Header Page 1 of 126.
bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học bách khoa hà nội
Trần Quang Huy
Một số giải pháp hoàn thiện công tác
quản lý ngân sách nhà nớc trên địa bàn
huyện nam trực - tỉnh nam định
Chuyên ngành: quản trị kinh doanh
LUN VN THC S K THUT
Ngời hớng dẫn khoa học
TS Ngô Trần ánh
H NI - 2014
Footer Page 1 of 126.
Header Page 2 of Luận
126. văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
MỤC LỤC
Trang
Trang Phụ bìa
Danh mục các từ viết tắt
1.2.1 Khái niệm quản lý NSNN
16
1.2.2 Nguyên tắc quản lý NSNN
18
1.2.3 Quan hệ giữa các cấp NS được thực hiện theo nguyên tắc
19
1.2.4 Nội dung thu, chi NSNN
19
1.2.4.1 Nội dung thu NSNN
19
1.2.4.2 Nội dung chi ngân sách
22
1.2.5 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
25
1.3 MỤC TIÊU QUẢN LÝ NSNN
37
ĐỊA BÀN HUYỆN NAM TRỰC GIAI ĐOẠN 2008-2014
2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN NAM TRỰC CÓ
37
ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NSNN TRÊN ĐỊA BÀN
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
37
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội
38
2.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG
42
TÀI CHÍNH HUYỆN NAM TRỰC
2.2.1 Quá trình hình thành
42
2.2.2 Đặc điểm hoạt động
42
giai đoạn 2008-2012
2.3.5 Về việc thực hiện báo cáo quyết toán thu chi ngân sách huyện.
74
2.3.6 Đánh giá kết quả quản lý NSNN trên địa bàn huyện Nam
74
trực giai đoạn 2008-2012.
Trần Quang Huy
Footer Page 3 of 126.
Khóa 2012A
Header Page 4 of Luận
126. văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
88
QUẢN LÝ NSNN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM TRỰC
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN
LÝ NSNN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NAM TRỰC
97
3.3.4 Nâng cao chất lượng công tác lập, phân bổ, chấp hành và
99
quyết toán ngân sách
3.3.5 Tổ chức có hiệu quả về công khai ngân sách
102
3.3.6 Hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách
103
3.3.7 Tăng cường công tác thanh tra , kiểm soát tài chính NS
105
3.3.8 Nâng cao hiệu quả ứng dụng tin học vào quản lý NS huyện
106
3.3.9 Nâng cao trình độ năng lực của cán bộ quản lý NSNN
107
3.4 KIẾN NGHỊ
2008-2012
Bảng 2.4: Tình thực hiện dự toán chi ngân sách huyện giai đoạn 2008-2012
64
Bảng 2.5: Cơ cấu chi ngân sách huyện Nam trực giai đoạn 2008-2012
73
Bảng 2.6: tình hình thực hiện thu từ kinh tế trên địa bàn giai đoạn 2008-2012
75
Bảng 2.7: Tình thực hiện dự toán chi cân đối, chi từ nguồn thu để lại quản lý
77
qua NSNN huyện Nam Trực, giai đoạn 2008-2012
Bảng 2.8: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu KT-XH Huyện Nam Trực, giai đoạn
78
2008-2012
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.1 : Sơ đồ Hệ thống NSNN ở Việt Nam
Trần Quang Huy
Ủy ban nhân dân
HĐND
Hội đồng nhân dân
KT-XH
Kinh tế - xã hội
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
XDCB
Xây dựng cơ bản
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
NSX
Ngân sách xã
NS
Ngân sách
Phổ thông trung học
XD
Xây dựng
CTN
Công thương nghiệp
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
GD
Giáo dục
Trần Quang Huy
Footer Page 6 of 126.
Khóa 2012A
Header Page 7 of Luận
Ngân sách huyện là một bộ phận của NSNN do UBND huyện xây dựng
điều hành quản lý, HĐND huyện quyết định giám sát thực hiện. Ngân sách
huyện có vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế xã hội ở địa
Footer Page 7 of 126.
Trần Quang Huy
1
Khóa 2012A
Header Page 8 of Luận
126. văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
phương, là công cụ quan trọng để chính quyền địa phương thực hiện nhiệm vụ
chính trị trên địa bàn, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, đảm bảo công
bằng xã hội, ổn định an ninh quốc phòng…
Nam Trực là một huyện đồng bằng thuộc tỉnh Nam Định, kinh tế còn
gặp rất nhiều khó khăn, ngân sách của Huyện còn trông chờ vào trợ cấp của
cấp trên. Thu ngân sách trên địa bàn còn nhỏ, nguồn vốn dành cho đầu tư phát
triển còn hạn chế, trong khi nhu cầu chi ngân sách của huyện là rất lớn. Chính
vì thế, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân
sách nhà nước trên địa bàn huyện nhằm phát huy mọi tiềm năng của huyện,
quản lý chặt chẽ các nguồn thu, chi tiêu ngân sách đảm bảo đúng chính sách,
chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả là yêu cầu cần thiết khách quan của công
cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước.
Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN nhằm làm cho NSNN thực sự là
công cụ của nhà nước, sử dụng nó để thực hiện tốt hơn, hiệu quả cao hơn
- Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công
tác quản lý NSNN trên địa bàn huyện Nam Trực.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Dựa vào hệ thống lý luận và thực tiễn về hiệu quả quản lý NSNN ở
Huyện Nam Trực trong thời gian qua, trên cơ sở đó tìm ra một số giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác quản lý NSNN trên địa bàn Huyện Nam Trực trong
thời gian tới 2015- 2020. Vì vậy đề tài sẽ nghiên cứu thực trạng về công tác
quản lý NSNN và định hướng quản lý NSNN ở Huyện Nam Trực để có
những giải pháp phù hợp, hữu hiệu nhằm hoàn thiện công tác quản lý NSNN
trên địa bàn huyện Nam Trực.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Để đưa ra những giải pháp mang tính khả thi nhất và có ý nghĩa thực tiễn
trong công tác quản lý NSNN tại Huyện Nam Trực. Đề tài giới hạn phạm vi
nghiên cứu là nghiên cứu một cách hệ thống các khoản thu, chi, chỉ tiêu cơ
bản và chủ yếu của NSNN Huyện Nam Trực giai đoạn 2008-2014. Từ đó rút
ra những mặt mạnh, mặt yếu về hiệu quả quản lý NSNN ở địa phương, để có
những giải pháp tích cực nhằm hoàn thiện công tác quản lý NSNN trên địa
bàn huyện Nam Trực trong thời gian tới 2015- 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp duy vật biện
chứng. Dựa vào phương pháp này, các khoản thu, chi NSNN được xem như
một hệ thống luôn biến đổi, vận động và do đó cần đượ quan tâm đổi mới.
Đồng thời sử dụng phương pháp quy nạp, phân tích tổng hợp, thống kê, so
sánh dựa trên lý thuyết quản lý nhà nước về quản lý kinh tế, kinh tế học vĩ
mô, vi mô, kinh tế ngành như: Lý thuyết tài chính- tiền tệ, Ngân hàng, Thuế,
Kho bạc, thống kê...Để làm các căn cứ, lập luận có tính thuyết phục.
Footer Page 9 of 126.
Trần Quang Huy
Footer Page 10 ofTrần
126. Quang Huy
4
Khóa 2012A
Header Page 11 ofLuận
126. văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CƠ CẤU NSNN
1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước
Lịch sử đã chứng minh rằng, sản xuất hàng hóa phát triển, chế độ tư hữu
xuất hiện và có sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trong điều kiện
lịch sử đó, nhà nước xuất hiện, đầu tiên là nhà nước chiếm hữu nô lệ. Khi nhà
nước ra đời và hoạt động để duy trì sự tồn tại của mình, nhà nước đã dùng
quyền lực chính trị buộc các tổ chức và cá nhân trong xã hội phải đóng góp
một phần thu nhập, của cải cho nhà nước nhằm tạo lập quĩ tiền tệ đáp ứng nhu
cầu chi tiêu của quốc gia. Như vậy sự ra đời của nhà nước đã làm nảy sinh các
mối quan hệ kinh tế gắn với hình thành, phân phối và sử dụng quĩ tiền tệ cho
riêng mình, để phục vụ các chức năng, nhiệm vụ hoạt động của nhà nước,
hình thành nên hoạt động tài chính nhà nước. Lịch sử đã chứng minh rằng tài
chính nhà nước gắn liền với sự ra đời của nhà nước và cùng với sự xuất hiện
của tiền tệ làm tiền tệ hóa các khoản thuế và chi tiêu của nhà nước. Bản chất
của tài chính nhà nước do bản chất nhà nước quyết định, ở chế độ chính trị
NSNN, đó là cơ sở pháp lý để nhà nước kiểm soát thu chi ngân sách một cách
có hiệu quả và chống các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng phát sinh trong quá
trình đó. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, đồng thời cũng là chủ thể
quản lý NSNN.
Luật ngân sách nhà nước được đặc trưng bằng sự vận động của các
nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng các quĩ tiền tệ tập trung để
phục vụ cho việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của NSNN, phản ánh hệ
thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế khác trong xã
hội.
Luật ngân sách nhà nước được Quốc hội khoá XI thông qua ngày
16/12/2002 qui định: “ Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của
nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực
hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà
nước"( Điều 1, Luật NSNN năm 2002)
Trong thực tế nhìn bề ngoài, hoạt động NSNN là hoạt động thu, chi tài
chính của nhà nước. Hoạt động đó đa dạng, phong phú, được tiến hành hầu
hết trên các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế xã hội. Tuy đa dạng và
phong phú như vậy nhưng các hoạt động đó vẫn có những đặc điểm chung:
Các hoạt động tạo lập và sử dụng quĩ NSNN đều gắn chặt với quyền lực kinh
tế, chính trị của nhà nước và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, nói
một cách cụ thể hơn, quyền lực của nhà nước và các chức năng của nó là
những nhân tố trực tiếp quyết định mức thu, mức chi, nội dung và cơ cấu thu,
chi của NSNN. Các hoạt động thu, chi NSNN đều được tiến hành trên cơ sở
những luật lệ nhất định. Đó là các luật thuế, pháp lệnh thuế, chế độ thu, chế
Footer Page 12 ofTrần
126. Quang Huy
6
Khóa 2012A
phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của nhà nước và
nhà nước chuyển thu nhập đó đến các chủ thể được thụ hưởng nhằm thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Hoạt động thu, chi của NSNN là sự thể hiện các mặt hoạt động kinh tế
của nhà nước ở tầm vĩ mô. Trong hệ thống tài chính nói chung, cũng như
trong khu vực tài chính nhà nước nói riêng, NSNN luôn giữ vị trí trọng yếu
Footer Page 13 ofTrần
126. Quang Huy
7
Khóa 2012A
Header Page 14 ofLuận
126. văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
trong việc bảo đảm nguồn tài chính cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước.
Bởi vì NSNN là kế hoạch tài chính vĩ mô trong các kế hoạch tài chính của nhà
nước để quản lý các hoạt động kinh tế xã hội. Chính vì vậy, NSNN có vị trí
quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề tài chính vĩ mô và các cân đối vĩ
mô của nền kinh tế. Hơn nữa, xét về mặt thực thể, NSNN là quĩ tiền tệ tập
trung lớn nhất của nhà nước. Nguồn hình thành của quĩ ngân sách là từ tổng
sản phẩm Quốc nội (GDP) và từ các nguồn tài chính khác. Mục đích sử dụng
của quĩ này là nhằm duy trì sự tồn tại của nhà nước và thực hiện chức năng
của nhà nước.
Mặt khác, NSNN là khâu chủ đạo trong hệ thống các khâu tài chính,
các nguồn tài chính được tập trung vào NSNN nhờ việc nhà nước tham gia
Thứ năm, qui mô của NSNN quyết định bởi kết quả hoạt động của nền
kinh tế quốc dân.
Tóm lại : Về hình thức ngân sách nhà nước là một bảng dự toán thu chi
bằng tiền của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một
năm. Thực chất NSNN là kế hoạch tài chính vĩ mô và là khâu tài chính chủ
đạo của hệ thống tài chính nhà nước, phản ánh các quan hệ kinh tế giữa nhà
nước và các chủ thể trong xã hội phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối
các nguồn tài chính theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Nghiên cứu, nắm vững bản chất của NSNN để thấy rõ các mối quan hệ, sự tác
động qua lại của các quan hệ để có các giải pháp quản lý NSNN hiệu quả.
Quản lý NSNN ảnh hưởng đến nhiều đối tượng, nhiều cấp chính quyền cần
phải thận trọng, cơ chế chính sách trong quản lý NSNN cần phải có sự nghiên
cứu nghiêm túc, khoa học, dân chủ, được xem xét trong các mối quan hệ thì
khi áp dụng mới đem lại hiệu quả cao.
1.1.3 Chức năng của ngân sách nhà nước: nguồn [ 15 ]
Ngân sách nhà nước có hai chức năng cơ bản đó là chức năng huy động
nguồn tài chính , đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo dự toán của nhà nước và
chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
a) Chức năng huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi
tiêu theo dự toán của nhà nước:
Chức năng này để duy trì sự tồn tại và thực hiện các chức năng nhiệm
vụ của nhà nước, nhà nước cần có nguồn lực tài chính để đáp ứng các nhu cầu
chi tiêu, thông qua luật pháp với các chính sách đối nội và đối ngoại, nhà
nước huy động nguồn lực tài chính bằng hai nguồn đó là nguồn vốn trong
nước và nguồn vốn nước ngoài:
Nguồn vốn trong nước là các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí ( hay còn gọi
là các khoản thu thường xuyên ) và các khoản thu khác của ngân sách theo
qui định của luật NSNN.
được tự do phát triển kinh doanh theo pháp luật, trên tinh thần tự nguyện, hợp
tác cùng có lợi. Ưu điểm của nền KTTT tạo điều kiện phát huy mọi tiềm
năng, khuyến khích tính chủ động sáng tạo, thường xuyên cải tiến phương
pháp quản lý, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật thúc đẩy nền KT phát triển
năng động và có hiệu quả. Tuy có nhiều ưu điểm song cơ chế thị trường có
những nhược điểm không thể tự khắc phục, đó là thường xuyên tạo ra sự mất
cân đối, bất hợp lý ở tầm vĩ mô, làm giảm hiệu quả trên qui mô nền kinh tế
quốc dân, mặt khác trong nền kinh tế thị trường do chạy theo lợi nhuận đơn
thuần nên không tránh khỏi các hiện tượng gian lận thương mại, đầu cơ tích
trữ, làm hàng giả, trốn thuế, thất nghiệp, lạm phát... dẫn đến sự phân hoá giầu
nghèo, ô nhiễm môi trường làm mất ổn định tình hình chính trị KT-XH .
Footer Page 16 ofTrần
126. Quang Huy
10
Khóa 2012A
Header Page 17 ofLuận
126. văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Để hạn chế những khuyết tật này của kinh tế thị trường cần có sự điều
tiết của nhà nước đối với nền kinh tế xã hội, thông qua các công cụ chủ yếu
như: Hệ thống pháp luật, hệ thống các chính sách vĩ mô như tài chính, tiền tệ,
thuế, chính sách thu nhập… Trong đó NSNN được coi là một trong những
công cụ quan trọng nhất của nhà nước, có nhiệm vụ điều hoà kinh tế vĩ mô,
Header Page 18 ofLuận
126. văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
cần xác định tỷ lệ các mối quan hệ một cách hợp lý, khoa học đảm bảo cân
đối giữa thu và chi để thực hiện các mục tiêu mà nhà nước đặt ra.
Thứ hai, cơ cấu NSNN được xem xét trong các mối quan hệ bên trong
với nội dung cơ bản của nó là thu và chi. Ví dụ: tỉ trọng thu các khoản thuế,
phí, lệ phí trong tổng thu, đây là nguồn thu chủ yếu mang tính chất bắt buộc,
nguồn này càng phải chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu mới đảm bảo đáp ứng
nhu cầu chi tiêu của Chính phủ. Quan hệ chi đầu tư phát triển và chi tiêu dùng
hợp lý ở từng quốc gia.
Hệ thống NSNN: Điều 4 luật NSNN qui định: “ NSNN gồm có ngân
sách trung ương và ngân sách địa phương, Ngân sách địa phương bao gồm
ngân sách của các đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND “. Như vậy
theo qui định của luật NSNN thì ngân sách địa phương bao gồm có ngân sách
tỉnh, ngân sách huyện và NSX.
Hình 1.1 : Sơ đồ Hệ thống NSNN ở Việt Nam
Ngân sách
nhà nước
Ngân sách
trung ương
Ngân sách
địa phương
Ngân sách
tỉnh
Ngân sách
quốc phòng… Góp phần tạo điều kiện cho kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn
định.
* Về kinh tế: Trong giai đoạn hiện nay NSNN có vai trò đặc biệt quan
trọng là công cụ tài chính để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, kích thích sự tăng
trưởng kinh tế theo định hướng phát triển kinh tế xã hội thông qua các công
cụ thuế và thuế suất của nhà nước sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển,
thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp, ngoài ra nhà nước còn dùng ngân
sách nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng tao kiện và môi trường thuận lợi cho
các doanh nghiệp hoạt động, vai trò về kinh tế được thể hiện ở những điểm
sau:
Thứ nhất, vai trò khai thác huy động nguồn tài chính đảm bảo nhu
cầu chi:
Hoạt động của nhà nước luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để thõa
mãn những nhu cầu chi tiêu thực hiện mục đích được xác định, các nhu cầu
chi tiêu phải thõa mãn từ các nguồn thu dưới các hình thức thuế và thu ngoài
thuế. Đây là vai trò lịch sử của NSNN được xuất phát từ nội tại của phạm trù
Footer Page 19 ofTrần
126. Quang Huy
13
Khóa 2012A
Header Page 20 ofLuận
126. văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
tài chính mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào và cơ chế kinh tế nào, NSNN đều
14
Khóa 2012A
Header Page 21 ofLuận
126. văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Mặt khác, để góp phần điều chỉnh các hoạt động kinh tế xã hội, có thể áp
dụng giải pháp trợ giá trong chi ngân sách. Tuy nhiên, trong mô hình kinh tế
mới, trợ giá của ngân sách không nên mang tính chất bao cấp tràn lan, mà chỉ
áp dụng cho những đối tượng quan trọng có ảnh hưởng lớn đối với nền kinh
tế. Nắm được điều đó sẽ góp phần mạnh mẽ thúc đẩy vai trò quan trọng của
NSNN trong việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
NSNN góp phần ổn định thị trường, giá cả, hạn chế lạm phát: Nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, gía cả chủ yếu phụ thuộc
vào quan hệ cung - cầu về hàng hoá trên thị trường. Do đó, để ổn định giá cả
có thể tác động vào cung hoặc cầu trên thị trường. Thực hiện sự tác động này
chủ yếu thông qua thuế và chi ngân sách. Bằng nguồn cấp phát từ ngân sách,
các quỹ dự trữ nhà nước về hàng hoá và tài chính được hình thành. Trong
những trường hợp thị trường có biến động, giá cả lên quá cao, hoặc quá thấp
nhờ việc dự trữ hàng hoá và tiền, nhà nước có thể điều hoà quan hệ cung - cầu
hàng hoá, vật tư để bình ổn giá cả trên thị trường, bảo vệ quyền lợi cho người
tiêu dùng và kích thích sản xuất phát triển.
Về xã hội NSNN là công cụ bảo đảm công bằng và tiến bộ XH:
Để giải quyết các vấn đề xã hội nhà nước sử dụng công cụ thuế và trợ
cấp để điều chỉnh, trong đó thuế thu nhập có vai trò quan trọng nhằm điều tiết
thực hiện nhiệm vụ này đều phải lấy từ nguồn NSNN.
Vai trò quan trọng nhất về mặt xã hội của NSNN là bằng nguồn thu
được, nhà nước tích cực đầu tư vào những nơi, những vùng khó khăn, để duy
trì phát triển cân đối các lĩnh vực của đời sống xã hội như: Giáo dục đào tạo,
y tế, văn hoá, phúc lợi công cộng… Những khoản đầu tư này về mặt hình
thức là những khoản chi cho tiêu dùng, nhưng xét về lâu dài là chi cho đầu tư
phát triển, bởi vì những khoản chi này nhằm mục đích phục vụ cho con người,
đào tạo con người có sức khoẻ, có kiến thức khoa học, có phẩm chất đạo đức,
đây chính là yếu tố quyết định cho sự phát triển ổn định của đất nước.
Tóm lại: NSNN có một vai trò rất quan trọng, là công cụ điều chỉnh vĩ
mô nền kinh tế quốc dân, quản lý xã hội về các mặt, đảm bảo thực hiện thành
công các chính sách và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc
phòng, đối ngoại, ổn định thị trường giá cả, kìm chế lạm phát. Nhà nước có
vai trò quan trọng trong việc quản lý ngân sách, NSNN có phát huy được vai
trò tác dụng hay không phụ thuộc vào sự quản lý , điều hành của nhà nước.
1.2 QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC: nguồn [ 15 ]
1.2.1 Khái niệm quản lý NSNN
Quản lý NSNN là quản lý sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền
với quá trình tạo lập, sử dụng quĩ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực
hiện các chức năng của Nhà nước.
Quản lý nhà nước đối với NSNN là quá trình tác động của nhà nước đến
các mối quan hệ của NSNN , nhằm hướng NSNN tác động vào các hoạt động
Footer Page 22 ofTrần
126. Quang Huy
16
Khóa 2012A
các nguồn lực mang lại hiệu quả.
Thứ ba, các vấn đề liên quan đến NSNN ở tầm vĩ mô chỉ có nhà nước
mới có khả năng chi phối, qui định thực hiện, tác động mọi hoạt động trong
Footer Page 23 ofTrần
126. Quang Huy
17
Khóa 2012A
Header Page 24 ofLuận
126. văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
đời sống kinh tế xã hội. Quản lý vừa mang tính bắt buộc, vừa tạo điều kiện
cho các hoạt động trong nền kinh tế phát triển.
1.2.2 Nguyên tắc quản lý NSNN:
Một là, nguyên tắc tập trung thống nhất: quốc gia chỉ có một hệ thống
NSNN thóng nhất, quyền quyết định tập trung vào Quốc hội và sự điều hành
của Chính phủ, đồng thời cũng đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp.
Sự thống nhất trong quản lý NSNN phải bằng pháp luật, bằng chính sách, chế
độ và bằng kế hoạch ngân sách hàng năm.
Hai là, đảm bảo tính đầy đủ và toàn vẹn của NSNN: Mọi khoản thu và
chi của NSNN đều phải tập trung đầy đủ, toàn bộ vào NSNN, không được bỏ
sót, hoặc để bất kỳ nguồn nào ngoài NSNN. Nguyên tắc này đảm bảo tính
nghiêm ngặt của NSNN, giúp nhà nước nắm và điều hành toàn bộ NSNN,
chống tùy tiện, thất thoát, lãng phí, tham nhũng.
Ngân sách trung ương và ngân sách mõi cấp chính quyền địa phương
được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể, được ghi cụ thể trong Luật
NSNN, cả trong từng giai đoạn được điều chỉnh bổ sung cho phù hợp. Ví dụ
như Luật NSNN năm 1996 ghi cụ thể từng nguồn thu, nhiệm vụ chi ở 4 cấp
ngân sách, đến năm 2002 thì nguồn thu của ngân sách địa phương phân cấp
mạnh cho địa phương quyết định.
Ngân sách trung ương là công cụ của Chính phủ, giữ vai trò chủ đạo.
quản lý các nguồn thu tập trung lớn, luôn giữ tỷ trọng cao trong tổng thu, đảm
nhận vai trò định hướng có tổ chức và xác định phương hướng hoạt động
ngân sách cấp dưới.
Ngân sách địa phương hình thành chủ yếu từ nguồn thu tại địa phương
và công cụ tài chính của chính quyền tương ứng , phục vụ thực hiện nhiệm vụ
phát triển kinh tế xã hội của các cấp chính quyền đã được phân cấp quản lý.
Vai trò NS địa phương thể hiện: đảm bảo các nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu
chi tại địa phương, đảm bảo huy động, quản lý, giám sát một phần vốn của
trung ương hoạt động trên địa bàn địa phương và điều hòa vốn về ngân sách
trung ương trong những trường hợp cần thiết để cân đối cho hệ thống ngân
sách.
Thực hiện bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để đảm
bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, địa phương. Số bổ sung này
là khoản thu của ngân sách cấp dưới.
Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan
quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình
thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện
nhiệm vụ đó; không được dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm vụ của
cấp khác.
1.2.4 Nội dung thu, chi NSNN: nguồn [ 1 ]
1.2.4.1 Nội dung thu NSNN:
Footer Page 25 ofTrần
126. Quang Huy