LUẬN án TIẾN sĩ bồi DƯỠNG NĂNG lực dạy học CHO GIÁO VIÊN TRUNG học cơ sở THÀNH PHỐ hà nội đáp ỨNG yêu cầu đổi mới GIÁO dục - Pdf 42

MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài: “Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên trung học cơ
sở thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” là công trình khoa học
độc lập, được nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới
giáo dục theo Nghị quyết 29/NQ-TW.
Đề tài được kết cấu 3 chương. Nội dung đề tài đi sâu phân tích, luận giải
một cách khoa học về thực chất và những vấn đề có tính quy luật của quản lý
bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên THCS; đồng thời, tiến hành khảo
sát, đánh giá đúng thực trạng và chỉ ra những yêu cầu về quản lý bồi dưỡng
năng lực dạy học cho giáo viên THCS thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi
mới giáo dục; trên cơ sở đó, luận án đề xuất những biện pháp cơ bản và tổ chức
thử nghiệm biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo
viên trường THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
Những nội dung cơ bản đó góp phần cung cấp cơ sở khoa học để các nhà
lãnh đạo, quản lý các cấp chỉ đạo tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học
cho giáo viên THCS trên địa bàn Thủ đô đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
2. Lý do chọn đề tài luận án
GD&ĐT có vị trí quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực. Trong đó
chất lượng giáo viên ảnh tới thành tích học tập của HS …. Đội ngũ nhà giáo là
lực lượng nòng cốt thực hiện mục tiêu GD&ĐT; là người xây dựng cho học
sinh thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ, tổ chức HS kiến tạo và rèn luyện
phương pháp tư duy khoa học, khả năng làm việc độc lập, sáng tạo. Khi nói về
vai trò của đội ngũ nhà giáo, tại Hội nghị giáo dục ở Úc năm 1993, các đại biểu
đã đưa ra nhận định: người giáo viên sẽ là người có trách nhiệm làm thay đổi


2
thế giới. Đảng ta cũng xác định “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng
giáo dục và được xã hội tôn vinh”.
Nghị quyết số 29/NQ-TW tại Hội nghị lần thứ 8, BCHTƯ Ðảng khóa XI

truyền thông vào dạy và học... Chương trình bồi dưỡng và nâng cao năng lực
đội ngũ nhà giáo theo những yêu cầu của Chuẩn nghề nghiệp GV và Chuẩn cán
bộ quản lý các cấp từ năm 2010, giúp nhà giáo ở cương vị công tác của mình,
thường xuyên tự học tập và rèn luyện để nâng cao mức đạt được theo các yêu
cầu của Chuẩn. Các Chuẩn đó được thể hiện cụ thể về phẩm chất đạo đức;
năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm; năng lực tìm hiểu môi trường và đối
tượng giáo dục; năng lực phối hợp với gia đình, cộng đồng và xã hội trong
công tác giáo dục, năng lực phát triển nghề nghiệp...
Hiện nay, tuyệt đại bộ phận giáo viên có tinh thần trách nhiệm tốt, kiên
trì, vượt khó vì sự nghiệp phát triển giáo dục, nhất là giáo viên ở vùng khó
khăn. Tuy nhiên, do nhiều khó khăn trong cuộc sống, do áp lực của công việc,
do trình độ đào tạo không đồng đều, do cơ chế quản lý hoạt động nghề nghiệp
còn bất cập,… nên có một bộ phận không nhỏ giáo viên chán nghề, chưa phấn
đấu nâng cao kiến thức và kỹ năng giảng dạy.
Hằng năm, các cơ sở giáo dục đều thực hiện hoạt động bồi dưỡng giáo
viên nhằm nâng cao trình độ, nhưng dường như chưa có chuyển biến trong
cách dạy, còn nhiều hình thức bồi dưỡng chưa phù hợp và ý thức tham gia bồi
dưỡng của giáo viên còn chưa cao. Nhiều giáo viên có thói quen dạy học cũ từ
trước và ngại đổi mới. Đây có thể xem là hạn chế lớn nhất của giáo viên phổ
thông nói chung và giáo dục trung học cơ sở nói riêng.
Theo các kết quả điều tra mới nhất, một tỉ lệ khá lớn giáo viên phổ
thông đang không đủ sức đáp ứng các yêu cầu của chương trình giáo dục hiện
hành; việc bồi dưỡng được tổ chức hằng năm cho giáo viên phổ thông lại
mang nặng tính hình thức, kém hiệu quả; tình trạng vừa thừa vừa thiếu giáo


4
viên tồn tại dai dẳng hàng chục năm qua không giải quyết được cũng khiến
công tác đào tạo và sử dụng giáo viên gặp không ít khó khăn.
Bên cạnh đó, trở ngại lớn nhất trong việc xây dựng và phát triển đội

thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, phẩm chất đạo đức là những cấu phần
chủ yếu của năng lực nghề nghiệp nhà giáo.
Những vấn đề nêu trên là lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý
bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên trung học cơ sở thành phố Hà Nội
đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” để nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học
cho giáo viên THCS thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1. Xác định cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên
THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
3.2.2. Điều tra, khảo sát làm rõ thực trạng về quản lý hoạt động bồi
dưỡng giáo viên THCS thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
3.2.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên
THCS thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
3.2.4. Khảo nghiệm các biện pháp và Thử nghiệm 1 biện pháp quản lý
hoạt động bồi dưỡng giáo viên THCS thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi
mới giáo dục.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thiết khoa học
4.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở trường
THCS 4.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy
học cho giáo viên THCS thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
4.3. Phạm vi nghiên cứu


6
4.3.1. Giới hạn đối tượng nghiên cứu: Một só biện pháp quản lý bồi
dưỡng năng lực dạy học cho GV ở trường của Hiệu trưởng trường THCS
công lập thành phố Hà nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

đáp ứng của đội ngũ hiện tại với nhu cầu phát triển của nhà trường.
Tiếp cận hệ thống: Theo quan điểm hệ thống tất cả các tổ chức đều là
những hệ thống và là bộ phận của hệ thống lớn hơn, có sự tác động qua lại,
chi phối hay tương tác với nhau tùy vào mối quan hệ giữa chúng và rong mỗi
nhà trường người quản lý luôn chịu tác động của nhiều yếu tố. Vì vậy, luận
án sử dụng tiếp cận hệ thống để xem xét mối quan hệ tác động qua lại giữa
GV - nhà trường, TTCM - GV, để đánh giá những yếu tố tác động đến BD
GV. Nghiên cứu BD GV ở trường THCS nhằm phát triển NLDH đáp ứng yêu
cầu đổi mới giáo dục.
Tiếp cận chuẩn: Thực chất của phương pháp tiếp cận này là dựa trên
những chuẩn GV được quy định trong các văn bản như Luật Giáo dục, Điều lệ
trường THCS, Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực giáo dục 2011 - 2020,
Chuẩn nghề nghiệp Gv…
5.1.2. Tiếp cận thực tiễn
Thực chất cách tiếp cận này là sự kết hợp giữa lý luận chung trong quản lý
giáo dục với việc nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn quản lý bồi dưỡng GV THCS
trong nước và thế giới, phân tích thực tiễn các trường THCS trên địa bàn Hà Nội
để có được những biện pháp quản lý bồi dưỡng GV phù hợp và hiệu quả.
Khảo sát, điều tra, phân tích làm rõ thực trạng hoạt động bồi dưỡng năng
lực dạy học của giáo viên THCS thành phố Hà Nội thời gian qua và trong bối
cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: Tìm hiểu những luận cứ khoa học trong quản lý giáo dục nói
chung, quản lý bồi dưỡng GV THCS nói riêng để tìm ra những khái niệm và tư
tưởng cơ bản làm cơ sở xây dựng khung lý thuyết về quản lý bồi dưỡng GV THCS.
Các phương pháp cụ thể:
- Phân tích, tổng hợp các tài liệu về lý thuyết quản lý, quản lý giáo



về sự thay đổi trong quản lý bồi dưỡng GV THCS, khẳng định tính cần thiết và
tính khả thi của các biện pháp quản lý bồi dưỡng GV THCS, kiểm chứng các
giả thuyết đã nêu và có các kết luận về giải thuyết đó.


9
Hình thức thực nghiệm: Thực nghiệm các biện pháp quản lý bồi dưỡng
GV THCS tại trường THCS thành phố Hà Nội theo hình thức thực nghiệm
song hành (nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm).
5.2.3. Phương pháp thống kế toán học
Phương pháp này được sử dụng để phân tích số liệu thống kê, số liệu
khảo sát, các số liệu điều tra khảo sát được xử lý bằng các phần mềm, các công
thức toán thống kê như: trung bình cộng, số trung vị, hệ số tương quan thứ bậc
Spearman để định lượng kết quả nghiên cứu cho đề tài.
6. Những đóng góp mới của luận án
6.1. Đánh giá năng lực dạy học của GV THCS thành phố Hà Nội làm cơ sở
phân loại từng nhóm giáo viên theo đặc điểm, trình độ, chất lượng, để xác định
mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương thức tổ chức bồi dưỡng năng lực dạy
học phù hợp, tức là quán triệt nguyên tắc phân hóa trong quá trình bồi dưỡng.
6.2. Xác định các biện pháp quản lý hiệu quả bồi dưỡng năng lực dạy
học cho giáo viên THCS thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
phát triển:
+ Tổ chức tự bồi dưỡng bằng các tài liệu trong đó tính hợp lý giữa lý
thuyết với kỹ năng dạy học môn học theo tiếp cận năng lực bằng hệ thống các
bài tập tình huống sư phạm.
+ Xây dựng cộng đồng phát triển nghề nghiệp trong nhà trường, trong đó
lấy tổ, nhóm chuyên môn làm đơn vị hạt nhân phát triển chương trình, tài liệu
bồi dưỡng, triển khai bồi dưỡng.
+ Nghiên cứu bài học là phương thức cơ bản kết hợp tự bồi dưỡng với
bồi dưỡng qua sinh hoạt phát triển năng lực dạy học ở tổ chuyên môn, tập thể

mới giáo dục.
- Ý nghĩa thực tiễn:


11
+ Luận án làm rõ thực trạng năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên
THCS và thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên THCS
thành phố Hà Nội định hướng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục; chỉ rõ nguyên
nhân của thực trạng.
+ Luận án đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực
dạy học cho giáo viên THCS, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn, nhằm nâng cao
chất lượng dạy học tại các trường THCS thành phố Hà Nội.
+ Kết quả nghiên cứu của Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích về lý
luận và thực tiễn cho các trường THCS, các cấp quản lý giáo dục đào tạo nói
chung THCS nói riêng của thành phố Hà Nội trong quản lý, đánh giá, phát triển
năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên.
8. Kết cấu của luận án
Cấu trúc luận án: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo, phần kết quả nghiên cứu các nội dung được trình bày trong 3 chương, kết
luận và kiến nghị, danh mục các công trình công bố kết quả nghiên cứu của đề
tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.


12
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG
LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC
1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài
Thực tế nhiều quốc gia đã khẳng định: Bồi dưỡng giáo viên là vấn đề cơ
bản trong phát triển giáo dục. Việc tạo điều kiện để mọi người có cơ hội học tập,
học tập thường xuyên, học tập suốt đời; kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới

học, xã hội học và các môn khoa học khác.
Nội dung bồi dưỡng kiến thức bổ trợ và phục vụ các môn tự chọn như:
tin học, ngoại ngữ, phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản và tổ chức nghiên
cứu khoa học, phong tục tập quán địa phương...
Nội dung bồi dưỡng GV cần phải tập trung BD kiến thức, kỹ năng, giá trị, thái
độ...Đây là nội dung hết sức cần thiết góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV.
Về hình thức bồi dưỡng, cơ quan giáo dục khu vực châu Á của
UNESCO (ROEAP) đã tổ chức một Hội nghị về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
18 nước trong khu vực. Kết quả, Hội nghị tổng kết một số kinh nghiệm về bồi
dưỡng giáo viên như sau:
Hoạt động bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhà giáo ở các nước trên thế
giới được tổ chức độc lập như các Viện nghiên cứu, các Trung tâm bồi dưỡng
và đào tạo sư phạm tiến hành như mô hình của các nước xã hội chủ nghĩa trước
đây. Ở đa số quốc gia, người ta đã giao Trường Sư phạm có nhiệm vụ thực hiện
hoạt động bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo rất phong phú, đa dạng phù hợp với từng
đối tượng cụ thể. Trong một tác phẩm nổi tiếng “Trường trung học Pavlưts”,
V.A.Xukhômlinxki đã trình bày một cách cụ thể chiến lược BD NLDH cho GV
thông qua việc dự giờ của từng GV [189].
Thái Lan là một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi
dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên. Tất cả giáo viên đều phải tham gia
học tập đầy đủ các nội dung, chương trình về nghiệp vụ quản lý chuyên môn
theo quy định. Nhà nước đã đưa ra chương trình lớn được thực thi trong thập
kỷ vừa qua, đó là: “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để xây dựng kế


14
hoạch bồi dưỡng giáo viên trong 10 năm và chương trình trao đổi, chương
trình đào tạo trong nước.
Đối với Thái Lan, việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các Trung
tâm học tập cộng đồng, nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng

(2003) nghiên cứu là thông qua một số mô hình như: Mô hình tổ chức hợp tác
giữa các trường hoặc mô hình quy mô nhỏ (trường học, lớp học…) [214].
Bàn về phương pháp bồi dưỡng giáo viên, một số tác giả cho rằng giáo
viên gọi là những người biết nắm bắt cơ hội học hỏi trong nghiên cứu "What
Makes A Good Teacher?" [222] của tác giả Marie F.Hasse. Trao đổi các hoạt
động giữa các trường với nhau, các GV với nhau đồng thời tổ chức chương
trình phát triển giáo dục chung cho các cụm trường, các vùng miền...Trong
nghiên cứu "Teacher's Professional development - Eueope in Internasional
comparison"[217], của nhóm nghiên cứu từ Đại học Twente, Hà Lan. Các quốc
gia Châu Âu đã thay đổi chính sách cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy
của GV bằng cách tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên và HS, không ngừng đào
tạo, bồi dưỡng và phát triển GV chuyên nghiệp, nhấn mạnh sự cần thiết phải
cung cấp cơ hội cho việc bồi dưỡng và phát triển chuyên môn GV cần được
thực hiện liên tục. N.M.Iacôplep bàn về “Phương pháp và kỹ thuật lên lớp
trong trường phổ thông” [139], hay “Tự đào tạo để dạy học” của Patrice Pelpel
đã đưa ra những yêu cầu cụ thể về kiến thức, kỹ năng , kỹ xảo đối với GV phổ
thông và các PP thực hiện [144].
Tóm lại: Chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ bao gồm nội
dung, hình thức, phương pháp giảng dạy mới, đánh giá xếp loại học sinh, trình
độ nhận thức, ý thức nghề nghiệp...
Những kết quả nghiên cứu trên đây có giá trị tốt khi áp dụng vào những
quốc gia có điều kiện phù hợp. Việc áp dụng những kết quả đó vào thực tiễn
của Việt Nam vấn còn là vấn đề cần nghiên cứu và phát triển cho phù hợp.
Hướng nghiên cứu thứ hai: Những công trình bàn về quản lý bồi dưỡng
giáo viên.


16
Về nội dung quản lý bồi dưỡng GV, một số tác giả đã quan tâm nghiên
cứu, tuy nhiên số công trình nghiên cứu liên quan đến về vấn đề này không

chuyên môn. Luật nhà trường của bang Brandenburg, Cộng hòa Liên bang Đức
[46] quy định rõ GV phải có nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng, thường xuyên cập
nhật kiến thức và đưa vào những biện pháp đào tạo nâng cao NL chuyên môn.
Theo V.A Xukhomlinski [189], Việc lập kế hoạch bồi dưỡng là một khâu
vô cùng quan trọng do vậy trong mỗi nhà trường cần lập kế hoạch cụ thể và chi
tiết. Trong thời điểm tổ chức bồi dưỡng thì các nhà nghiên cứu thì cho rằng
công tác bồi dưỡng GV không những tổ chức theo chu kì mà phải được BD
thường xuyên, quanh năm [189]. Các nhà nghiên cứu ở Philipphin lại cho rằng
thời điểm BD tùy thuộc vào mô hình BD. Mô hình BD tại trường phổ thông thì
diễn ra suốt cả năm học; mô hình phân tầng thời gian BD kéo dài kì nghỉ hè và
đầu năm học mới; Mô hình theo cụm BD theo đợt; Mô hình học tập từ xa diễn
ra thường xuyên và tùy theo sự lựa chọn của mỗi cá nhân [37]. Tại Bang
Califoria, Mỹ đối với GV tập sự phải tham dự BD bắt buộc 2 năm, thời điểm
tham dự BD tùy từng GV lựa chọn căn cứ trên năng lực thực hiện so với bộ
chuẩn chất lượng của chương trình hỗ trợ nghề nghiệp cho GV tập sự [38].
Nhiều nước trên thế giới luôn quan tâm đến lực lượng tham gia bồi dưỡng.
Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, trưởng bộ môn, giáo viên có kinh nghiệm trong
nhà trường sẽ là lực lượng nòng cốt tham gia trong quá trình kèm cặp, giúp đỡ
đồng nghiệp [189]. GV có kinh nghiệm, có trình độ nghề nghiệp cao hướng dẫn
tư vấn cho GV mới cũng được thấy rõ ở các nước Anh, Hoa Kì, Thái Lan [54].
Sau quá trình BD nhiều nước đã có các hình thức đánh giá kết quả bồi
dưỡng. Ở Anh - Viết chuyên đề; xây dựng kĩ năng giảng dạy, biên soạn và
thuyết trình. Các sản phẩm này sẽ được đánh giá căn cứ theo Chuẩn giáo viên
[99]; Ở Bang California, với mỗi chương trình bồi dưỡng GV 5 ngày thì GV
được đánh giá ít nhất 4 lần. Tuy nhiên, ở đây Chuẩn nghề nghiệp GV không
phải là cơ sở để đánh giá GV [54]. Các nước Anh, Thái Lan cũng rất quan tâm
đến sử dụng những GV có kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao
để hướng dẫn, tư vấn cho các GV mới [54].




19
nghiên cứu đề xuất hệ thống các giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ giáo
viên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, các công
trình trên hầu hết vẫn còn để lại khoảng trống nghiên cứu về quản lý hoạt động
bồi dưỡng năng lực dạy học của giáo viên từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận
năng lực thực hiện trong đổi mới giáo dục Việt Nam trong thời kì hội nhập
quốc tế và xu thế toàn cầu hóa.
Những nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng giáo viên cũng có nhiều công
trình đề cập. Các công trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này như: “Đào tạo và
bồi dưỡng giáo viên” của tác giả Lê Trần Lâm, “Về nghiệp vụ sư phạm cho sinh
viên” của tác giả Nguyễn Quang Uẩn. Tiêu biểu là cuốn “Vấn đề giáo viên Những nghiên cứu lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Bá Hoành (2006)[86], đã
dành phần lớn nội dung nói về công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ở Việt Nam.
Một số tác giả như: Nguyễn Đức Vũ đăng trên Kỷ yếu Hội thảo kỷ niệm
60 năm ngành Sư phạm Việt Nam, Bộ GD&ĐT - Hà Nội tháng 10 năm 2006;
“Phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên phổ thông qua nghiên cứu bài
học” của tác giả Đặng Thị Hồng Đoan (T/c Giáo dục số 268, 8/2011)[53];
“Phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên phổ thông qua nghiên cứu bài
học” - Hội thảo khoa học quốc tế do trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức
tháng 12/2009; BD NLDH cho GV đã được các nhà nghiên cứu giáo dục và lý
luận dạy học quan tâm như: Trương Đại Đức [62], Nguyễn Tiến Đạt[51], Trần
Khánh Đức [60], Phạm Minh Hạc[78], Trần Bá Hoành[87], Các tác giả có
nhiều cách tiếp cận khác nhau về NL và NL nghề trong quá trình đào tạo và BD
GV. Tác giả Trần Khánh Đức[59] đã đề xuất một số biện pháp mới cho công
tác đào tạo và BD GV đáp ứng nhu cầu của thời đại mới. Tác giả Nguyễn Thu
Hà (2002)[76] đã nêu một số vấn đề cơ bản có liên quan đến đào tạo BD GV
tiểu học xuất phát từ thực tiễn. Từ năm 2011 trở lại đây còn nhiều đề tài nghiên
cứu về BD NLDH cho các đối tượng GV như tác giả Hồng Hà với đề tài ‘Bồi
dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu dạy học phân hóa ở trường trung học phổ




21
của địa phương. Có thể nêu một số tác giả có công trình nghiên cứu theo hướng
này là: Trần Khánh Đức[61], Nguyễn Thanh Bình[15], Claude Allegre[44], Lê
Ngọc Hùng[94].
Ngoài những hình thức bồi dưỡng được gọi là “truyền thống” như bồi
dưỡng tập trung, bồi dưỡng không tập trung, bồi dưỡng tại chỗ, bồi dưỡng từ
xa....Một số tác giả đã quan tâm đến hoạt động tự đào tạo, tự bồi dưỡng và coi
đây là “chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam”, nội dung này được phản
ánh trong các công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Quốc Bảo [8], Phậm Đỗ
Nhật Tiến [167]. Có nhiều tác giả như Nguyễn Minh Đường[65], Vũ Quốc
Chung[37], Trần Bá Hoành [93] đã đưa ra nhiều hình thức tổ chức BD. Tác giả
Phan Thị Lạc[113] đã đề xuất hình thức BD qua kênh truyền hình, xác định
thời gian, kênh phát sóng chương trình khá phù hợp và khả thi. Tác giả Trần Bá
Hoành khẳng định việc BD ở các trường là vấn đề then chốt để nâng cao chất
lượng BD [93] . Nhiều tác giả đã khẳng định mỗi GV tự mình tích cực tham gia
công tác đào tạo BD thì sẽ thu được kết quả tốt. Đồng thời hình thức sinh hoạt
chuyên môn trong mỗi nhà trường là hình thức BDGV hiệu quả [84]. Hiện nay
hình thức BD trực tuyến được đề cao và cho là phù hợp với xu thế phát triển
của xã hội đã được nêu trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Giao[68],
Nguyễn Minh Tuấn[188]. Tác giả Nguyễn Hữu Độ trong nghiên cứu đã kết
luận: BD và phát triển NL chuyên môn cho GV thông qua mô hình nghiên cứu
bài học sẽ khả thi hơn so với các hình thức BD truyền thống khác. Hình thức
BD phải linh hoạt, có lúc phải BD tập thể, có lúc cần tách theo TCM, có lúc lại
BD cho một số ít người[104]. Nói chung, các tác giả đã đề xuất nhiều hình thức
BD khác nhau nhằm lựa chọn được hình thức BD phù hợp cho mọi đối tượng
GV để công tác BD GV đạt hiệu quả cao. Đặc biệt hình thức BD tại tổ chuyên
môn như dự giờ trao đổi về tiết dạy là vấn đề chúng tôi bám sát để tiếp tục triển
khai nghiên cứu ứng dụng trong nhà trường THCS hiện nay.

nêu rõ người GV phải có nhiệm vụ học tập, BD suốt đời để nâng cao NLDH.


23
Công tác quản lý bồi dưỡng GV đã được một số tác giả đề cập trong các
đề tài về phát triển đội ngũ GV. Tác giả Bùi Văn Quân và Nguyễn Ngọc Cầu
với đề tài "Một số cách tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển đội ngũ giáo
viên" [89] đã đề cập đến 3 cách tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển đội ngũ
giáo viên. Trong nghiên cứu này tác giả nhấn mạnh "Hiện nay có rất nhiều cách
tiếp cận khác nhau, việc lựa chọn cách tiếp cận nào là do ý thức lý luận và kết
quả phân tích thực tiễn giáo dục của nhà nghiên cứu hay nhà quản lý quyết
định"[89]. Những biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên được thể hiện trong
các công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên như [121]; [131].
Các biện pháp bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng GV được đề cập trong một số
công trình về phát triển đội ngũ GV các trường THPT...... Cùng hướng nghiên cứu
trên còn có các công trình [110], [79], [4]. Ngoài ra còn có các nghiên cứu của tác
giả Nguyễn Hữu Lam; "Bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục trong thời kì hội nhập"[149] của tác giả Thân Văn Quân...
Tóm lại: Các biện pháp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đã được nhiều tác giả
đưa ra trong các đề tài nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên. Nhìn chung,
các biện pháp đều phù hợp với điều kiện, đối tượng và nội dung nghiên cứu
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên, các biện pháp đào tạo,
bồi dưỡng trong các nghiên cứu trên đây mới chỉ dừng lại ở nội dung, hình
thức, phương pháp bồi dưỡng, vấn đề quản lý bồi dưỡng chưa được các tác giả
quan tâm khai thác. Theo chúng tôi, đây là vấn đề hết sức cần thiết cần phải tiếp
tục nghiên cứu.
Về vai trò của bồi dưỡng, quản lý bồi dưỡng, từ việc nghiên cứu những
kinh nghiệm của thế giới về bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng giáo viên trên thế
giới đến nghiên cứu thực tiễn Việt Nam, một số tác giả đã nhận định: việc bồi
dưỡng giáo viên là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển giáo

huyện là cấp trung gian, cấp trường là cấp quản lý thao tác. Với cách tiếp cận
hệ thống trong nghiên cứu, tác giả đã đề cao vai trò của chủ thể quản lý, việc
phân cấp quản lý bồi dưỡng giáo viên ở phổ thông.


25
Tóm lại: Có thể khẳng định, hiện nay các nghiên cứu về nội dung quản lý
bồi dưỡng giáo viên còn rất ít. Một số đề tài đã đề cập nhưng mới chỉ ở mức độ
hẹp, chưa sâu, chưa đầy đủ, nội dung quản lý hoạt động này còn mờ nhạt.
3. Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã
công bố và những vấn đề tồn tại luận án tập trung giải quyết
Tổng quan các công trình nghiên cứu ở ngoài nước cũng như ở trong nước
có liên quan đến đề tài luận án cho thấy:
Nói chung, các công trình, bài viết trên đều tập trung làm rõ thực trạng
cũng như đề xuất giải pháp để đổi mới công tác bồi dưỡng giáo viên nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong giáo dục. Tuy nhiên, hầu
hết các nghiên cứu chưa đi sâu tìm giải pháp cụ thể về bồi dưỡng và quản lý hoạt
động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên THCS, đặc biệt là nội dung,
phương thức bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên đáp
ứng đổi mới giáo dục phổ thông trung học hiện nay.Vì vậy, đề tài luận án cần phải
nghiên cứu để xác định được mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức
bồi dưỡng phù hợp, lấy tự bồi dưỡng làm chính, kết hợp hoạt động nghiên cứu
khoa học với BD trong cộng đồng nghề nghiệp, trong đó lấy tổ bộ môn làm hạt
nhân, tổ chức đánh giá thường xuyên theo Chuẩn nghề nghiệp để liên tục thu nhận
thông tin phản hồi về sự phát triển nghề nghiệp của GV để điều chỉnh hoàn thiện
dần, trong đó lấy tự đánh giá của giáo viên làm cốt lõi. Đó là những nội dung
nghiên cứu được chú trọng trong đề tài luận án của tác giả.
Đối với thành phố Hà Nội, sau khi hợp nhất Hà Nội và Hà Tây, đã dẫn
đến sự chênh lệch về trình độ của đội ngũ giáo viên các trường THCS. Cũng
như hầu hết các địa phương trong cả nước, Hà Nội phải đối phó với việc phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status