2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khoa học - công nghệ trên thế giới phát triển mạnh mẽ cả bề
rộng và chiều sâu, làm thay đổi nhanh chóng, sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội
loài người. Nắm bắt cơ hội đó, nhiều nước trên thế giới đã nhanh chóng ứng
dụng những tiến bộ khoa học - công nghệ vào phát triển nông nghiệp, nông
thôn nên đã đạt được những thành tựu to lớn.
Hiện tại, Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở
khu vực nông thôn và 2/3 dân số sống phụ thuộc vào nông nghiệp, nông thôn. Vì
vậy, nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vai trò chiến lược trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn nước ta dành được thắng lợi, giải pháp quan trọng hàng đầu là
phải ưu tiên phát triển khoa học - công nghệ, đưa khoa học - công nghệ thực sự
trở thành động lực chủ yếu để phát triển một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa
lớn và xây dựng nông thôn mới.
Cùng với cả nước, phát triển khoa học - công nghệ phục vụ nông nghiệp,
nông thôn ở Hà Nội có vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển khoa
học - công nghệ của Thủ đô. Những năm qua, nhất là từ khi mở rộng địa giới
hành chính đến nay, Hà Nội ngày càng quan tâm, đầu tư nhiều hơn cho lĩnh vực
này. Khoa học - công nghệ bước đầu đã phát huy vai trò là động lực chủ yếu
đưa nền nông nghiệp của Thành phố tiếp cận đến một nền nông nghiệp hiện đại
với năng suất, chất lượng ngày càng cao. Đồng thời, khoa học - công nghệ còn
là cơ sở quan trọng để các cấp, các ngành của Hà Nội tiến hành công tác quy
hoạch, xây dựng và phát triển nông thôn mới.
Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn hiện nay, khoa học - công nghệ
của Hà Nội vẫn còn những bất cập như: trình độ khoa học - công nghệ trong
nông nghiệp đang ở mức thấp; đầu tư cho khoa học - công nghệ chưa đáp ứng
kịp với yêu cầu phát triển toàn diện nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện Hà
Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
4
Đây là công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ và có hệ thống về sự phát
triển của khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Tác giả đã đi sâu phân tích vai trò của khoa học và công
nghệ đối với tăng trưởng kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các
nước và ở Việt Nam. Sau khi đánh giá thực trạng và đúc rút kinh nghiệm ở các
nước châu Á, tác giả đã đưa ra định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát
triển của khoa học và công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nền kinh tế ở nước ta.
Phạm Văn Quý (2005), “Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn
nhân lực khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa”, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Viện Kinh tế Việt Nam, Hà Nội.
Đây cũng là một công trình nghiên cứu tiêu biểu về phát triển khoa học công nghệ. Trong luận án của mình, tác giả Phạm Văn Quý đã đưa ra khái niệm
và làm rõ vai trò của nguồn nhân lực khoa học công nghệ; khảo sát thực trạng
nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở Việt Nam; nêu kinh nghiệm phát triển
nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở một số nước, trên cơ sở đó đề xuất phương
hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Phan Đình Trung (2000), “Phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta
hiện nay và tác động của nó tới quá trình hiện đại hóa quân đội”, luận văn Thạc
sỹ kinh tế chính trị, Học viện Chính trị.
Ở công trình này, tác giả đã thống kê một số khái niệm cơ bản về khoa học,
công nghệ; phân tích sâu sắc tính tất yếu khách quan của việc phát triển khoa
học - công nghệ trong sự nghiệp xây dựng đất nước và củng cố quốc phòng;
đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển khoa học
- công nghệ nói chung, khoa học - công nghệ trong lĩnh vực quân sự nói riêng
để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam.
6
Ngoài những công trình nghiên cứu tiêu biểu trên còn có nhiều bài viết về
phát triển khoa học - công nghệ đã đăng trên các tạp chí trong thời gian qua
như:
Nguyễn Hải Bằng (2010), “Thúc đẩy sự phát triển khoa học - công nghệ
phục vụ nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ hội nhập”, Tạp chí Nghiên cứu trao đổi, (số 169/ 2010), tr. 27 - 31; Hoàng Bắc (2011), “Đẩy mạnh ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật để xóa đói giảm nghèo”, Tạp chí Tiêu chuẩn đo lường
chất lượng, (số 13/ 2011), tr. 18 - 19; Xuân Hoài (2011), “Thay đổi công nghệ
sản xuất lúa gạo”, Tạp chí Nông thôn mới, (kỳ 1, số 5/2011), tr. 18 - 19; Hải
Quỳnh (2011), “Hội nông dân Việt Nam và Bộ Khoa học công nghệ phối hợp
đưa khoa học đến nhà nông”, Tạp chí Nông thôn mới, (kỳ 2 số 2/2011), tr. 20 -21;
Thanh Tùng (2005), “Tập trung xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ vì một
nền nông nghiệp bền vững”, Tạp chí Đông Nam Á, (số 12/2005), tr. 59 - 60; Vũ
Xuân Chính (2006), “Chính sách sử dụng cán bộ khoa học công nghệ, trọng dụng
nhân tài - Một vài suy nghĩ”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, (số 1/2006), tr.
121 - 128; Trần Văn Chử (2006), “Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển thị
trường khoa học - công nghệ”, Tạp chí Lý luận chính trị, (số 6/2006), tr. 43 - 45.
Tuy có sự khác nhau về góc độ tiếp cận, nội dung và phạm vi đề cập
nhưng các bài viết trên các tạp chí đều hướng tới giải quyết các vấn đề sau:
Một là, đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn để chứng minh cho tính tất yếu
phải đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.
Hai là, đưa ra những khuyến nghị liên quan chính sách và tổ chức quản lý
của nhà nước đối với hoạt động khoa học - công nghệ; đào tạo, sử dụng và đãi
ngộ đối với đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, nông
thôn.
Ba là, hiện nay, cần phải đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động nghiên cứu,
chuyển giao khoa học - công nghệ vào sản xuất và xây dựng nông thôn mới, coi
khoa học - công nghệ là động lực chủ yếu để phát triển nền nông nghiệp bền
cả nước. Thực trạng, phương hướng và các giải pháp chủ yếu để phát triển thị
trường khoa học - công nghệ ở Hà Nội trong thời gian tới.
8
Nguyễn Đình Chính, Trần Đình Đằng, Nguyễn Đình Long (2005), “Ứng
dụng khoa học công nghệ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Huyện
Sóc Sơn”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
Tác giả đã trình bày lý luận về ứng dụng và tình hình ứng dụng tiến bộ
khoa học - công nghệ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Sóc
Sơn - Hà Nội trong những năm gần đây. Đưa ra những định hướng, giải pháp
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Sóc Sơn.
Nghiêm Xuân Bạt, Nguyễn Minh Phong (2002), “Giải pháp tài chính thúc
đẩy phát triển kinh tế Thành phố Hà Nội”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trong cuốn sách này các tác giả đã nghiên cứu phân tích bối cảnh phát
triển kinh tế - xã hội trong thập niên đầu thế kỷ XXI, từ đó đề xuất các giải
pháp đổi mới tài chính trong một số lĩnh vực như: sử dụng ngân sách, phát
triển doanh nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển khoa học - công nghệ
nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô.
Nguyễn Thành Công (2010), Giải pháp thực hiện hiệu quả thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội giai đoạn 2010 - 2020, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tác giả trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, thực trạng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa trên địa bàn Thủ đô trong những năm qua, trên cơ sở đó đề xuất
một số quan điểm, giải pháp (trong đó có giải pháp về thể chế thị trường khoa
học - công nghệ) nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2010 - 2020.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu và các bài viết trên đã đề cập đến nhiều
vấn đề khác nhau của phát triển khoa học - công nghệ trong thời gian qua, cung
Về không gian: Tập trung nghiên cứu phát triển khoa học - công nghệ ở
khu vực nông nghiệp, nông thôn Hà Nội.
Về thời gian: Nghiên cứu sự phát triển của khoa học- công nghệ phục vụ
nông nghiệp, nông thôn Hà Nội từ năm 2001 đến năm 2012, tập trung nghiên
cứu chủ yếu trong giai đoạn từ 8/ 2008 đến năm 2012.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
10
Tác giả dựa trên các quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
những năm đổi mới về phát triển khoa học - công nghệ, Nghị quyết của Đảng bộ
Thành Phố Hà Nội về phát triển khoa học - công nghệ làm cơ sở phương pháp luận.
* Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm
phương pháp nghiên cứu chủ đạo và các phương pháp khác như: thống kê, toán
học, phân tích tổng hợp, so sánh... để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần nâng cao hiệu quả quán triệt và thực hiện đường lối
phát triển khoa học - công nghệ của Đảng, tham gia đề xuất các quan điểm cơ
bản, giải pháp chủ yếu dưới góc độ kinh tế chính trị để phát triển khoa học công nghệ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Hà
Nội thời gian tới. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập
môn kinh tế chính trị Mác - Lênin ở các nhà trường trong và ngoài Quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
triển công nghệ (Technology Developmet) là những tác động tiếp tục vào
công nghệ đang tồn tại, để làm cho công nghệ ấy tiếp tục được hoàn thiện và
nhân rộng trong sản xuất và đời sống xã hội. Quá trình nhân rộng công nghệ
được gọi là phát triển công nghệ theo chiều rộng. Đây là sự phổ biến tri thức
công nghệ trong sản xuất. Sự mở rộng tri thức đó thường đi kèm sự phát triển
dây chuyền công nghệ. Còn quá trình thứ hai là quá trình phát triển công nghệ
theo chiều sâu, đó là quá trình cải tiến công nghệ để nâng cao chất lượng sản
phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Theo Điều 3 của Luật Khoa học và công nghệ năm 2000: “Phát triển
12
công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản
phẩm mới. Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản
xuất thử nghiệm” [9, tr.9].
Như vậy, phát triển công nghệ cần được hiểu theo nghĩa rộng, đó là quá
trình các tri thức ngày càng được nâng cao, các phương tiện, máy móc thiết bị
ngày càng được hoàn thiện và các sản phẩm do công nghệ tạo ra phải thỏa mãn
tối đa nhu cầu của con người, đồng thời có khả năng cạnh tranh đem lại hiệu quả
kinh tế cao nhất trong từng thời kỳ nhất định.
Từ những khái niêm trên có thể hiểu: Phát triển khoa học - công nghệ là
tổng thể các biện pháp, cách thức nhằm gia tăng về số lượng các công trình
nghiên cứu, sáng chế, sáng tạo, ứng dụng khoa học - công nghệ; nâng cao về
chất lượng, mở rộng về lĩnh vực của khoa học - công nghệ; phát triển nguồn
nhân lực khoa học - công nghệ và các cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật phục
vụ cho nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học - công nghệ nhằm khai
thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội.
Phát triển khoa học - công nghệ ở tầm vĩ mô là các hoạt động tạo ra tiềm
lực khoa học - công nghệ có số lượng và chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định. Ở tầm vi mô, phát triển
Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ
trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm
dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp.
Hai là, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông
thôn, bảo vệ môi trường sinh thái.
Ba là, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp.
Bốn là, xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng
nâng cao đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân ở nông thôn.
Trên cơ sở kế thừa các khái niệm hoạt động khoa học; hoạt động khoa
học và công nghệ; phát triển công nghệ; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn, tác giả đưa ra quan niệm của mình về phát triển khoa học công nghệ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Hà
Nội hiện nay như sau:
Phát triển khoa học - công nghệ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa
14
nông nghiệp, nông thôn ở Hà Nội hiện nay là sự gia tăng về số lượng và nâng
cao về chất lượng các hoạt động khoa học - công nghệ phục vụ nông nghiệp,
nông thôn nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Hà Nội.
Quan niệm trên cần được hiểu ở những nội dung sau:
Một là, chủ thể của quá trình phát triển
Chủ thể của phát triển khoa học - công nghệ trong công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Hà Nội hiện nay gồm: Đảng bộ, chính quyền,
các sở, ban, ngành, các tổ chức khoa học - công nghệ và toàn thể người dân
nông thôn Hà Nội. Mỗi lực lượng trên có vai trò khác nhau trong phát triển khoa
học - công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, tổ chức đảng các
cấp của Thành phố là người lãnh đạo, chỉ đạo toàn bộ quá trình phát triển kinh tế
- xã hội nói chung, phát triển khoa học - công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông
thôn nói riêng. Chính quyền các cấp của Thành phố có vai trò quan trọng trong
nghiệp, nông thôn.
Phát triển các cơ sở, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học - công
nghệ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Phát triển các dịch vụ phục vụ khoa học - công nghệ trong nông nghiệp, nông
thôn gồm: các hoạt động phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ
về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức khoa học
công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn vào phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Những nội dung trên đây cũng đồng thời là các tiêu chí để đánh giá sự phát
triển của khoa học - công nghệ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn ở Hà Nội hiện nay. Trong đó, phát triển về số lượng và chất lượng của
các công trình nghiên cứu, sáng chế, sáng tạo, ứng dụng khoa học - công nghệ
vào nông nghiệp, nông thôn là nội dung cơ bản và quan trọng nhất. Thực hiện
nội dung này phải gắn chặt giữa phát triển khoa học - công nghệ theo chiều rộng
với phát triển khoa học - công nghệ theo chiều sâu để vừa tạo ra được quy mô
16
rộng, số lượng lớn các công trình khoa học - công nghệ phục vụ nông nghiệp,
nông thôn, lại vừa tạo ra được bước đột phá, đi tắt đón đầu với những công nghệ
tiên tiến hiện đại, phù hợp với xu thế của các nước có nền nông nghiệp phát
triển; rút ngắn khoảng cách lạc hậu về công nghệ làm cơ sở để nông nghiệp,
nông thôn của Hà Nội hội nhập quốc tế thành công.
Phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ trong nông nghiệp,
nông thôn là then chốt, chìa khóa để khắc phục những hạn chế về số
lượng và chất lượng của các công trình khoa học - công nghệ phục vụ
nông nghiệp, nông thôn của Thành phố. Phát triển các cơ sở, trang thiết bị
phục vụ công tác nghiên cứu và các dịch vụ khoa học - công nghệ được
xác định là cơ sở quan trọng để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học,
chuyển giao công nghệ vào nông nghiệp, nông thôn của Thành phố diễn ra
nông nghiệp và phát triển nông thôn của Thành phố. Khắc phục được tình trạng
“lệch pha” giữa nghiên cứu và ứng dụng, gây lãng phí tiền bạc của Thành phố và
công sức của các nhà khoa học.
Kinh tế thị trường luôn tuân theo những quy luật vốn có của nó như:
quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu...Những quy luật này
chi phối rất lớn đến sự phát triển của khoa học - công nghệ phục vụ nông
nghiệp, nông thôn ở Hà Nội. Trong kinh tế thị trường, nghiên cứu khoa học,
cũng là một nghề, các phát minh, công nghệ cũng là hàng hóa. Chính điều này
cùng với việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức
khoa học - công nghệ đã làm cho các tổ chức này của Thành phố phải tự nâng
cao năng lực nghiên cứu để tạo ra những “sản phẩm công nghệ” có chất lượng
tốt, giá thành phù hợp đáp ứng nhu cầu đa dạng của khu vực nông nghiệp,
nông thôn. Tuy nhiên, những tác động trái chiều của cơ chế thị trường có thể
làm chệch hướng hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ phục
vụ nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy, Thành phố phải làm tốt công tác định
hướng trong phát triển khoa học - công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn;
18
giữ vững và nâng cao năng lực khoa học - công nghệ nội sinh để hạn chế sự
phụ thuộc vào công nghệ của nước ngoài.
Bốn là, mục đích của quá trình phát triển
Phát triển khoa học - công nghệ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn ở Hà Nội hiện nay vừa đáp ứng yêu cầu cấp thiết
trước mắt, vừa đáp ứng yêu cầu cơ bản, lâu dài. Trước hết, nhằm nhanh
chóng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả hàng hóa nông sản, tạo ra
những sản phẩm an toàn, phục vụ nhu cầu về lương thực, thực phẩm tăng
nhanh của người dân Hà Nội và các vùng lân cận; làm cho hàng hóa nông
sản của Hà Nội có sức canh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế,
tiến tới phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa, bền vững. Về lâu dài,
hạ giá thành, tăng khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa.
Hai là, phát triển khoa học - công nghệ là cơ sở để chuyển đổi cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn ở Hà Nội theo hướng sản xuất hàng hóa lớn gắn với
phát triển nền nông nghiệp bền vững.
Phát triển khoa học - công nghệ có tác dụng giải phóng sức lao động trong
nông nghiệp của Thành phố, gián tiếp tác động đến vấn đề việc làm ở nông thôn
bằng cách chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang làm việc ở các lĩnh
vực khác làm cho tỷ trọng và lao động trong nông nghiệp của Hà Nội ngày một
giảm, tỷ trọng và lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
tăng lên, đáp ứng mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng
tiến bộ, hiệu quả. Với nông nghiệp, thông qua việc chuyển giao, ứng dụng các
tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất làm thay đổi căn bản cơ cấu nông nghiệp và phi
nông nghiệp, tạo ra sức hút lao động nhất là lao động đã qua đào tạo để người
dân có nhiều cơ hội hơn trong tìm kiếm việc làm với mức thu nhập cao. Đồng
thời, phát triển khoa học - công nghệ còn thúc đẩy tính chất xã hội hóa trong
ngành nông nghiệp của Hà Nội diễn ra nhanh hơn. Nó trực tiếp phá vỡ tính chất
đặc trưng của kiểu sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, phụ thuộc nhiều vào
các điều kiện tự nhiên nhất là ở khu vực mới mở rộng địa giới.
20
Ba là, phát triển khoa học - công nghệ làm cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội ở khu vực nông thôn Hà Nội ngày càng đồng bộ và hiện đại, bảo đảm thắng
lợi chương trình xây dựng nông thôn mới của Thành phố.
Hà Nội là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về xây dựng
nông thôn mới. Chương trình “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn
mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân Thành phố Hà Nội giai đoạn
2011- 2015” đã được Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố
Hà Nội khóa XV thông qua ngày 12/7/2011. Theo đó, phấn đấu đến năm
2015 có trên 40% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và đến năm 2030 có 100%
nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ đều được nâng lên đáp ứng yêu cầu
đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Hà
Nội hiện nay.
Năm là, phát triển khoa học - công nghệ là cơ sở để giải quyết tốt vấn đề ô
nhiễm môi trường ở nông thôn Hà Nội.
Ô nhiễm môi trường ở nông thôn Hà Nội đang là một bài toán khó nhưng
lại cần có ngay lời giải. Hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn Hà
Nội diễn ra phổ biến ở tất cả các địa phương. Đặc biệt, ở các làng nghề thuộc Hà
Tây cũ ( khoảng 280 làng trong tổng số 1.350 làng nghề của toàn Thành phố), ô
nhiễm môi trường đã đến mức báo động. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình
trạng ô nhiễm môi trường, trong đó có nguyên nhân cơ bản từ việc sử dụng các
dây chuyền sản xuất với công nghệ lạc hậu và sử dụng quá nhiều hóa chất trong
sản xuất, chế biến, bảo quản các sản phẩm của nông nghiệp. Để khắc phục tình
trạng đó cần có một hệ giải pháp mang tính đồng bộ, trong đó phải ưu tiên phát
triển khoa học - công nghệ. Việc ứng dụng những thành tựu tiên tiến của khoa
học - công nghệ vào sản xuất sẽ làm giảm đáng kể các chất thải độc hại ra môi
trường, phát triển nền nông nghiệp sinh thái, bền vững.
Như vậy, thông qua phát triển khoa học - công nghệ phục vụ nông nghiệp,
nông thôn làm cho năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên, việc làm tăng,
thu nhập tăng, nông dân càng gắn bó với ruộng đồng; cơ cấu kinh tế nông
22
nghiệp, nông thôn ngày càng phù hợp, môi trường được bảo vệ, diện mạo nông
thôn và chất lượng cuộc của người nông dân được nâng lên. Đây là cơ sở để đẩy
lùi các hiện tượng tiêu cực xã hội, xây dựng nông thôn Hà Nội ngày một dân
chủ, công bằng và văn minh.
1.1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển khoa học - công
nghệ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Hà
Nội hiện nay
Năm nước trồng cây công nghệ sinh học lớn nhất Châu Á , Mỹ Latinh và
Châu Phi gồm: Trung Quốc, Brazin, Argentina, Ấn Độ và Nam Phi với dân số
là 2,7 tỷ người (chiếm 41% tổng dân số thế giới), trồng 57 triệu ha cây công
nghệ sinh học năm 2009, tương đương với 43% tổng diện tích canh tác cây
công nghệ sinh học của toàn thế giới.
Xu hướng trên đã đặt ra yêu cầu hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa
học - công nghệ vào phát triển nông nghiệp, nông thôn của Hà Nội phải biết
khai thác, tận dụng và nắm lấy cơ hội đó để thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp,
nông thôn theo xu hướng của các nước có nền nông nghiệp phát triển và là một
trong những điều kiện bảo đảm cho hội nhập kinh tế quốc tế thành công.
* Nhân tố chính trị - địa lý
Nhân tố chính trị - địa lý có vai trò hết sức quan trọng cho phát triển kinh
tế, văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ nói chung, khoa học công nghệ trong
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng ở mỗi quốc gia
và ở mỗi địa phương trong một quốc gia.
Hà Nội là Thủ đô của Việt Nam, là địa bàn trọng điểm được tập trung
đầu tư các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội trong đó có nguồn lực khoa
học - công nghệ. Nghị quyết 15-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng,
nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ 2001 - 2010, đã khẳng định:
Thủ đô Hà Nội là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc
gia, trung tâm về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế,
xây dựng phát triển Thủ đô xã hội chủ nghĩa giàu đẹp, văn minh, thanh lịch,
hiện đại, tiêu biểu cho cả nước, có kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ,
24
hiện đại, môi trường bền vững, phát triển kinh tế Thủ đô với tốc độ tăng
trưởng cao, bền vững, cơ cấu hợp lý. Thực hiện chủ trương đó, trong những
năm qua, Hà Nội đã vươn lên là trung tâm nghiên cứu và chuyển giao khoa
học - công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội nói chung, nông nghiệp, nông
đó, đã đặt ra yêu cầu cao cho công tác nghiên cứu khoa học, phát triển công
nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn của Hà Nội phải được triển khai đồng
bộ ở cả bề rộng và chiều sâu sao cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện thổ
nhưỡng của của từng vùng.
Điều kiện chính trị - địa lý của Hà Nội không chỉ có thuận lợi cho phát triển
khoa học - công nghệ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn, mà còn có cả những khó khăn như: địa giới rộng, địa hình đa dạng; sự phát
triển kinh tế, văn hóa - xã hội không đồng đều giữa các vùng (đô thị, nông thôn
đồng bằng, nông thôn miền núi...). Những yếu tố đó đã ảnh hưởng đến quy mô,
trình độ và tốc độ của các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công
nghệ vào nông nghiệp, nông thôn.
* Kết cấu hạ tầng nông thôn Hà nội
Kết cấu hạ tầng nông thôn Hà Nội giữ vai trò là “ ống hút” đối với các hoạt
động chuyển giao công nghệ vào nông nghiệp, nông thôn của Thành phố. Kết
cấu hạ tầng nông thôn càng đồng bộ và hiện đại bao nhiêu thì càng tạo thuận lợi
cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ vào nông
nghiệp, nông thôn đạt hiệu quả bấy nhiêu.
Theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011
trên địa bàn Hà Nội cho thấy, kết cấu hạ tầng nông thôn đã có những thay
đổi tích cực (phụ lục 3). Hà Nội hiện có 401 xã, bao gồm 387 xã đồng bằng
và 13 xã miền núi thuộc 3 huyện Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai. 100% số xã
có điện lưới quốc gia, trạm y tế, trường mầm non, tiểu học và hệ thống
khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. Giao thông nông thôn đã và đang
phát triển đảm bảo điều kiện đi lại cho người dân trong sinh hoạt cũng như
sản xuất. Công tác quy hoạch phát triển nông thôn mới và kế hoạch dồn
điển đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp đang được Thành phố đẩy nhanh
tiến độ. Đây là thuận lợi cơ bản để phát triển nông nghiệp quy mô lớn dựa
26