ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
=======o0o=======
LÊ VĂN CƢỜNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ PHÂN BÓN ĐẾN
SINH TRƢỞNG CÂY BƢƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN(DENDROCALAMUS
GIGANTEUS) TẠI ĐOAN HÙNG – PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
:
Chính quy
Chuyên ngành:
Lâm nghiệp
Khoa
Khoá học
Lâm nghiệp
2012 - 2016
:
:
Khoá học
:
2012 - 2016
Giảng viên hƣớng dẫn:
ThS. Đặng Thị Thu Hà
Thái Nguyên – 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số
liệu, kết quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình hay khóa luận nào trước đây.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 31 tháng 05 năm 2016
Xác nhận của giáo viên hƣớng dẫn
Sinh viên
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
Trước hội đồng khoa học
ThS. Đặng Thị Thu Hà
Lê Văn Cƣờng
của bạn bè và người thân để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 31 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Lê Văn Cƣờng
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Mô tả hiện trạng khu vực thí nghiệm trồng rừng ........................... 30
Bảng 4.2. Một số tính chất hóa tính của và cơ giới đất tại khu vực thí
nghiệm trồng rừng ............................................................................. 31
Bảng 4.3. Tỷ lệ sống và chất lượng của cây Bương lông Điện Biên tại
các công thức thí nghiệm mật độ trồng sau 21 tháng ....................... 33
Bảng 4.4. Sinh trưởng của cây Bương lông Điện Biên tại các công thức
thí nghiệm mật độ trồng sau 21 tháng............................................... 35
Bảng 4.5. Sinh trưởng của Bương lông Điện Biên ở các công thức bón
phân và nguồn giống trồng ............................................................... 38
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 4.1. Tỷ lệ sống và chất lượng của cây trồng ở các công thức mật độ .... 34
Hình 4.2. Sinh trưởng của cây Bương lông Điện Biên ở các công thức
mật độ ................................................................................................ 36
Hình 4.3. Bương lông Điện Biên sau 2 năm trồng tại Đoan Hùng - Phú
Nxb:
Nhà xuất bản
OTC:
Ô tiêu chuẩn
PRA:
Phương pháp điều tra nhanh
QL:
Quốc lộ
SDo:
Hệ số biến động ở đường kính cây
SHvn:
Hệ số biến động ở chiều cao cây
THPT:
Trung học phổ thông
THCS: Trung học cơ sở
CS:
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ..................................................................................... 20
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 20
vii
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 20
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 20
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 20
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 20
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ................................... 20
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm.............................................................. 20
3.4.2. Phương pháp thu thập thông tin. ........................................................... 24
3.5. Phương pháp xử lý số liệu........................................................................ 25
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 27
4.1. Đặc điểm hình thái cây Bương lông Điện Biên ....................................... 27
4.1.1. Hình thái rễ ............................................................................................ 27
4.1.2. Hình thái thân ngầm .............................................................................. 27
4.1.3. Hình thái thân khí sinh ......................................................................... 27
4.1.4. Hình thái mo .......................................................................................... 28
4.1.5. Cấp kính cành chét ................................................................................ 28
4.1.6. Hình thái lá ............................................................................................ 28
4.1.7. Đặc điểm hoa, quả cây Bương lông Điện Biên..................................... 28
4.2. Điều tra hiện trạng khu vực nghiên cứu thí nghiệm ................................ 29
4.2.1. Kết quả điều tra hiện trạng khu vực thí nghiệm .................................... 29
4.2.2. Một số tính chất hóa tính của cơ giới đất …………………………….31
4.3. Ảnh hưởng mật độ trồng rừng đến sinh trưởng của Bương lông
Điện Biên ................................................................................................ 33
4.3.1. Tỷ lệ sống và chất lượng của cây Bương lông Điện Biên tại
còn gọi là Gramineae). Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng
khắp trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á. Tre trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh,
sớm cho khai thác, dễ chế biến nên được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác
nhau. Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân
dân, đặc biệt là nông dân nông thôn và miền núi [4].
Tre - trúc là lâm sản ngoài gỗ có rất nhiều công dụng, có thể nói từ
thân, gốc, rễ, lá, quả đều được sử dụng triệt để, bộ phận được sử dụng rộng rãi
đó là thân khí sinh. Do thân khí sinh của tre - trúc có nhiều đặc tính tốt nên sử
dụng trong xây dựng nhà cửa, dùng làm đồ gia dụng...., Hiện nay công nghiệp
phát triển, tre - trúc là nguồn nguyên liệu qúy giá cho sản xuất giấy cao cấp,
ván sàn, ván ép, đồ mộc cao cấp, chiếu trúc, than hoạt tính, thủ công mỹ
nghệ…, thân tre – trúc được Cacbon hoá có nhiều ứng dụng như làm chất khử
mùi, điều độ ẩm, chặn súng hồng ngoại, ngăn cản điện từ. Nhiệt lượng 1 kg
than hoạt tính có thể đạt 7.703 kcal/kg cao hơn so với than hoạt tính gỗ, thân
có khả năng lọc nước tốt...v.v. Lá một số loài tre – trúc có thể xuất khẩu, lá
dùng để chế biến thuốc kháng sinh chống một số bệnh như cảm, cúm… Ở
Việt Nam có 10 loài tre - trúc cho măng ăn ngon (Mai ống, Luồng, Lồ ô, Là
ngà, Trúc sào, Vầu đắng, Tre gầy…). Tuy nhiên, các loài cho măng ngon
năng suất cao, chất lượng tốt chưa được phát triển, việc khai thác măng chỉ
dừng lại ở mức độ tận dụng [4].
Kỹ thuật gây trồng của tre, trúc đã và đang được quan tâm nghiên cứu
và phát triển. Nhiều loài tre, trúc được nhân dân gây trồng để phát triển kinh
tế, đồng thời nâng cao độ che phủ, giảm xói mòn, chống sụt lở vùng đầu
nguồn, ven sông suối, cung cấp nguyên liệu cho chế biến, thúc đẩy phát triển
thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
2
Loài Bương lông Điện Biên, còn có các tên gọi khác như Mạy púa mơi,
3
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Xác định được một số biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Bương lông
Điện Biên tại Đoan Hùng – Phú Thọ.
Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật phù hợp cho gây trồng cây
Bương lông Điện Biên tại Đoan Hùng – Phú Thọ.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
1.3.1.1. Ý nghĩa trong học tập
- Quá trình thực hiện đề tài sẽ tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên
cứu khoa học, giải quyết vấn đề khoa học ngoài thực tiễn.
- Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên
cứu đề tài cụ thể.
- Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại
địa bàn nghiên cứu.
1.3.1.2. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
Góp phần bổ sung cơ sở khoa học về kỹ thuật gây trồng tre có năng
suất chất lượng theo hướng gây trồng hiệu quả, sử dụng bền vững.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Bương lông
Điện Biên tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Tre trúc bao gồm những loài thuộc phân họ Tre (Bambusoideae), họ Cỏ
(Poaceae). Trên thế giới có khoảng 500 loài tre. Riêng Việt Nam có khoảng
trên 200 loài, phân bố ở hầu hết các tỉnh trong phạm vi toàn quốc.
Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng
trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước vùng
phía nam và Đông Nam Á. Ở các nước này người dân đã biết sử dụng tre trúc
từ lâu đời để tạo ra hàng trăm sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống hàng
ngày. Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công
mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công
nghiệp chế biến ván nhân tạo. Tre trúc cũng là vật liệu trong xây dựng, kiến
trúc, giao thông vận tải,... Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở
thành đối tượng cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị. Các sản phẩm từ tre
trúc không còn bó hẹp trong biên giới của một số quốc gia mà đã có mặt
ngày càng nhiều trên thị trường quốc tế và được nhiều nước châu Âu, châu
Mỹ ưa chuộng.
Chính vì, vị trí quan trọng của nguồn tài nguyên này, tre trúc đã được
nghiên cứu từ lâu đời về nhiều mặt như: chọn giống, kỹ thuật trồng, khai thác,
sử dụng. Gần đây có nhiều nghiên cứu nhằm phát triển gây trồng một số loài
tre trúc theo mô hình rừng công nghiệp thâm canh với năng suất, chất lượng
cao, hướng theo mục đích sử dụng nhất định.
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất của các
loài tre ở Thái Lan cho rằng: sử dụng hỗn hợp phân NPK 15:15:15 có hiệu quả
rõ rệt đến năng suất của các loài Thyrsostachys siumensis, Dendrocalamus
asper, Bambusa. and D. strictus. Bón 100 kg NPK/ha sẽ đủ để tăng năng suất và
bón 200 kg NPK/ha là thích hợp (W. Suwannapinunt and B. Thaiutsa,1988) [21].
6
Sau 10 năm tập trung nghiên cứu, đã tiến hành thống kê số măng bị
nước lưu thông tốt hơn, kích thích măng ra sớm hơn, sản lượng măng và thân
khí sinh tăng cao hơn (Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc, 2001,
2008) [19].
Nhìn chung ở nước ngoài tre trúc được gây trồng với 3 mục đích kinh
doanh: chuyên măng, chuyên thân khí sinh hoặc kết hợp cả 2. Các loài tre trúc
được kinh doanh chỉ cho năng suất, chất lượng cao khi có tác động bởi một số
biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp. Các biện pháp thâm canh tăng năng suất
chất lượng được nghiên cứu và thực nghiệm chủ yếu là: bón phân, điều chỉnh
mật độ, điều chỉnh số lượng thân khí sinh để lại cho mỗi bụi, mỗi thế hệ, khai
thác măng, khai thác thân khí sinh, phòng trừ sâu bệnh cho từng loài cụ thể.
Ngoài ra, các điều kiện khí hậu như lượng mưa, nhiệt độ, điều kiện thổ
nhưỡng cũng là những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sinh
trưởng, phát triển của rừng tre trúc và được chọn làm tiêu chí khi tuyển chọn
loài và biện pháp thâm canh. Kết quả nghiên cứu của nước ngoài là nguồn tài
liệu tham khảo rất có giá trị, đặc biệt đối với những loài có quan hệ thân thuộc
với những loài tre của Việt Nam được chọn làm đối tượng nghiên cứu của đề tài.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, tre trúc là nguồn nguyên vật liệu quan trọng đứng thứ hai
sau gỗ, và có vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá xã hội của người dân,...
Tre trúc là nguyên liệu tạo ra hàng trăm loại mặt hàng tiêu dùng trong nước
hoặc xuất khẩu có giá trị. Chính vì vậy, ngay từ những năm đầu của thế kỷ
XX, tài nguyên tre trúc ở nước ta đã được quan tâm nghiên cứu.
Nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam đã được bắt đầu từ khá lâu. Có thể
nói công trình đầu tiên nghiên cứu về tre trúc Việt Nam thuộc về một người
Pháp trong ấn phẩm nghiên cứu về thực vật chí Đông Dương (Le Comte,
1923). những nghiên cứu về kỹ thuật trồng và khai thác tre trúc ở Việt Nam
(Phạm Quang Độ, 1963) [6].
8
9
nghiên cứu về nhân giống, kỹ thuật trồng và khai thác các loài tre trúc. Ví dụ
như Phạm Bá Ninh (1974) đã nghiên cứu về nhân giống Luồng bằng phương
pháp ươm cành trong bầu dinh dưỡng; Trịnh Đức Trình (1974) nghiên cứu về
thời vụ ươm Luồng trong vườn ươm ở Thanh Hoá; Trần Nguyên Giảng và
cộng sự (1977) về nghiên cứu kỹ thuật trồng và kinh doanh rừng luồng đáp
ứng với nhu cầu trồng ở quy mô lớn; Hoàng Vĩnh Tường (1977) về nghiên
cứu tác dụng của một số chất kích thích sinh trưởng đến việc nhân giống
Luồng bằng cành. Từ trước đến nay, người ta gây trồng Luồng bằng giống vô
tính là chủ yếu (gốc, thân, cành, chét). Phương pháp này cho hệ số nhân giống
rất thấp. Nghiên cứu này do vậy cung cấp thông tin về loại thuốc và cách
dùng để tăng tỷ lệ thành công trong quá trình nhân giống vô tính (Phạm
Quang Độ, 1963) [6].
Kỹ thuật trồng rừng thâm canh và bền vững không chỉ được chú trọng
cho các loài cây gỗ mà còn được nghiên cứu, áp dụng cho rừng tre trúc. Ví dụ
như công trình kỹ thuật trồng một số loài LSNG, khoanh nuôi phục hồi rừng
và canh tác đất bền vững tại Cao Bằng, Bắc Kạn. Đặc biệt, Viện Khoa học
lâm nghiệp Việt Nam đang triển khai đề tài nghiên cứu: nghiên cứu chọn
giống và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh tre trúc để lấy măng và
nguyên liệu cho xây dựng, chế biến phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Và đề tài
“Trồng thử nghiệm thâm canh các loài tre nhập nội lấy măng nhằm đánh giá
và tuyển chọn các loài tre nhập nội lấy măng phù hợp cho Cầu Hai- Phú Thọ
và Ngọc Lặc – Thanh Hóa”, đánh giá các biện pháp thâm canh, khảo nghiệm
về phương pháp khai thác măng, khảo nghiệm một số phương pháp sơ chế
bảo quản măng và hướng dẫn kỹ thuật trồng, khai thác, sơ chế và bảo quản
măng tre Điềm trúc (Nguyễn Xuân Quát và cs, 2005) [15].
Giới thiệu sơ lược về đặc điểm hình thái, sinh thái, kỹ thuật chọn giống,
gây trồng, chăm sóc và bảo vệ cho 12 loài tre trúc ở Miền Bắc Việt Nam
phương thức hỗn giao, thích hợp nhất là với cây họ đậu như Keo để tránh cho
đất bị suy thoái (Nguyễn Ngọc Bình, 2001) [2].
11
Đã tuyển chọn 3 loài tre nhập nội trồng để lấy măng: Điền trúc
(Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc (Bambusa oldhamii) và Tạp giao với
13,5 ha mô hình thực nghiệm tại Phú Thọ và Thanh Hoá. Đề tài đã đưa ra
được một số biện pháp thâm canh cho mô hình trồng thuần loài: mật độ trồng,
bón phân, điều chỉnh cây mẹ, đồng thời đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật
trồng thâm canh, kỹ thuật khai thác măng và một số biện pháp sơ chế bảo
quản măng. Kết quả đề tài cho thấy: Điền trúc có năng suất măng cao nhất,
Lục trúc có năng suất thấp nhất, nên tập trung phát triển Điền trúc vì năng
suất và chất lượng măng cao (Đỗ Văn Bản và cs, 2005) [3].
Nhìn chung, cho đến nay các công trình nghiên cứu ở trong nước về tre
trúc tương đối phong phú. Tuy vây, các công trình nghiên cứu về tre bản địa
lấy măng, làm nguyên liệu chế biến lại rất ít. Mặt khác, nước ta là nước có
thành phần loài tre đa dạng, nhưng chỉ rất ít loài tre trúc được nghiên cứu gây
trồng để làm nguyên liệu, chủ yếu là Trúc sào (Phyllostachys edulis), Luồng
(Dendrocalamus barbatus), Giang (Ampelocalamus patellaris), Diễn trứng
(Dendrocalamus sp. nov.), Vầu đắng (Indosasa angustata), Nứa lá nhỏ
(Neohouzeana sp.), Tre gai (Bambusa blumeana). Hơn nữa, các công trình
nghiên cứu trên chỉ đề cập một mặt kỹ thuật nào đó, chưa toàn diện. Với
những hiểu biết hiện tại khó có thể mở rộng trồng rừng sản xuất tre trên qui
mô lớn cung cấp nguyên liệu. Trong khi đó, một số loài tre bản địa cho măng
ăn rất ngon, năng suất cao, thân khí sinh to vách dầy có thể sử dụng làm
nguyên liệu trong xây dựng, ván nhân tạo,… hiện chưa được đầu tư nghiên
cứu trong đó có cây Bương lông Điện Biên (Trần Ngọc Hải, 2005) [7].
Cho đến nay nghiên cứu về cây Bương lông Điện Biên ở trong nước rất
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 84 %,
mùa mưa độ ẩm cao có thể đạt tới 88 %, độ ẩm thấp nhất là 24 %.
b) Thủy văn
- Chế độ thủy văn của huyện chịu ảnh hưởng chủ yếu của hệ thống
sông Chảy và sông Lô.
13
2.3.1.4. Các nguồn tài nguyên
a) Tài nguyên đất
Đoan Hùng có những nhóm đất chính sau:
- Nhóm đất Feralít đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét: Đất có
thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét, tầng đất dày, thấm nước tốt, lượng
mùn trung bình, lân dễ tiêu nghèo. Độ pH của đất thay đổi từ trung tính đến
chua ở các mức độ khác nhau.
- Nhóm đất Feralít đỏ vàng phát triển trên nền phù sa cổ: Đất có hàm
lượng mùn và đạm tổng số nghèo, lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo,
kali tổng số và trao đổi giàu và trung bình.
- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: Đất này được hình thành
do sản phẩm dốc tụ. Thành phần cơ giới của đất chủ yếu là thịt trung bình đến
thịt nặng. Hàm lượng mùn và đạm tổng số khá, lân tổng số và lân dễ tiêu
nghèo, đất có độ pH chua và rất chua.
- Nhóm đất Feralít phát triển trên tầng đá mẹ sa thạch, phiến thạch, đất
nghèo dinh dưỡng, có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình. Độ PH của
đất chua, hàm lượng mùn và đạm tổng số nghèo, lân tổng số và lân dễ tiêu
trung bình, kali nghèo.
- Nhóm đất phù sa sông suối, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến
thịt nặng. Đất có phản ứng trung tính, hàm lượng mùn và đạm tổng số khá,
lân tổng số giàu và dễ tiêu, ka li tổng số và trao đổi nghèo.
đức tính cần cù, chăm chỉ, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để vững bước đi lên.
2.3.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
2.3.2.1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Giá trị sản xuất toàn huyện năm 2010 đạt 1.002,2 tỷ đồng (giá cố định
1994). Giá trị sản xuất bình quân hàng năm giai đoạn 2001 – 2010 đạt 10,82%,
trong đó: năm 2010 đạt 15,8% theo giá cố định năm 1994 (toàn tỉnh đạt 12,05%).
Cơ cấu kinh tế năm 2010: ngành nông – lâm – thủy sản đạt 42,4%; ngành công
nghiệp – xây dựng đạt 16,8%; ngành dịch vụ đạt 40,6%. Thu nhập bình quân
đầu người năm 2010 đạt 9,9 triệu đồng/người/năm (giá hiện hành).
15
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng có nhiều tiến bộ. Trong đó:
+ Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 68,85 % năm 2000 xuống 52,6
% năm 2005 và 42,4 % năm 2010, đóng góp 11,5% sản lượng lúa toàn tỉnh.
Lương thực bình quân đầu người đạt 431,4 kg/người/năm.
+ Tỷ trọng ngành Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng tăng
từ 11,56% năm 2000 lên 13,3% năm 2005 và đạt 16,8% năm 2010.
+ Tỷ trọng ngành thương mại – dịch vụ tăng từ 19,59 % năm 2000 lên
28,7% năm 2005 và đạt 40,6% năm 2010.
2.3.2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
a) Khu vực kinh tế nông nghiệp
Năm 2010 giá trị sản xuất toàn ngành đạt 299,1 tỷ đồng (giá cố định
năm 1994), tăng 82,2 tỷ đồng so với năm 2000; tốc độ tăng trưởng bình quân
thời kỳ 2001 - 2010 đạt 6,08 %/năm.
+ Ngành sản xuất nông nghiệp
Năm 2010 giá trị sản xuất nông nghiệp đạt khoảng 212,7 tỷ đồng
(giá cố định năm 1994), đạt mức tăng trưởng 6,85%. Cơ cấu trong nội bộ
ngành nông nghiệp cũng có bước chuyển biến tích cực theo hướng sản xuất