BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THÁI BÌNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN CỦA
DOANH NGHIỆP, CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ VÀ GIÁ
CỔ PHIẾU HÀNG QUÝ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THÁI BÌNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN CỦA
DOANH NGHIỆP, CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ VÀ GIÁ
CỔ PHIẾU HÀNG QUÝ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
1.1 Tính cấp thiết của đề tài ..................................................................................
2
1.2 Mục đích nghiên cứu ......................................................................................
3
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ......................................................................
3
1.4 Phương pháp nghiên cứu ................................................................................
4
1.4.1 Nguồn dữ liệu ..........................................................................................
4
1.4.2 Mô hình nghiên cứu và các phương pháp ước lượng ..............................
4
1.5 Ý nghĩa thực tiễn .............................................................................................
5
1.6 Tóm tắt kết cấu nội dung nghiên cứu .............................................................
30
3.3.2 Kiểm định bước đi ngẫu nhiên của giá cổ phiếu hàng quý ....................
38
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................................
40
4.1 Thống kê mô tả ...............................................................................................
40
4.2 Kiểm định bước đi ngẫu nhiên đối với giá cổ phiếu hàng quý .......................
43
4.2.1 Kết quả kiểm định bước đi ngẫu nhiên đối với toàn bộ mẫu khảo
sát ............................................................................................................
43
4.2.2 Kết quả kiểm định bước đi ngẫu nhiên theo từng nhóm phân
ngành kinh tế ..........................................................................................
45
PHỤ LỤC 3 .............................................................................................................
DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết
tắt
Tên đầy đủ Tiếng Anh
Tên đầy đủ Tiếng Việt
CPI
Consumer Price Index
Chỉ số giá tiêu dùng
DPS
Dividends per share
Cổ tức trên mỗi cổ phần
EPS
Earnings per share
Lợi nhuận trên mỗi cổ phần
FEM
Chuẩn phân ngành kinh tế toàn cầu
Ước lượng hợp lý cực đại
Mô hình ước lượng bình phương tối
thiểu
Mô hình tác động ngẫu nhiên
Sở giao dich chứng khoán
Structural Equation Model
Mô hình hệ phương trình cấu trúc
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Tóm tắt kết quả các nghiên cứu thực nghiệm kiểm định bước đi
ngẫu nhiên và thị trường hiệu quả ................................................................................. 11
Bảng 2.2: Tóm tắt kết quả các nghiên cứu thực nghiệm phân tích các nhân tố
ảnh hưởng giá cổ phiếu ................................................................................................ 18
Bảng 3.1: Diễn giải các biến trong mô hình nghiên cứu và nguồn thu thập dữ
liệu ................................................................................................................................ 22
Bảng 3.2: Chi tiết các nhóm phân ngành kinh tế ......................................................... 30
Bảng 4.1: Trung bình và độ lệch chuẩn mẫu của các biến số trong năm 2011
và năm 2015 ................................................................................................................. 40
Bảng 4.2: Kết quả ước lượng mô hình tự hồi quy bậc một đối với toàn bộ
mẫu khảo sát ................................................................................................................. 43
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định bước đi ngẫu nhiên đối với toàn bộ mẫu khảo
sát .................................................................................................................................. 44
Bảng 4.4: Kết quả ước lượng mô hình tự hồi quy bậc một theo từng nhóm
ngành kinh tế ................................................................................................................. 45
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định bước đi ngẫu nhiên trong từng nhóm ngành
ước lượng được sử dụng trong luận văn là mô hình tác động ngẫu nhiên động (dynamic
random effect model) và mô hình tác động cố định động (dynamic fixed effect model)
kết hợp mô hình hệ phương trình cấu trúc (structural equation model). Các kết quả
nghiên cứu chính đạt được: Thứ nhất, kết quả kiểm định chứng minh được không có
tác động bước đi ngẫu nhiên đối với giá cổ phiếu theo tần suất quý, từ đó các biến nhân
tố cơ bản doanh nghiệp và các biến kinh tế vĩ mô có thể đóng vai trò giải thích giá cổ
phiếu. Thứ hai, hệ số ước lượng của biến trễ giá cổ phiếu hàng quý (biến phụ thuộc)
trong mô hình tự hồi quy bậc một và mô hình nghiên cứu chính đều có ý nghĩa thống
kê và nhận giá trị lần lượt là 0.841 và 0.881, chứng tỏ tính ì trong giá cổ phiếu ảnh
hưởng đáng kể đến tác động của nhân tố cơ bản doanh nghiệp và yếu tố kinh tế vĩ mô
đến giá cổ phiếu hàng quý. Thứ ba, khi chưa đưa vào mô hình yếu tố tính ì trong giá cổ
phiếu, tất cả các biến giải thích đều có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, khi tính toán đến
yếu tố tính ì giá cổ phiếu thì các biến này trở nên thay đổi phức tạp, trong đó biến nợ
dài hạn và biến tương tác giữa lãi suất và nợ dài hạn bị mất đi ý nghĩa thống kê, biến
tổng tài sản, DPS, CPI, lãi suất bị đảo chiều tác động và các biến còn lại bị giảm độ lớn
tác động đáng kể đến giá cổ phiếu. Ngoài ra, EPS là chỉ tiêu quan trọng nhất khi có ý
nghĩa thống kê cao với mức ý nghĩa 1% trong nhiều nhóm phân ngành kinh tế nhất và
có chiều tác động đến giá cổ phiếu hàng quý không đổi tương đồng kết quả hồi quy
trong toàn bộ mẫu khảo sát.
2
CHƯƠNG 1.
1.1
GIỚI THIỆU
Tính cấp thiết của đề tài
Phân tích giá cổ phiếu là một công việc quan trọng và phức tạp đối với các nhà
doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu sót các nghiên cứu đầy đủ tại Việt Nam đối với
giá cổ phiếu dựa trên dữ liệu tần suất quý. Vì vậy, nhận thức được điều này cùng với
các kết quả quan trọng trong nghiên cứu của Bhargava (2014) tại thị trường chứng
khoán ở Mỹ, tác giả luận văn đề xuất thực hiện nghiên cứu ứng dụng trên thị trường
chứng khoán Việt Nam với đề tài “Mối quan hệ giữa các nhân tố cơ bản của doanh
nghiệp, các yếu tố kinh tế vĩ mô và giá cổ phiếu hàng quý trên thị trường chứng
khoán Việt Nam”.
1.2
Mục đích nghiên cứu
Luận văn thực hiện 02 bước nghiên cứu:
Kiểm định tác động bước đi ngẫu nhiên đối với giá cổ phiếu tại Việt Nam theo
dữ liệu tần suất quý. Nếu có tác động bước đi ngẫu nhiên thì chứng tỏ không thể giải
thích giá cổ phiếu bằng bất kỳ biến nào. Nếu không có tác động bước đi ngẫu nhiên,
luận văn sẽ thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động lên giá cổ phiếu hàng quý bằng
các biến nhân tố cơ bản doanh nghiệp và các biến kinh tế vĩ mô. Cụ thể, kết quả nghiên
cứu sẽ trả lời cho các câu hỏi sau:
(1)
Có tác động bước đi ngẫu nhiên đối với giá cổ phiếu hàng quý không?
(2)
Giá cổ phiếu trong quá khứ, các nhân tố cơ bản doanh nghiệp và các biến kinh
tế vĩ mô tác động như thế nào đến giá cổ phiếu hàng quý hiện tại?
1.3
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.5
Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn được thực hiện nhằm mục đích kiểm định tác động bước đi ngẫu
nhiên đối với giá cổ phiếu theo dữ liệu tần suất quý tại Việt Nam. Từ đó, dựa trên kết
quả kiểm định này, nhà đầu tư có thể quyết định việc sử dụng các yếu tố nào để phân
tích giá cổ phiếu. Ngoài ra, dựa trên kết quả ước lượng của mô hình nghiên cứu chính,
các nhà đầu tư có thể thấy được cụ thể mức độ tác động của từng nhân tố cơ bản doanh
nghiệp và các yếu tố kinh tế vĩ mô lên giá cổ phiếu hàng quý, qua đó xem xét và cân
5
nhắc các phân tích của riêng mình và cải thiện hiệu quả đầu tư. Ngoài ra, tác động từ
nhóm biến kinh tế vĩ mô lên giá cổ phiếu hàng quý cũng giúp các nhà làm chính sách
có cái nhìn tham khảo trong việc bình ổn giá chứng khoán.
1.6
Tóm tắt kết cấu nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận văn bao gồm:
Chương 2: Khung lý thuyết tại Mục 2.1 và tổng quan các nghiên cứu thực
nghiệm tại mục 2.2.
Chương 3: Mô hình nghiên cứu tại Mục 3.1, mô tả dữ liệu tại Mục 3.2 và các
ròng…Tóm lại, theo nghiên cứu này, các yếu tố kinh tế vĩ mô, kinh tế ngành và các
nhân tố cơ bản doanh nghiệp có ý nghĩa giải thích giá cổ phiếu.
Edward và Magee (1948) đề xuất dự đoán giá cổ phiếu dựa trên các biểu đồ kỹ
thuật về giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch trong quá khứ nhằm phân tích các biến
động cung cầu đối với cổ phiếu để chỉ cho nhà phân tích biết thời điểm nên mua vào,
bán ra hay giữ nguyên cổ phiếu trên thị trường. Phương pháp này còn được gọi là phân
tích kỹ thuật. Như vậy, các nhà đầu tư chỉ cần biết hiệu ứng là gì mà không cần quan
tâm tới nguyên nhân tại sao lại dẫn tới tình hình đó. Như vậy, trong phân tích này, giá
trị không đóng vai trò chính nhưng các nhà đầu tư cũng có thể kết hợp yếu tố này vào
phân tích của mình như được sử dụng quyết định đường hỗ trợ hoặc đường kháng cự
trên biểu đồ giá. Một trong những thế mạnh lớn của phương pháp này là sự linh hoạt
của nó, có thể sử dụng bất kì lúc nào và bao nhiêu thị trường tùy thích. Điều này là
không thể đối với phân tích dựa vào các yếu tố cơ bản theo Graham và Dodd (1934).
7
Lý do là đối với mỗi thị trường, nhà phân tích cơ bản sẽ phải xử lý khối lượng dữ liệu
khổng lồ, vì vậy những người theo trường phái này thường chỉ có thể chuyên vào một
nhóm chứng khoán giới hạn. Ngoài ra, trường phái phân tích kỹ thuật do dựa và hành
vi của cổ phiếu nên chỉ được dùng trong ngắn hạn, còn phân tích kỹ thuật dựa vào các
yếu tố nền tảng thì thường dùng trong dài hạn.
Một trong những lý thuyết đầu tư kinh điển nhất trên thị trường chứng khoán là
lý thuyết bước đi ngẫu nhiên (random walk hypothesis) được đưa ra đầu tiên bởi
Kendall (1953) và sau đó, Malkiel (1973) đã giúp phát triển lý thuyết này trở nên phổ
biến. Lý thuyết này cho rằng giá cổ phiếu hiện tại đã phản ánh toàn bộ thông tin của nó
trong quá khứ, và nó chỉ tuân theo bước đi ngẫu nhiên và đó là bước đi không thể tiên
đoán trước được. Khả năng tăng hay giảm của chứng khoán trong tương lai là tương
đương nhau. Yếu tố khiến giá cổ phiếu không thể dự đoán được chính là các thông tin
mới trên thị trường. Chính yếu tố này khiến những người theo lý thuyết này tin rằng
đầu tư đều tin rằng một thị trường là hiệu quả thì sau đó thị trường sẽ không hiệu quả
bởi vì không ai cần phân tích các chứng khoán nữa. Trên thực tế, các thị trường hiệu
quả phụ thuộc vào các thành viên luôn tin rằng thị trường không bao giờ hiệu quả và
luôn cố gắng tìm ra cách giao dịch như thế nào đó để đánh bại thị trường. Ngoài ra, các
nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh dạng yếu và dạng bán mạnh của lý thuyết có
thể đúng. Cũng có nhiều nghiên cứu chống lại lý thuyết dạng mạnh, rằng thị trường
không thể hiệu quả đến mức toàn bộ thông tin được phản ánh trong giá chứng khoán.
Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều bất hiệu quả của thị trường mà nhà đầu cơ có thể
thu được lợi nhuận.
Như vậy, từ lý thuyết bước đi ngẫu nhiên và lý thuyết thị trường hiệu quả, nảy
sinh vấn đề quan trọng cần giải quyết là kiểm định bước đi ngẫu nhiên đối với giá cổ
phiếu. Nếu kết quả kiểm định cho thấy bước đi ngẫu nhiên có xảy ra thì việc đưa các
biến giải thích vào mô hình nghiên cứu giá cổ phiếu trở nên vô nghĩa. Nếu không các
9
tác động bước đi ngẫu nhiên, việc đưa các yếu tố trong phân tích cơ bản và phân tích
kỹ thuật vào mô hình sẽ có ý nghĩa giải thích giá cổ phiếu.
Đầu tiên, ta sẽ tìm hiểu nhóm nghiên cứu về tác động bước đi ngẫu nhiên của
giá cổ phiếu và kiểm định lý thuyết thị trường hiệu quả:
Fama và French (1988) nghiên cứu giả thiết bước đi ngẫu nhiên tại thị trường
Mỹ với dữ liệu tỷ suất sinh lợi giá cổ phiếu hàng tháng trong giai đoạn 1926 – 1985 và
sử dụng mô hình tự tương quan (autocorrelation pattern) đối với 17 nhóm ngành kinh
tế. Nghiên cứu này cũng cố cho giả thiết thị trường hiệu quả của Fama (1970), nhà đầu
tư không thể kiếm lợi hơn “danh mục thị trường” (Thompson và cộng sự, 2003) dựa
các thông tin đã biết hay những hình thái biến động của giá cả trong quá khứ. Các kết
quả nghiên cứu này hoàn toàn trái ngược với đặc trưng thị trường chứng khoán của
Keynes (1936), nơi mà các nhà giao dịch vẫn đang tiếp tục cố gắng sử dụng kỹ năng
của mình để thắng phần đông nhà đầu tư.
Đối với các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam, Lê Đạt Chí và Hoàng Thị Phương
Thảo (2013) ứng dụng lý thuyết “Đảo ngược giá về giá trị trung bình” – một lý thuyết
phủ nhận tính đúng đắn của thị trường hiệu quả – tại thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nghiên cứu này sử dụng chuỗi dữ liệu của chỉ số VN – Index trong 13 năm (từ 07/2000
– 02/2013) theo tần suất ngày, tuần, tháng. Các kiểm định được sử dụng trong nghiên
cứu là mô hình hồi quy tỷ suất sinh lợi, mô hình tỷ số phương sai, mô hình hội tụ biến
động. Kết quả kiểm định cho thấy các mô hình không có sự bác bỏ lẫn nhau mà còn hỗ
trợ cho nhau. Tất cả các mô hình đều chỉ ra sự hội tụ về giá trị trung bình với mức ý
nghĩa thống kê tốt (hầu hết dưới 1%) và tốc độ hội tụ giảm dần theo độ trễ, có nghĩa là
ngay khi xuất hiện đỉnh hoặc đáy thì ngay lập tức có tác động thì ngay lập tức có tác
động mạnh kéo giá giảm, nhưng ngay sau đó, giá sẽ giảm chậm hơn và chậm hơn đến
một lúc thì dừng lại ở mức giá trị trung bình cơ bản. Như vậy, quá trình đảo ngược về
11
giá trị trung bình được chứng minh tại thị trường Việt Nam đồng nghĩa việc bác bỏ lý
thuyết thị trường hiệu quả tại thị trường này.
Ta có thể tóm tắt lại các nghiên cứu kiểm định bước đi ngẫu nhiên và thị trường
hiệu quả tại bảng 2.1.
Bảng 2.1: Tóm tắt kết quả các nghiên cứu thực nghiệm kiểm định bước đi
ngẫu nhiên và thị trường hiệu quả
Tác giả
Khung
thời gian
nghiên cứu
Thị trường
1991 –
1996
Ba Lan
Cheong và Isa
1998 –
(2007)
2006
Gupta và
Yang (2011)
2007 –
2011
Bhargava
(2014)
2000 –
2007
Malaysia
Ấn Độ
Mỹ
(Nguồn: Tác giả xây dựng)
Như vậy, các nghiên cứu trên đây cho thấy các kết quả kiểm định tính ngẫu
nhiên của giá cổ phiếu dưới dạng kiểm định tính hiệu quả của thị trường khác nhau ở
các nước trên thế giới. Các kiểm định này cũng cho thấy kết quả khác nhau của từng
phương thức kiểm định ngay cả khi áp dụng cùng một bộ dữ liệu hoặc khi áp dụng với
các khoảng thời gian khác nhau. Vì vậy, việc thực hiện các kiểm định này các trường
hợp cụ thể đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu giá cổ phiếu. Luận văn sẽ
thực hiện kiểm định bước đi ngẫu nhiên của giá cổ phiếu hàng quý dựa theo phương
pháp kiểm định một chiều của Bhargava (2014).
Thứ hai, ta tìm hiểu nhóm các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác
động đến giá cổ phiếu:
Tinbergen (1939) phát triển mô hình động (dynamic model) về giá cổ phiếu, là
mô hình có chứa biến trễ biến phụ thuộc tại thị trường Mỹ, Anh, Đức, Hà Lan, Bỉ,
Đông Ấn trong khoảng thời gian 1872 – 1935. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan
trọng của cổ tức trên mỗi cổ phiếu (DPS) và lãi suất dài hạn, sử dụng dữ liệu hàng năm
với số lượng nhỏ doanh nghiệp. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy DPS tác động cùng
chiều với giá cổ phiếu hàng năm trong tất cả thị trường khảo sát, lãi suất thì ngược lại,
có tác động ngược chiều đối với giá cổ phiếu trong tất cả thị trường, chỉ trừ thị trường
Mỹ trong khung thời gian 1919 – 1932 là có mối tương quan âm. Tuy nhiên, mô hình
này gặp phải vấn đề quan trọng việc sử dụng ước lượng phù hợp đối với tham số và xử
13
lý hiện tượng “không đồng nhất giữa các doanh nghiệp” (between-firm heterogeneity).
Hiện tượng không đồng nhất này thường xuất hiện dưới dạng dữ liệu bảng, là yếu tố
gây ra sự khác nhau giữa các doanh nghiệp nhưng không đổi theo thời gian, nó có thể
quan sát hoặc không quan sát được. Ngoài ra, lý do mô hình này chưa được thực hiện
ước lượng chính xác ở nghiên cứu của Tinbergen do thiếu hụt các phương pháp ước
thích bằng các biến này. Kết quả quan trọng thứ hai là các biến lãi suất ngắn hạn và
lạm phát đều có tác động dương đối với tỷ suất sinh lợi cổ phiếu qua các thời kỳ.
Boyd và cộng sự (2006) sử dụng số liệu thất nghiệp hàng tháng và chỉ số S&P
500 hàng ngày trong giai đoạn 02/1957 – 12/2004 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp tăng lên là
“tin tốt” (tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn dự đoán) đối với giá cổ phiếu trong thời kỳ nền
kinh tế mở rộng (hay là tăng trưởng) và là “tin xấu” (tỷ lệ thất nghiệp cao hơn dự đoán)
đối với giá cổ phiếu trong thời kỳ nền kinh tế thu hẹp (hay là suy thoái).
Caginalp và De Santis (2011) cũng nghiên cứu tác động của các thông tin kinh
tế vĩ mô đối với giá cổ phiếu. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 111,356 mức giá đóng cửa
hàng ngày của 119 quỹ đóng (closed – end funds) tại Mỹ trong giai đoạn 1998 – 2008.
Các thông tin kinh tế vĩ mô bao gồm 12 chỉ số tại Mỹ như “đơn đặt hàng loại hàng hóa
lâu bền” (durable goods orders), doanh số bán lẻ (retail sales), dự trữ thương mại
(business inventories), chỉ số tâm lý tiêu dùng (consumer sentiment),… Kết quả nghiên
cứu cho thấy các biến kinh tế vĩ mô có tác động đến giá cổ phiếu, ví dụ như cung tiền
M2 có tác động ngược chiều, chỉ số tâm lý tiêu dùng, dự trữ thương mại có tác động
ngược chiều,…Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy các thông tin vĩ mô này khi được công
bố gần nhất, có thể khiến các nhà đầu tư “phản ứng quá mức” (overreaction). Ví dụ
như nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái kéo dài, chỉ cần một thay đổi nhỏ theo
chiều hướng xấu của các thông tin kinh tế vĩ mô sẽ dẫn đến việc đánh giá sai lệch tác
động thực sự của nó lên giá cổ phiếu.
15
Như vậy, qua kết quả các nghiên cứu của Cutler và cộng sự (1989), Boyd và
cộng sự (2006) và Caginalp và De Santis (2011), ta đều thấy rằng các thông tin kinh tế
vĩ mô có thể tác động giá cổ phiếu trong một phạm vi nào đó. Tuy nhiên, đó cũng có
thể là những tác động tạm thời cho đến khi các nhà đầu tư cập nhật lại kỳ vọng của họ
khi các nhân tố cơ bản doanh nghiệp được công bố.
Engle và Rangel (2008) nghiên cứu sự biến động trong mức giá cổ phiếu hàng
với giá cổ phiếu, trong khi chỉ số giá tiêu dùng lại có tác động cùng chiều với giá cổ
phiếu.
Phan và cộng sự (2015) nghiên cứu mô hình dự đoán giá cổ phiếu trong từng
ngành kinh tế dựa trên dữ liệu tần suất ngày, tuần, tháng của các chỉ số S&P500 trong
giai đoạn 1988 – 2012. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến nhân tố cơ bản doanh
nghiệp như giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (B/M value), thu nhập cổ tức, khối
lượng giao dịch, tỷ suất giá trên thu nhập (P/E), đều có mức độ giải thích mạnh chỉ số
giá thị trường.
Peiró (2015) nghiên cứu giá cổ phiếu dựa trên tác động của các biến kinh tế vĩ
mô là chỉ số công nghiệp và lãi suất dài hạn tại thị trường châu Âu gồm 03 nước: Pháp,
Đức và Anh. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập theo tần suất năm trong giai đoạn 1969
– 2013. Kết quả cho thấy chỉ số công nghiệp có tác động cùng chiều với giá cổ phiếu,
trong khi lãi suất dài hạn có tác động ngược chiều.
Đối với các nghiên cứu tại Việt Nam, Nguyễn Thị Thục Đoan (2011) nghiên
cứu giá cổ phiếu của 430 công ty phi tài chính niêm yết trên SGDCK TP.Hồ Chí Minh
và SGDCK Hà Nội cho năm tài chính 2009. Mô hình nghiên cứu dựa trên các biến giải
thích là giá trị sổ sách (BV), thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), tỷ suất sinh lời trên vốn
chủ sở hữu (ROE) và hệ số đòn bẩy tài chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 02
biến EPS và ROE là có ý nghĩa thống kê và có mối quan hệ cùng chiều đối với giá cổ