A . MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Tập làm văn có vai trò quan trọng trong việc trau dồi ngôn ngữ cho học
sinh. Làm công cụ tư duy, giao tiếp, học tập và trong cuộc sống. Góp phần làm
giàu cho học sinh về cách nhìn nhận thế giới xung quanh các em, giúp các em
phát triển ngôn ngữ, phát triển tư duy, năng lực liên tưởng và sáng tạo. Qua đó
bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mỹ và nhân cách cho các em.
Tập làm văn là môn học có yêu cầu tổng hợp, mức độ cao nhất trong quá
trình học của học sinh. Nó mang tính thực hành toàn diện, đòi hỏi học sinh phải
có kiến thức tổng hợp và sáng tạo. Môn Tập làm văn là tổng hợp kiến thức của
các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Kể chuyện trong môn Tiếng
Việt. Do đó môn Tập làm văn được xem là môn học khó đối với học sinh Tiểu
học nói chung và đặc biệt rất khó khăn đối với học sinh dân tộc thiểu số nói
riêng.
Trên thực tế, dạy học Tập làm văn ở trường Tiểu học Tình Thương là môn
học rất khó đối với các em và giáo viên. Thông thường, rèn cho các em các kĩ
năng đọc thông, viết đúng chính tả đã là một điều vất vả đối với giáo viên ở đây.
Khả năng tiếp nhận kiến thức của các em quá yếu so với mặt bằng chung, đặc
biệt là việc dạy học môn Tiếng Việt. Học sinh phần lớn là học sinh dân tộc thiểu
số tại chỗ chiếm 98% (gồm dân tộc Ê – đê, dân tộc Mnông). Trong phân môn
Tập làm văn phần lớn các em chưa biết viết, vốn từ để diễn đạt hết sức hạn chế.
Hiện nay có rất nhiều loại sách “Những bài văn mẫu” dùng cho học sinh tham
khảo. Song những bài văn mẫu đôi khi không sát với thực tế, từ ngữ sử dụng quá
xa vời với các em. Thế nhưng, vì vấp phải nhiều khó khăn trong dạy học của
phân môn này, đôi lúc giáo viên quá dựa dẫm, ỉ lại vào những cuốn sách văn
mẫu, cho học sinh học thuộc các bài văn mẫu, sao chép y nguyên bài văn mẫu
vào bài làm của mình. Vô tình chúng ta đã đánh mất rèn kĩ năng diễn đạt cho
các em, làm cho các em lười tư duy, không có tính sáng tạo. Cách cảm, cách
nghĩ của các em không phong phú mà còn đi theo lối mòn khuôn sáo, tẻ nhạt.
Đôi khi có những câu văn trong bài văn mẫu, các em cứ chép nhưng không hiểu
nội dung.
sinh thiểu số vùng khó khăn lớp 5 trường Tiểu học Tình Thương.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp nhận định, khái quát hoá
2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp làm mẫu
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích các sản phẩm của học sinh.
- Phương pháp nêu gương
3. Nhóm phương pháp thống kê toán học:
- Phương phápphân tích số liệu
- Phương pháp thống kê
-Phương pháp tổng hợp, đánh giá.
2
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI :
- Tiếng Việt ngôn ngữ chính thức trong nhà trường (Điều 5, chương 1,
Luật Giáo dục)
- Giáo dục Tiểu học được thực hiện bằng tiếng Việt (Điều 4 chương I
Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu học)
Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông trong giao tiếp. Dạy tiếng Việt nhằm
bảo tồn, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn nền văn hóa cao đẹp của
đất nước và con người Việt Nam. Thứ trưởng Bộ GD& ĐT Nguyễn Vinh Hiển
đã khẳng định: “Tiếng Việt là khâu quan trọng nhất trong quyết định giáo dục
học sinh dân tộc thiểu số. Do vậy, nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho
từ.
Đứng trước thực trạng trên, giáo viên gặp rất khó khăn trong việc dạy văn
miêu tả. Một số giáo viên ngại khai thác, hướng dẫn kèm cặp học sinh mà lạm
dụng phương pháp làm mẫu, dẫn đến HS nhìn bài mẫu chép hoặc nhìn bài bạn
chép. Đôi khi giáo viên dạy không đúng trình tự, chưa liên kết các tiết dạy TLV
để đi đến hoàn chỉnh một bài văn theo cấu trúc chương trình biên soạn của SGK
hoặc quá dựa dẫm vào SGK, quá cứng nhắc dựa vào gợi ý trong SGK, chưa dám
thoát ly SGK. Một vài giáo viên chưa chú ý đến dạy tích hợp Tập làm văn vào
các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện,... hay bồi dưỡng kĩ năng
viết văn, làm giàu vốn từ, sử dụng vốn từ, cảm thụ thơ văn,... trong các tiết học
này để hỗ trợ dạy tốt phân môn Tập làm văn. Việc sử dụng đồ dụng dạy học của
giáo viên đôi khi chưa khai thác triệt để kênh hình giúp HS quan sát tìm ý hoặc
bỏ qua bước quan sát tìm ý hay lập dàn ý vì nghĩ học sinh không làm được hoặc
mất thời gian nên giáo viên hay đốt cháy giai đoạn. Do đó tỉ lệ học sinh biết viết
văn miêu tả rất hạn chế.
III. NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA GIẢI PHÁP:
1. Mục tiêu: Giúp học sinh
+ Có thói quen quan sát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế
giới xung quanh.
+ Biết chọn lọc từ ngữ (đặc biệt là từ ngữ có biểu cảm), trình bày suy nghĩ
của mình một cách mạch lạc (sống động), thành những câu văn sáng rõ về nội
dung, có tình cảm chân thực.
+ Bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, con người; bồi dưỡng vốn
sống, vốn ngôn ngữ và khả năng giao tiếp cho các em.
2. Nội dung và cách thức thực hiện:
Chất lượng học sinh là một vấn đề được tất cả giáo viên quan tâm hàng
đầu. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm. Tôi rất
quan tâm và lo lắng về chất lượng học sinh của lớp mình phụ trách. Xác định rõ
Tập làm văn là môn học hết sức quan trọng nhưng lại rất khó khăn đối với các
em. Điều đó làm tôi suy nghĩ, mày mò tìm các giải pháp để cải thiện chất lượng
miêu tả. Khi dạy từng dạng cấu tạo của bài văn miêu tả của mỗi bài, ở phần nhận
xét đều có một bài văn tả tương ứng. Giáo viên cần cho học sình tìm hiểu kĩ và
đưa ra nhận xét về cấu tạo của từng dạng văn. Sau đó cho học sinh nêu cấu tạo
của dạng văn miêu tả. Nội dung này đối với học dân tộc thiểu số phải được nhắc
đi nhắc lại nhiều lần và được củng cố liên tục ở các tiết sau đó.
Ví dụ: Cấu tạo của bài văn miêu tả cảnh
Bài văn miêu tả cảnh thường có ba phần:
1. Mở bài: Giới thiệu cảnh sẽ tả
2. Thân bâì:
- Tả bao quát (Nhìn từ xa, trông cảnh đó như thế nào?)
- Tả chi tiết từng phần của cảnh (Ví dụ: Tả dòng sông thì chọn tả hình
dáng: dài, uốn khúc, thẳng tắp,...Màu sắc sông: màu đỏ nặng phù sa...Cảnh hai
bên bờ sông : những lũy tre xanh, những rặng dừa trĩu nặng, nhà cửa ven sông
…Cảnh trên dòng sông: thuyền, ghe, bạn nhỏ tắm sông, lục bình trôi,...Hoạt
động của con người trên dòng sông…) hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời gian.
3. Kết bài: Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của người viết.
5
3. Chọn đề tài gần gũi và có nhiều lựa chọn đối với học sinh.
Là đối tượng học sinh dân tộc thiểu số vùng khó khăn nên khả năng tư
duy liên tưởng của các em gặp nhiều hạn chế. Vì đời sống sinh hoạt của các em
chưa phong phú, khả năng diễn đạt bằng tiếng Việt cũng vậy. Do đó, giáo viên
cần phải cân nhắc, lựa chọn đề tài gần gũi với các em thường ngày mà các em
hay tiếp xúc và nên đưa ra nhiều dạng đề để các em có nhiều lựa chọn.
Ví dụ:
- Tả cảnh: Cảnh trên sân trường, cảnh nơi em ở,...
- Tả người : Nên yêu cầu các em tả người thân, bạn bè, thầy cô,..
Có lẽ khó khăn nhất đối với học sinh là viết văn tả cảnh. Chẳng hạn, với
đề bài sau: Lập dàn ý bài văn tả cảnh một buổi sáng (trưa, chiều) trong vườn cây
ngăm đen và khuôn mặt hình trái xoan” nhưng trên thực tế thì mẹ em đó nước
da trắng và chiều cao khiêm tốn. Hay tả bạn thì bạn nào cũng khuôn mặt trái
xoan,...
Do đó chúng ta cần hướng dẫn trẻ quan sát và hình thành thói quen quan
sát vì muốn miêu tả tốt thì quan sát phải tốt và có được những nhận xét đúng để
tìm ra được sự khác biệt, nét đặc trưng của sự vật, hiện tượng để có thể phân biệt
sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác. Vai trò người giáo viên đối
với hoạt động này hết sức quan trọng, các em không biết quan sát từ đâu, tìm ý
như thế nào? Là người tổ chức hướng dẫn các em cần hướng dẫn các em dựa
vào cấu tạo của từng dạng văn miêu tả để quan sát, tìm ý.
a. Bồi dưỡng vốn từ:
Biết quan sát, cần phải dùng từ như thế nào để miêu tả là rất khó đối với
các em. Các em ở đây vốn từ nghèo nàn, thế nên trong dạy học nhiều khi học
sinh hiểu bài nhưng khi đứng lên trả lời, không thể nào diễn đạt được. Trong
Tập làm văn, khi diễn đạt các em thường dùng sai từ, nhầm lẫn từ do không hiểu
nghĩa của từ nên đặt sai chỗ hoặc đôi khi các em dùng từ đặt câu quá thật.
Ví dụ: Các câu văn tả bạn, có những em sử dụng từ sai: “ Khuôn mặt tròn
giống như hai hòn bi xanh.”; “ Mũi bạn ấy giống như hình trái xoan.”; “Răng to
như sữa bò.”;
“Bạn rất kính yêu chúng em.”... Hay chỉ liệt kê, dùng từ quá thật “Mũi bạn dài
và nhỏ.”; “Cái mũi rất tẹt.”; “ Miệng rất nhỏ.”...
Do những tồn tại trên, mỗi đề bài tôi thường gợi ý, hướng dẫn học sinh
cách tìm từ ngữ để miêu tả dựa vào sự hiểu biết của mình hoặc giáo viên cung
cấp từ mới cho các em. Hướng dẫn các em tìm từ bằng nhiều hình thức như:
quan sát thực tế, qua tranh ảnh, xem phim, nhất là qua các phân môn khác của
môn Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu, môn Tập đọc để giúp
các em hiểu từ. Khi viết câu, tôi lại hướng dẫn các em cách dùng từ, hiểu từ
mình đang dùng, bày cách liên tưởng, tìm hình ảnh so sánh, nhân hóa để viết
câu văn cho hay hơn. Chẳng hạn:
b. Hướng dẫn học sinh biết cách lựa chọn chi tiết để tả và dùng từ đặt
ảnh cảm xúc, tôi lại hướng dẫn học sinh cách viết để câu văn hoàn chỉnh và hay
hơn.
Ví dụ: Trong bài văn tả bạn H Kim, có em viêt: “Cái trán cao, tóc dài
ngang vai.”
Tôi chép câu văn lên bảng và hỏi:
+ Câu văn bạn viết đã giàu tính gợi tả chưa hay còn mang tính liệt kê?
+ Dựa vào đặc điểm của bạn H Kim là một bạn thông minh, nhanh nhẹn,
tóc ngang vai hay buộc cao, vầng trán cao. Vậy ta cần thay đổi câu văn này như
thế nào, để miêu tả bạn H Kim toát lên được những đặc điểm đó?
Sau khi gợi ý cho học sinh nêu, tôi giúp học sinh chỉnh sửa và hoàn chỉnh
câu văn có hình ảnh cảm xúc hơn, làm nổi bật đặc điểm của bạn H Kim: “Mái
tóc dài chấm ngang vai, luôn được bạn buộc cao như tóc đuôi gà, để lộ vầng trán
cao, toát lên vẻ thông minh, nhanh nhẹn vốn có của bạn.”
Giáo viên hướng dẫn học sinh cách lựa chọn từ khi tả. Ví dụ từ thường dùng
khi làm bài văn tả người:
8
- Tả thân hình, dáng người: Cao, lùn, gầy gò, ốm yếu, nho nhỏ, nhỏ thó,
tầm thước, xương xương, mảnh khảnh, dong dỏng, thon thả, đẫy đà, yểu điệu,
béo phệ, mập mạp, lực lưỡng, vạm vỡ, trẻ trung, quắc thước,cân đối, gầy guộc,
mảnh mai, cường tráng, tiều tuỵ, lụ khụ, uể oải, bụ bẫm…
- Tả khuôn mặt, diện mạo: Bầu bĩnh, trẻ măng, hồng hào, đen sạm, rám
nắng, xanh xao, tái mét, xanh tái như chàm, không còn chút máu, vuông vắn,
vuông chữ điền, trái xoan, hốc hác, vô tư, đần độn, thông minh sáng sủa, khôi
ngô, khả ái, xấu xí, rỗ như tổ ong, tươi tỉnh, niềm nở, hớn hở, ủ rũ, cau có, bơ
phờ, hung tợn, ngờ nghệch khờ khạo, lầm lì, là lạ, đạo mạo, thơ ngây, nhăn
nheo, thờ thẫn, đăm chiêu, thiểu não, hiền hậu, dễ thương,…
- Tả làn da: Nhăn nheo, xanh như tàu lá, bạch tạng, trắng nõn, trắng trẻo,
cách dùng từ miêu tả mà còn phải hướng dẫn học sinh cách dùng các biện pháp
nhân hóa, so sánh mà các em đã được học, đưa vào bài để miêu tả sự vật được
sinh động hơn. Rất khó đối với các em là cách liên tưởng để tìm hình ảnh so
sánh sự vật.
Ví dụ: Tìm từ so sánh với mặt trời thì cần hướng dẫn học sinh:
+ Mặt trời có hình gì? Giống cái gì? (hình tròn giống như quả cầu)
+ Mặt trời có màu gì? Giống hình ảnh nào? (đỏ rực, giống như lửa)
Dẫn dắt học sinh đặt câu: "Mặt trời thì đỏ rực như quả cầu lửa",
Tương tự để có câu: "Mảnh trăng cong cong như lưỡi liềm"
- Đối với những học sinh khá, giỏi, giáo viên cần hướng dẫn học sinh
cách sáng tạo câu văn bằng cách liên tưởng, so sánh sự vật nâng cao hơn. Ví dụ:
Khi miêu tả “Hồ nước lặng yên” thì cho học sinh so sánh với trạng thái "lặng
yên" của con người. Giáo viên có thể hỏi: Khi nào con người lặng yên? và học
sinh có thể tìm ra được các từ " khi ngủ, khi nhớ, khi buồn, khi mơ mộng, ..."
Như vậy, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh viết được rất nhiều câu: Hồ nước
lặng im như chìm vào giấc ngủ./Hồ nước lặng im như đang mơ mộng với những
đám mây trắng./Hồ nước lặng im như đang buồn bã điều gì./ Hồ nước lặng im
như đang nhớ những vì sao lấp lánh buổi đêm....
- Giáo viên cần tổng quát được cách dùng từ ở từng dạng văn miêu tả, để
định hướng tốt cho các em khi viết văn:
+ Tả cảnh thường dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dạng, đặc điểm, có thể so
sánh, nhân hoá làm cho cảnh vật được miêu tả thêm sinh động; cần bộc lộ cảm
xúc trước sự vật được miêu tả trong cảnh.
+ Tả người thường dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dáng, màu sắc, âm
thanh; từ ngữ chỉ hoạt động, đặc điểm, trạng thái của người; có thể sử dụng biện
pháp liên tưởng, so sánh để miêu tả cho sinh động và bộc lộ mối quan hệ tình
cảm với người được tả.
2.5. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý và xây dựng đoạn văn phần thân
bài:
Đây là một hoạt động hết sức quan trong làm văn miêu tả. Thế nhưng một
+ Phần kết bài, em nêu cảm nghĩ của mình đối với ngôi trường như thế
nào?
*Lưu ý: Các em có thể tả cảnh trường vào một thời điểm nhất định hoặc
theo thứ tự thời gian trong ngày như sáng đến chiều hay theo mùa. Khi quan sát,
các em nên quan sát từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, nắm được điểm chung và
riêng của cảnh, chú ý vào những điểm nổi bật nhất của cảnh. Sự liên quan của
cảnh vật đó với cảnh vật xung quanh như con người, chim chóc, thiên nhiên,...
- Tổ chức nhận xét, bổ sung hoàn thiện dàn ý: Để giúp học sinh có một
dàn ý hoàn chỉnh, giáo viên cho học sinh đọc dàn ý của mình cho cả lớp nhận
xét, bổ sung, giáo viên giúp đỡ để các em hoàn chỉnh dàn ý.
Dàn ý bài văn tả ngôi trường Tiểu học Tình Thương:
*Mở bài
+ Trường em mang tên Trường Tiểu học Tình Thương
+ Ngôi trường chưa khang trang nhưng cảnh vật thật là hiền hòa.
*Thân bài
+ Nhìn từ xa ngôi trường nhỏ bé, yên.
11
+ Biển trường xanh đậm, nổi rõ hàng chữ trường Tiểu học Tình Thương
màu trắng.
+ Tường được sơn màu vàng
+ Sân trường được lát gạch hình chữ T, giữa có lá cờ đỏ sao vàng tung
bay phấp phới.
+ Bao quanh sân gạch là những bồn hoa được chúng em chăm sóc cẩn
thận.
+ Có 3 dãy phòng học và một dãy phòng chức năng.
+ Lớp học rộng rãi, thoáng mát, bàn 2 chỗ ngồi, trang trí rất đẹp, có đầy
đủ quạt điện, đèn điện, sáng nào chúng em cũng vệ sinh sạch sẽ.
+Từ cổng nhìn thẳng vào là dãy phòng chức năng, phòng đầu tiên bên
“ Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn thương con.”
Ôi! Tình mẹ yêu con chỉ có thể so sánh với biển nước mênh mông. Mẹ!
Người em yêu nhất trên đời. (mở bài bằng câu thơ)
b. Hướng dẫn học sinh xây dựng kết bài:
Cũng như mở bài, kết bài cũng có hai cách đó là kết bài mở rộng và
không mở rộng.
Để giúp học sinh có cách mở bài và kết bài phong phú, đa dạng. Trước hết
người giáo viên phải giúp học sinh hiểu: Thế nào là kết bài mở rộng và không
mở rộng?
+ Kế bài mở rộng: Sau khi cho biết kết cục, có lời bình luận thêm
+ Kế bài không mở rộng: Cho biết kết cục, không bình luận gì thêm.
Ví dụ: Kết bài của một bài văn tả đẹp
- Kết bài mở rộng:
Mỗi lần ngắm cảnh nơi đây, lòng em lại dâng trào một cảm xúc lâng lâng
khó tả vì được tự do thưởng thức sự ưu đãi vẻ đẹp tuyệt vời mà thiên nhiên dâng
tặng cho con người. Chúng ta hãy quý trọng thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên để
được chiêm ngưỡng vẻ đẹp tuyệt vời ấy.
-Kết bài không mở rộng:
Em rất yêu cảnh nơi đây. Em mong rằng sẽ có dịp quay lại để được chiêm
ngưỡng cảnh đẹp tuyệt vời mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta.
2.7. Hướng dẫn học sinh hoàn chỉnh bài văn.
Sau các tiết lập dàn ý, xây dựng mở bài, kết bài, xây dựng đoạn văn
thường có tiết viết hoàn chỉnh bài văn. Trước khi yêu cầu viết một bài văn hoàn
chỉnh, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tổng hợp, liên kết các tiết trước để giúp
các em có một bài văn hoàn chỉnh.
Ví dụ:
+ Bài văn gồm có mấy phần? Đó là những phần nào?
+ Mở bài có mấy cách? Nêu từng cách mở bài?
+ Thân bài được trình bày như thế nào? (Có thể trình bày thành nhiều
nghiệm trên thực tế dạy học ở trường Tiểu học Tình Thương. Sau một năm học ,
tôi thấy trong viết văn miêu tả các em đã làm chủ được vốn từ, các em linh hoạt
hơn trong viết văn cũng như trong giao tiếp. Bài văn của mỗi em đều có sắc thái
riêng, mang tính sáng tạo và thực tiễn cao. Đa số học sinh xác định đúng đề, làm
bài đảm bảo về cấu trúc, trong đó có một số bài giàu hình ảnh, cảm xúc, diễn đạt
rõ ràng, mạch lạc. Qua khảo sát chất lượng, kết quả cụ thể trong đầu năm so với
cuối năm như sau:
14
Điểm
T
Thời
Lớp
S
điểm
H
S
5a2
Đầu
năm
Cuối
năm
20
1-2
11
55,0
7
9-10
%
S
%
L
Trên
điểm 5
SL
%
10,0
13
65,0
35,0 2 10,0
20
em, ngược lại cần phải động viên khích lệ và khen thật nhiều dù chỉ là sự tiến bộ
nhỏ, mới giúp các em hứng thú trong học tập và tiếp thu bài tốt.
- Đọc sách báo thường xuyên để có thêm vốn ngôn ngữ trong cuộc sống,
bồi dưỡng khả năng cảm thụ văn và cảm xúa khi viết văn để đưa vào giảng giải
giúp học sinh dễ hiểu bài.
15
%
35,0
- Phải tạo được thói quen tự giác học tập, chuẩn bị bài ở nhà, đọc bài và tự
tìm hiểu nội dung, quan sát thế giới xung quanh.
- Tăng cường mượn sách, báo cho học sinh đọc thêm sách, báo,
truyện,...hoặc nhắc nhở các em lên thư viện đọc sách để giúp các em hiểu biết
thêm về cuộc sống quanh em, từ đó tự tin để bộc lộ của mình, nâng cao khả
năng nói, viết .
Đối với phân môn Tập làm văn là rất khó đối với học sinh Tiểu học nói
chung. Nên với đề tài này chúng ta có thể linh động áp dụng với nhiều đối tượng
học sinh trong lớp. Tôi sẽ tiếp tục áp dụng đề tài, tiếp tục nghiên cứu, rà soát lại,
bổ sung thêm để hoàn thiện hơn, từ đó nâng cao chất lượng đồng bộ cho các em,
chuẩn bị tốt cho các em hành trang để học tốt kiến thức ở lớp trên.
II. KIẾN NGHỊ
Với tầm quan trọng và căn cứ vào tỉ lệ % điểm kiểm tra định kì của phân
môn Tập làm văn lớp 5 theo thông tư 22 mới ban hành, giáo viên cần tăng thêm
thời lượng dạy Tập làm văn ở buổi học thứ hai. Sử dụng các hình ảnh (hoặc
video) sinh động, hấp đẫn vào các tiết dạy.
Trên đây là một vài kinh nghiệm về “Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho
học sinh dân tộc thiểu sốvùng khó khăn lớp 5” tôi đã thực hiện. Chắc chắn đề tài
vẫn còn nhiều hạn chế, kính mong được sự góp ý chân thành từ Ban giám khảo,
1
Hướng dẫn dạy học các môn học cho các vùng,
miền
Bộ giáo dục và đào tạo
(Ban hành kèm theo công văn số 7580/GDTH)
2
Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.
3
Sách giáo viên Tiếng Việt 4, lớp 5 - Tập 1, Tập
2
4
Tăng cường tiếng Việt cho học sinh có hoàn
cảnh khó khăn
18
Nguyễn Quý Thành,
trường Đại học Quy
Nhơn, năm 2010.
1.Mục tiêu
4
2.Nội dung và cách thức thực hiện
4
2.1.Bồi dưỡng khả năng cảm thụvăn, thơ của giáo viên.
4
2.2.Hướng dẫn học sinh nắm cấu tạo từng dạng văn miêu tả.
4
2.3.Chọn đề tài gần gũi với học sinh.
5
2.4.Hướng dẫn quan sát, bồi dưỡng vốn từ, cách dùng từ đặt câu.
6
2.5.Hướng dẫn lập dàn ý và xây dựng đoạn văn.
9
2.6.Xây dựng mở bài và kết bài
11
19
2.7. Hướng dẫn học sinh viết hoàn chỉnh bài văn.
12
2.8. Chấm bài
12
2.9. Tiết trả bài
12
IV. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
13
C/ KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
13
Tài liệu tham khảo