TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỌC, VIẾT
CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ
I, Phần mở đầu:
1, Lý do chọn đề tài.
Với học sinh người dân tộc thiểu số, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai để tiếp
thu kiến thức và trao đổi với xã hội một cách thuận lợi hơn. Khi đến trường các
em phải làm quen với một ngôn ngữ khác hoàn toàn tiếng mẹ đẻ nên trong quá
trình học tập cũng bị ảnh hưởng không ít. Rào cản tiếng Việt đối với học sinh
người dân tộc thiểu số khi tiếp cận chương trình giáo dục quốc gia là vấn đề
khiến cho những người làm công tác giáo dục ở địa bàn các Buôn của đồng bào
dân tộc thiểu số luôn trăn trở bấy lâu nay. Những học sinh ở bậc mầm non chuẩn
bị lên lớp 1, vốn Tiếng Việt vẫn còn rất mới mẻ với các em. Chính điều này đã
làm cho các giáo viên ở bậc tiểu học gặp nhiều khó khăn trong việc giảng dạy.
Đây cũng là thực trạng chung ở các địa bàn vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc
thiêu số nói chung và hs trường TH Lê Hồng Phong nói riêng. Khi kiểm tra chất
lượng đọc viết học sinh tiểu học từ lớp 2 đến lớp 5 thì có gần 50% học sinh chưa
đọc, viết đúng tốc độ theo chuẩn kiến thức, kĩ năng. Còn chuyện đọc sai lỗi chính
tả, sai dấu thì gần như 100%. Với những học sinh đầu cấp khi đến lớp, nhiều em
vẫn còn chưa thông thạo Tiếng Việt nên tiếp thu kiến thức cũng khó khăn hơn.
Mặc dù các đã tăng cường nhiều biện pháp để cải thiện kết quả, song do
vốn Tiếng Việt của học sinh người dân tộc thiểu số còn hạn chế, nên các em tiếp
thu bài học khá chậm. Vì vậy, khi thầy, cô giáo giảng bài, các em không hiểu
được nghĩa của từ nên mau quên. Vấn đề này cứ kéo dài năm này qua năm khác
và chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng học sinh người dân tộc thiểu
số lên các lớp trên bỏ học ngày càng nhiều. Vì vậy trong quá trình làm công tác
quản lý tôi tich lũy một số kinh nghiệm chỉ đạo nâng cao chất lương đọc viết cho
học sinh dân tộc thiểu số. giúp các em đọc thông viết thạo để học tốt môn tiếng
Việt và các môn học khác.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ
1
5.Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
2
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm.
- Phương pháp thống kê toán học
II.Phần nội dung
1. Cơ sở lí luận:
Căn cứ vào Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp
hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và Nghị
quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình,
sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015
của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo
khoa giáo dục phổ thông.
Quyết định số 16/2006/QĐ- BGD ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành chương trình giáo dục phổ thông.
Công văn 896/BGD ĐT-GDTH ngày 13 tháng 02 năm 2006 của Bộ Giáo dục về việc hướng dẫn điều
chỉnh việc dạy và học cho HSDTTS.
Công văn 8114/BGD ĐT-GDTH ngày 15 tháng 9 năm 2006 của Bộ Giáo dục về nâng cao chất lượng dạy
học tiếng Việt cho HSDTTS.
Thông tư sô 55/
2011/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 11 năm 2011 của Bộ Giáo
năng lực chuyên môn tốt, phương pháp dạy học linh hoạt phù hợp với HSDTTS;
giáo viên nhiệt tình, năng động có tinh thần trách nhiệm cao.
Công ty VNPT có chương trình hỗ trợ phần mềm VNEdu và sim điện
thoại cho CBQL, cha mẹ học sinh để tăng cường mối quan hệ thường xuyên giữa
nhà trường – giáo viên và học sinh.
Trường đang thực mô hình trường học mới (VNEN), sự phối hợp của
nhà trường với địa phương, cộng đồng, cha mẹ học sinh rất hiệu quả trong công
tác giáo dục học sinh. Năm học 2016-2017 trường được dự án Room to Rread hỗ
trợ dự án Thư viện thân thiện nên nguồn sách đọc cho học sinh đọc thêm rất dồi
dào.
4
Về giáo viên: Một số giáo viên do phương ngữ địa phương là Hà Tĩnh,
Nghệ An, Huế nói hơi nặng, nhanh đôi lúc giáo viên nói học sinh và cha mẹ học
sinh khó nắm bắt hết các nội dung thông tin. Đa số giáo viên dạy ở buôn Drai đều
ở các nơi khác đến dạy, không biết tiếng Ê đê, nếu biết thì cũng chỉ được ít từ ở
mức độ nhất định; giáo viên không thể so sánh, đối chiếu, liên hệ khi gặp những
tình huống cần thiết trong dạy học tiếng Việt cho học sinh. Mặt khác giáo viên ít
có dịp tìm hiểu về phong tục, tập quán, đời sống của các em ở trong buôn vì vậy
việc gần gũi giữa giáo viên và học sinh ngoài giờ học còn rất hạn chế. Biện pháp
của giáo viên hỗ trợ học sinh đọc, viết yếu chưa quyết liệt.
Về học sinh có một số thuận lợi, khó khăn như sau:
Tổng số học sinh của trường: 539 Trong đó HSDTS: 158
Tổng số học sinh điểm trường buôn Drai: 90; HSDTTS: 90; Nữ
HSDTTS: 41
Một số học sinh được cha mẹ rất quan tâm mua đầy đủ sách, vở và đồ dùng
học tập, học sinh đi học chuyên cần, mối quan hệ giữa giáo viên với cha mẹ học
sinh gần gũi thân thiện, liên lạc thường xuyên qua điên thoại bằng sim Vina do
VNPT hỗ trợ.
có thêm nguồn tư liệu học,
Phân công nhân viên thư viện 1 ngày/tuần đi phân hiệu cho học sinh mượn
truyện để tạo hứng thú trong học tập của học sinh, làm cho học sinh nhận thấy
học tiếng Việt là có ích và thực sự cần thiết, tạo niềm đam mê trong học tập của
các em, tạo môi trường thân thiện để các em tham gia, tạo động cơ “Mỗi ngày
đến trường là một ngày vui” đối với học sinh để từng bước nâng cao hơn nữa
chất lượng dạy học.
-
Đối với chỉ đạo giáo viên thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ
Chỉ đạo giáo viên dạy học theo Chuẩn kiến thức và kỹ năng, lựa chọn nội
dung, phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh, phù hợp với
địa phương, dạy học tới từng học sinh; tăng cường việc chấm, chữa bài tại chỗ
học sinh ngồi để giáo viên chỉ ra những lỗi sai của học sinh để giúp các em tự
6
sửa những lỗi của mình; kịp thời động viên, khích lệ những cố gắng dù nhỏ nhất
của học sinh.
Giáo viên điều chỉnh thời gian dạy học của các môn học khác để tăng thêm
thời gian cho môn Tiếng Việt.
Tăng cường tích hợp dạy Tiếng Việt trong các môn học, các hoạt động giáo
dục. Vận dụng các phương pháp dạy học Tiếng Việt với tư cách dạy học ngôn
ngữ thứ hai; tăng thời gian luyện đọc, luyện viết cho học sinh.
Đối với công tác phối hợp với các đoàn thể và chính quyền địa phương
Tăng cường sự phối hợp với chính quyền địa phương, cha mẹ học sinh
trong việc huy động học sinh ra lớp và xây dựng cơ sở vật chất cho các trường.
Phối hợp với đội thanh niên tình nguyện; Đoàn thanh niên của buôn để
giúp đỡ nhà trường trong việc tăng cường công tác sinh hoạt Đội - Sao để học
Quyết định số 16/2006/QĐ- BGD ĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành chương trình giáo dục phổ thông.
Riêng về tốc độ đọc (đọc thông), tốc độ viết (Viết chính tả) căn cứ vào các
văn bản hướng dẫn chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đà tạo; tài liệu chuẩn môn
Tiếng Viêt từng lớp đều có bảng xác định mức độ cần đạt theo từng giai đoạn để
giáo viên xác định rõ “ mốc” cần đạt, cụ thể như sau:
Giai
đoan/
Tốc độ
Giữahọc kì I
Cuốihọc kì 1
Giữahọc kì II Cuối học kì II
Khoảng
Lớp 1
Khoảng
Khoảng
cần đạt
Đọc
Viết
Đọc
Viết
8
chữ/15 phút
Đọc
Viết
Đọc
Viết
Đọc
Viết
Khoảng
chữ/15 phút
Lớp 3
Khoảng
chữ/15 phút
chữ/15 phút
Khoảng
Khoảng
55 tiếng/phút 60 tiếng/phút 65 tiếng/phút 70 tiếng/phút
Lớp 5
Khoảng
chữ/15 phút
chữ/15 phút
Khoảng
Khoảng
100 tiếng/phút 110 tiếng/phút 115 tiếng/phút 120 tiếng/phút
Khoảng 100 Khoảng 100 Khoảng 115 Khoảng 120
chữ/15 phút
chữ/15 phút
chữ/15 phút
chữ/15 phút
Các giải pháp chỉ đạo giáo viên thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ
. Những giải pháp cụ thể cho từng phân môn:
Tổ chức cho lớp 1 dạy Tiếng Việt – Công nghệ giáo dục, tăng khả năng
thực hành của học sinh được đọc, viết nhiều hơn.
Phân môn Học vần: Là phân môn chiếm nhiều thời lượng nhất của môn
Tiếng Việt. Nếu học sinh không thuộc được các chữ cái, biết ghép các vần thì học
sinh không thể đọc, viết cũng như học các môn học khác được. Vì vậy trong công
tác chỉ đạo, chúng tôi đưa ra một số giải pháp sau:
Nhà trường và giáo viên chủ nhiệm lớp tạo mọi điều kiện về thời gian và
tài liệu, thiết bị dạy học để học sinh được thực hành các kỹ năng đọc, viết, nghe,
nói và phát triển nhiều nhất hai kỹ năng đọc, viết.
Tăng thời lượng dạy học phân môn Học vần từ 2 tiết lên 3 tiết. Sử dụng
Sử dụng ngữ liệu chứa nội dung hấp dẫn, sưu tầm các câu đồng giao, thơ
để giúp học sinh dễ thuộc, viết đúng các chữ cái.
Hoặc sử dụng một số câu đố vui để giới thiệu một số âm, vần thay cho việc yêu
cầu học sinh quan sát tranh để tạo hứng thú trong học tập cho học sinh.
10
Hạn chế tối đa sử dụng tiếng địa phương trong dạy học. Chỉ sử dụng khi
thật sự cần thiết với học sinh.
Phân môn Tập đọc.
Kết hợp nhiều hình thức, biện pháp tổ chức dạy đọc thích hợp để huy động
được nhiều học sinh đọc. Một trong những hình thưc tối ưu đó là chia nhóm, đọc
nối tiếp. Tăng số lần học sinh đọc/ 1 tiết.
Chú ý cho học sinh luyện đọc nhiều và sửa sai kịp thời cho học sinh những
phương ngữ địa phương.như đọc thiếu dấu, sai dấu
Thực hiện quy trình dạy tập đọc linh hoạt phù hợp với từng thể loại văn
bản và với từng giai đoạn học tập của học sinh.
Tăng thời lượng đối với tốc độ đọc của từng em; cho những em đọc yếu
Phân môn Tập viết đối với các lớp 1, 2,3
Giáo viên viết chữ mẫu đúng và đẹp từng kiểu chữ, mẫu chữ.
Dạy học sinh viết đúng các nét chữ cơ bản như nét gạch ngang, nét xiên
phải, cong tròn,... Dạy viết theo nhóm các chữ có nét cơ bản giống nhau.
Hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập với số chữ, số dòng theo trình độ học
sinh: Giáo viên hướng dẫn học sinh cụ thể về các yêu cầu kỹ thuật viết từng nét
chữ, điểm đặt bút, điểm dừng bút trên dòng kẻ ly để hình thành nên một chữ cái,
rồi đến tiếng, từ, cụm từ và cả câu. Đối với học sinh lớp 1 giáo viên cần viết lại
chữ mẫu nhiều lần để học sinh bắt chước viết theo.
Sử dụng có hiệu quả các phương tiện, thiết bị hỗ trợ dạy học Tập viết:
Bảng cài, bảng lớp, bảng con...; Rèn tư thế ngồi viết đúng cho học sinh.
Rèn kĩ năng đọc đi đôi với viết chính tả: Giảm bớt phần trả lời một số câu
hỏi tìm hiểu nội dung bài viết, dành thời gian cho học sinh yếu đọc kĩ bài chính tả
và luyện viết các từ khó, dễ lẫn lộn theo đặc điểm phát âm của lớp, của từng em
(Thực hiện theo công văn 896/BGD ĐT-GDTH). Phần đọc chính tả cho học sinh
viết, căn cứ vào tốc độ viết của học sinh chung cả lớp và học sinh yếu để điều
chỉnh tốc độ đọc của giáo viên, khi đọc cho cả lớp viết giáo viên có thể đứng
cạnh học sinh yếu, vừa đọc vừa theo dõi, giúp đỡ những em này đọc nhẩm –
đánh vần - viết để kịp tốc độ của học sinh cả lớp Trong hoạt động này nhiều học
sinh đọc viết khá đã viết xong phải chờ các bạn viết yếu các em rất khó chịu, giáo
viên có thể động viên các em học sinh khá giỏi rèn viết cẩn thận, nắn nót bài viết
12
đẹp hơn. Cứ như vậy giáo viên phải thật sự kiên trì, động viên các em viết yếu
nâng dần tốc độ đạt chuẩn;
Chú ý: Khi đọc chính tả cho học sinh viết giáo viên phải cố gắng phát âm
thật chậm, chuẩn xác, đọc từng cụm từ, câu ngắn ( diễn đạt một ý nhỏ) nhắc học
sinh phải tập trung nghe hiểu nghĩa của từ để viết đúng chính tả.
Hướng dẫn học sinh thuộc một số qui tắc chính tả đơn giản vè các học
sinh đọc yếu, viết yếu rất dễ nhầm lẫn một số qui tắc sau:
Qui tắc viết k/c/q
Qui tắc viết g/gh; ng/ngh
Chữ ghi âm y/i
Sau khi viết xong bài chính tả giáo viên cho học sinh đổi vở chéo để giúp
nhau nhận xét và sửa lối, riêng các học sinh viết yếu giáo viên phải trực tiếp
chấm bài tại chỗ và giúp các em sửa sai.Đây là khâu rất quan trọng vì đa số giáo
viên bỏ qua, sợ tốn thời gian, ảnh hưởng các tiết học tiếp theo và nghĩ trước sau
gì mình cũng chấm. Tuyệt đối phải thực hiện nghiêm túc khâu này. Học sinh
được tự soát lỗi bài, được thực hiện tự đọc từng câu kết hợp với sự hướng dẫn cụ
hình thức tổ chức các hoạt động, giúp giáo viên vận dụng phương pháp linh hoạt
hơn, phù hợp với từng em.
Đối với công tác phối hợp với các đoàn thể và chính quyền địa phương,
mục đích phối hợp để làm tốt công tác duy trì sĩ số, giúp đỡ học sinh hoàn cảnh
khó khăn để cùng vời nhà trường làm tốt công tác giáo dục tại địa phương.
Nghi quyết số 29-NQ/TW Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế nêu rõ mục tiêu tổng quát của giáo dục và đào tạo là giáo dục
con người Việt Nam phát triên toàn diện và phát huy nhất tiềm năng, khả năng
sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và
làm việc hiệu quả.
Giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội cao, muốn thực hiện được
mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh cần phải coi trọng cả giáo dục nhà trường,
giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Chỉ riêng nhà trường, chỉ riêng ngành giáo
14
dục thì không thể làm tốt công tác giáo dục toàn diện được
Quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo đã tiếp tục khẳng định “ Giáo dục nhà trường kết hợp
với giáo dục gia đình và xã hội”.
Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục tháng 6/1957, Bác
Hồ căn dặn “ Phải nhất thiết liên hệ mật thiết với gia đình học sinh. Bởi vì giáo
dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có giáo dục ngoài xã hội và trong
gia đình để giúp cho giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà
trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả
cũng không hoàn toàn”.
Để thực hiện có hiệu quả nâng cao chất lượng đọc, viết cho HSDTTS
cha mẹ học sinh lớp, sau khi đại hội cha mẹ học sinh lớp, hiệu trưởng phối hợp
với trưởng ban đại diện cha mẹ học sinh nhà trường tổ chức đại hội cha mẹ học
sinh trường; hiệu trưởng có trách nhiệm tuyên truyền nhiệm vụ và quyền hạn của
Ban đại diện cha mẹ học sinh nhà trường biết để Ban đại diện cha mẹ học sinh
trường nắm được, để công tác phối hợp giữa nhà trường và cha mẹ học sinh hiệu
quả hơn, cụ thể như sau:
Nhiệm vụ của Ban đại diện cha mẹ học sinh trường:
Phối hợp với Hiệu trưởng tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học và các hoạt
động giáo dục theo nội dung được thống nhất tại cuộc họp đầu năm học của Ban
đại diện cha mẹ học sinh trường;
Phối hợp với Hiệu trưởng hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chủ
trương chính sách về giáo dục đối với cha mẹ học sinh nhằm nâng cao trách
nhiệm chăm sóc, bảo vệ, giáo dục học sinh;
Phối hợp với Hiệu trưởng tổ chức giáo dục học sinh hạnh kiểm yếu tiếp tục
rèn luyện trong dịp nghỉ hè ở địa phương;
Phối hợp với Hiệu trưởng giáo dục đạo đức cho học sinh; bồi dưỡng,
khuyến khích học sinh giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém; giúp đỡ học sinh nghèo,
học sinh khuyết tật và học sinh có hoàn cảnh khó khăn khác; vận động học sinh
đã bỏ học trở lại tiếp tục đi học;
16
Hướng dẫn về công tác tổ chức và hoạt động cho các Ban đại diện cha mẹ
học sinh lớp.
Quyền của Ban đại diện cha mẹ học sinh trường:
Quyết định triệu tập các cuộc họpsau khi đã thống nhất với Hiệu trưởng;
Căn cứ ý kiến của các Ban đại diện cha mẹ học sinh lớp để kiến nghị với
Hiệu trưởng về những biện pháp cần thiết nhằm thực hiện nhiệm vụ năm
học của trường và về quản lý, giáo dục học sinh;
Nhiệm vụ của Ban đại diện cha mẹ học sinh lớp:
Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp và các giáo viên bộ môn tổ chức các
hoạt động giáo dục học sinh;
Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp chuẩn bị nội dung của các cuộc họp
cha mẹ học sinh trong năm học;
Tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh; bồi dưỡng, khuyến khích học sinh
giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém, vận động học sinh đã bỏ học trở lại tiếp tục học
tập; giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh khuyết tật và học sinh có hoàn cảnh khó
khăn khác.
Địa phương
Địa phương cần phải thường xuyên nắm bắt tình hình học sinh bỏ học, lưu
ban, học sinh gặp khó khăn trên địa bàn để kịp thời hỗ trợ trong ngăn chặn học
sinh bỏ học, vận động học sinh đã bỏ học trở lại lớp tiếp tục học tập, hình thành
các quĩ học bổng để hỗ trợ học sinh nghèo gặp khó khăn, khen thưởng học sinh
giỏi. Giữa nhà trường và công an địa phương cần có qui chế phối hợp trong giữ
gìn an ninh, trật tự trong và ngoài nhà trường, ngăn chặn tệ nạn xã hội xâm nhập
vào nhà trường, ngăn chặn bạo lực học đường. Triển khai tốt thông tư số
06/2005/TTLT-BGDĐT-BCA về việc hướng dẫn phối hợp thực hiện nhiệm vụ
bảo vệ an ninh quốc gia và bảo vệ trật tự ,an toàn xã hội, đấu trnh phòng chống
tội phạm, vi phạm pháp luật khác trong ngành giáo dục; giữa nhà trường và các
đoàn thể khác với các đoàn thể ,tổ chức xã hội cùng kí qui chế phối hợp trong hỗ
trợ, nâng cao chất lượng giáo dục, huy động các nguồn hỗ trợ cho nhà trường.
Định kì họp giao ban giữa nhà trường với chính quyền địa phương, các tổ chức
chính trị - xã hội trên địa bàn để cùng phối hợp trong công tác giáo dục học sinh,
cùng chăm lo sự nghiệp giáo dục
c.Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
18
Đạt
Đạt
Chưa đạt
Chưa đạt
Khối 1
23
73%
25 %
75 %
25%
Khối 2
21
80%
20 %
80%
93%
10 %
90 %
10%
Nhờ áp dụng các biện pháp trên nên các em học sinh đọc yếu, viết yếu
của nhà đến thời điểm này có sự tiến bộ hơn rõ rệt.
III.Phần kết luận, kiến nghị
1.Kết luận:.
19
Để chỉ đạo hiệu quả dạy nâng cao chất lượng cho học sinh đọc yếu, viết
yếu thì lãnh đạo nhà trường phải lập kế hoach, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh
giá và tư vấn cho giáo viên, kịp thời điều chính những nội dung chỉ đạo chưa hiệu
quả trong công tác nâng cao chất lượng đọc, viết cho HSDTTS; trong đó chú
trọng đến công tác kiểm tra thực tế trên lớp, nắm bắt được sự thực hiện của giáo
viên và sự tiến bộ của học để kịp thời đôn đốc thực hiện có hiệu quả.
Phối hợp tốt với gia đình, Bí thư, ban tự quản buôn làm tốt công tác vận
động học sinh đi học đều, duy trì sĩ số.
Tóm lại trường hợp học sinh đọc yếu, viết yếu thì sự quan tâm của giáo
viên đến từng học sinh và phương pháp giảng dạy sát đối tượng, kịp thời khích lệ
động viên, đáp ứng đúng những điều các em còn thiếu về kiến thức. Trong quá
trình quản lý và chỉ đạo thực hiện các biện pháp trên, tôi nhận thấy rằng để đạt
hiệu quả cao, phải trải qua một quá trình hướng dẫn học sinh luyện tập thường
xuyên và lâu dài. Ở trường Tiểu học, việc rèn đọc, viết cho học sinh phải được
Đỗ Thị Vinh
21