tượng, xác định những mặt mạnh và
hạn chế sẽ ảnh hưởng đến khả năng giải quyết vấn đề. Để đạt mục đích đó, nhà tham
vấn cần tìm hiểu hoàn cảnh đối tượng, gồm cả môi trường xã hội, giáo dục, gia đình,
tình cảm, thể chất, tâm lí.
+ Hỗ trợ để học sinh tìm kiếm các giải pháp và lựa chọn giải pháp phù hợp:
Mục tiêu nổi bật của giai đoạn này là nhà tham vấn trợ giúp đối tượng xác định phương
hướng thiết thực cho cuộc sống. Trong giai đoạn này, nhà tham vấn và đối tượng xác
định các gốc độ khác nhau để giải quyết vấn đề, cố gắng chia nhỏ những vấn đề có qui
mô lớn thành các bước nhỏ dễ xử lí hơn.
+ Trợ giúp đối tượng thực hiện giải pháp: Trong quá trình thực thi các giải
pháp, nhà tham vấn cần kiểm tra quá trình thực hiện theo định kì. Trong quá trình này,
nhà tham vấn và đối tượng cần kịp thời phát hiện, xử lí những những khó khăn mới phát
sinh trong quá trình thực hiện.
C. KẾT THÚC: Giống như nhiều dịch vụ khác, khi giải pháp và điều kiện thỏa
thuận hai bên đạt được, những đối tác có liên quan đến dịch vụ đó sẽ đi đến kết thúc.
Tham vấn tâm lí cũng không phải là ngoại lệ. Khi đối tượng tự giải quyết được vấn đề,
bước kế tiếp là kết thúc dịch vụ tham vấn tâm lí.
Module 14: "XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH HỢP"
A- NỘI DUNG 1: DẠY HỌC TÍCH HỢP

1/ Những vấn đề chung về dạy học tích cực: (1 tiết)
1.1/ Khái niệm:
Tích hợp trong tiếng Anh là integrated, nghĩa là "tập hợp, tích cóp ,nhóm gọn
một hoặc nhiều các phần tử riêng lẻ vào cùng một diện tích".
Theo từ điển tiếng Việt, Tích hợp là sự tập hợp hay thu gọn thành phần một cách
nhỏ gọn nhất có thể.
Theo tự điển giáo dục: Dạy học tích hợp là hành động liên kết các đối tượng
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong
cùng một kế hoạch dạy học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status