VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VƯƠNG TOÀN THẮNG
QUYỀN THAM GIA CỦA CÁ NHÂN TRONG XÂY DỰNG
CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT, CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT CỦA NƯỚC TA HIỆN HAY
Chuyên ngành: Quyền con người
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
VƯỜNG TOÀN THẮNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ QUYỀN THAM GIA CỦA CÁ NHÂN
TRONG XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT, CÁC VĂN
BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT .................................................................. 9
Hội đồng nhân dân
ICCPR:
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966
QPPL:
Quy phạm pháp luật
UBND:
Ủy ban nhân dân
UDHR:
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong một xã hội dân chủ, người dân là chủ thể của quyền lực nhà
nước, có thể thực hiện quyền của mình thông qua các con đường trực tiếp
hoặc gián tiếp. Quyền tham gia xây dựng chính sách pháp luật (CSPL), văn
bản quy phạm pháp luật (QPPL) là biểu hiện cụ thể của nhóm quyền được
quyền con người được bảo vệ và phát triển, con người sẽ ý thức và thực hiện
quyền tham gia vào công việc của nhà nước, thực hiện quyền dân chủ. Tóm
lại, trong mối quan hệ này luôn có sự tương tác hai chiều, bảo đảm thực hiện
nhân quyền thì có thể thực hiện phát huy dân chủ và ngược lại; thậm chí, nếu
tiếp cận dân chủ như một quyền, khó có thể tách biệt được giữa quyền con
người với dân chủ [47, tr. 226, 227].
Ở Việt Nam, nhà nước luôn tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý
nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý
kiến, kiến nghị của công dân. Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của
công dân thể hiện tính trực tiếp của quyền lực nhân dân trong đời sống quản
lý. Đó là quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và của địa
phương, quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước được ghi trong các văn kiện
quan trọng của Đảng, Hiến pháp, các đạo luật ..., qua đó đã xác lập nguyên
tắc, quy định cụ thể các điều kiện, hình thức, phương thức để nhân dân tham
gia vào hoạt động quản lý của Nhà nước [64].
Tuy nhiên, công tác này vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập trong
việc bảo đảm đi vào thực chất việc thực thi quyền con người trong tham gia
xây dựng CSPL, văn bản QPPL, cần được khắc phục trong thời gian tới. Từ
những đòi hỏi thực tiễn, trên cơ sở mong muốn có những đóng góp nhất định cho
việc bảo đảm thực thi hiệu quả hơn quyền được tham gia vào đời sống chính trị
của người dân, tác giả đã chọn đề tài “Quyền tham gia của cá nhân trong xây
2
dựng chính sách pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật” làm Đề tài Luận
văn Thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy về
Nhân quyền, số 3/2015; “Sự tham gia của các tổ chức xã hội trong quy trình
xây dựng pháp luật”, Đinh Ngọc Quý, nclp.org.vn, tháng 01/2015; “Đảm bảo
sự tham gia của doanh nghiệp trong xây dựng và thực thi pháp luật”, Nguyễn
Minh Đức, Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI; “Quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân theo Hiến pháp
mới”, PGS.TS. Đinh Xuân Thảo, Báo Điện tử Chính phủ; “Tăng cường sự
tham gia của nhân dân trong hoạt động quản lý nhà nước”, Hà Quang Ngọc Hà Quang Trường, Tạp chí Cộng sản điện tử, tháng 8/2007.v.v...
2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Có rất nhiều ấn phẩm sách, tạp chí trực tiếp và gián tiếp nghiên cứu,
viết về quyền tham gia chính trị (Political Participation) của người dân của
các học giả nước ngoài, song đánh giá tổng quan về vấn đề này cho thấy: một
số tác giả chủ yếu tiếp cận quyền tham gia chính trị với tư cách là quyền con
người. Trước tiên phải kể đến cuốn sách “Democracy in a Global World:
Human Rights and Political Participation in the 21 st Century” của tác giả
Deen K. Chatterjee viết năm 2008. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đề
cập đến quyền tham gia chính trị trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế dân
chủ hóa đang lan rộng trên toàn thế giới. Tác giả cho rằng, quyền tham gia
chính trị đóng vai trò quan trọng và góp phần vào việc bảo đảm và nâng cao
quyền con người. Các lý thuyết về mô hình dân chủ hiện đại đưa ra các cơ chế
4
đảm bảo tính minh bạch, công khai và quyền tham gia chính trị, qua đó thúc
đẩy sự thật, trách nhiệm của cơ quan công quyền và bảo vệ quyền con người.
Trong công trình nghiên cứu, tác giả cũng phân tích đến quyền tham gia chính
trị của mỗi quốc gia là khác nhau. Điều này được giải thích bởi sự đa dạng về
truyền thống pháp luật, văn hóa, xã hội. Công trình thứ hai phải kể đến là
cuốn Political Participation and Voting Rights của tác giả Tom Landford.
Đây là cuốn sách mới xuất bản đầu năm 2016. Tác giả nghiên cứu quyền
tham gia chính trị trong mối quan hệ với quyền bỏ phiếu và cho rằng quyền
and
Transnational
Political
Participation: A Normative Evaluation of External Voting, The Human right
to Political Participation, Political participation as a human right, The right
to political participation and the information society, …
Nhìn chung các công trình khoa học trên đây mới chủ yếu nghiên cứu ở
những góc độ nhất định về các quyền con người nói chung và quyền con
người trong lĩnh vực dân sự, chính trị nói riêng; luận giải những vấn đề về lý
luận, học thuật, cơ chế xã hội, cơ chế pháp lý về sự hình thành và phát triển
quyền con người ở cấp độ quy mô quốc gia, khu vực, toàn cầu, và những vấn
đề từ thực tiễn có liên quan. Tuy nhiên, ở gốc độ nghiên cứu chuyên sâu về
quyền dân sự và chính trị - quyền được tham gia vào đời sống chính trị của
người dân, trong đó, cụ thể là Quyền tham gia của cá nhân trong xây dựng
CSPL, văn bản QPPL, thì chưa có tác phẩm nào đi sâu nghiên cứu một cách
toàn diện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Hướng tới bảo đảm thực hiện thực chất hơn quyền được tham gia vào
đời sống chính trị, trong đó có quyền tham gia xây dựng CSPL, văn bản
QPPL ở Việt Nam hiện nay; tăng cường phát huy dân chủ, đề cao vai trò để
người dân thực sự là chủ thể của quyền lực nhà nước trong công cuộc xây
dựng, hoàn thiên nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do
dân dân và vì nhân dân.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ đặt ra là cần: (i) Nghiên cứu
5.2. Phương pháp nghiên cứu
7
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác - Lê Nin. Đồng thời cũng vận dụng kết hợp một số phương pháp cơ bản
như: phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, logic, quy nạp, diễn dịch, xã hội
học, định tính, định lượng, nghiên cứu tiếp cận liên ngành, đa ngành.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn là công trình nghiên cứu tương đối toàn diện, có hệ thống về
lý luận quyền tham gia của cá nhân trong xây dựng CSPL, các văn bản QPPL
và bảo đảm quyền tham gia của cá nhân trong xây dựng CSPL, văn bản QPPL
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, qua đó rút ra tồn tại, hạn chế và
nguyên nhân; đồng thời đề ra những giải pháp để tiếp tục nâng cao hiệu quả
bảo đảm thực hiện quyền này trong thời gian tới.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, là nguồn cung cấp thông
tin cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quá trình thực thi quyền này
cũng như xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền tham gia xây dựng
CSPL, văn bản quy phạm QPPL ở nước ta hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết cấu
theo ba chương như sau:
Chương 1: Lý luận về quyền tham gia xây dựng chính sách pháp luật,
và các văn bản quy phạm pháp luật.
Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền tham gia xây dựng chính sách
pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam.
Chương 3: Tăng cường bảo đảm quyền tham gia xây dựng chính sách
hình thức.
9
Các cấp độ tham gia: Sự tham gia ở đây bao gồm các nội dung khác
nhau và còn phụ thuộc vào từng hoạt động. Chúng ta có thể xem xét dưới góc
độ thang bậc của sự tham gia mà ở đó có sự sắp xếp từ mức độ tham vấn hạn
chế cho đến tham gia một cách tích cực như: Nghe thông tin, thông tin được
đưa ra bởi một người hoặc một nhóm người cụ thể nhưng không đủ để đại
diện cho toàn bộ cộng đồng, tuy nhiên các hoạt động vẫn được tiến hành mà
đa số những chủ thể có quyền liên quan đều không được biết đến nội dung
của quá trình thảo luận và ra quyết định. Tư vấn, tức là việc cán bộ, công
chức thực hiện tư vấn cho người dân hiểu về quy trình soạn thảo văn bản
QPPL, tuy nhiên chưa cho phép người dân tham gia vào quy trình đó. Tham
vấn, người dân được hiểu là hành động có chủ đích của chính quyền nhằm
thông báo, hỏi và lắng nghe, thảo luận với những người dân chịu ảnh hưởng
bởi một quyết định, một giải pháp nào đó hoặc những người có liên quan có
quan tâm đến chính sách, giải pháp sắp được ban hành hoặc đã được ban
hành. Qua đó người dân được tổ chức các cơ hội để họ bày tỏ các quan điểm
về ý kiến của mình theo những kênh thu nhận đã công bố, và có cơ chế để
những quan điểm, ý kiến này được người ra quyết định xem xét và cân nhắc
trước khi quyết định đó được thông qua. Hoạt động tham vấn có thể thực hiện
theo các hình thức: chủ động (đại diện chính quyền tổ chức nghe ý kiến của
người dân); hình thức bị động (công bố để người dân gởi thư góp ý tới chính
quyền theo địa chỉ công bố). Tuy nhiên, hoạt động này chỉ có chức năng góp
phần nâng cao khả năng tham gia của người dân tương đương với cấp độ thứ
ba về sự tham gia đã nêu ở trên là cùng tham gia thảo luận và quyết định.
Ở cấp độ tham gia thảo luận và quyết định, mức độ dân chủ cộng đồng
được đẩy lên ở một mức cao hơn. Người dân trực tiếp cùng chính quyền làm
đạt được. Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật chẳng qua chỉ là
hình thức, là phương tiện để chuyển tải, để thể hiện chính sách mà thôi. Vì
11
vậy, so với khái niệm “pháp luật”, chính sách được hiểu rộng hơn nhiều. Nếu
xét nội hàm của khái niệm này trong mối quan hệ với chính trị và pháp quyền
thì: (i) chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung. Dựa vào
đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà người
ta định ra chính sách; (ii) chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp
luật. Hay nói cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách.
Có thể có chính sách chưa được luật pháp hóa (thể chế hóa), hoặc cũng có thể
không bao giờ được luật pháp hóa vì nó không được lựa chọn để luật pháp
hóa khi không còn phù hợp với tư tưởng mới hay sự thay đổi của thực tiễn.
Nhưng sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách.
Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội dung của pháp luật, còn
pháp luật là hình thức, là phương tiện thể hiện của chính sách khi nó được
thừa nhận, được “nhào nặn” bởi “bàn tay công quyền”, tức là được ban hành
bởi nhà nước theo một trình tự luật định.
Như vậy, chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng
cầm quyền và với bộ máy quyền lực công - nhà nước. Chúng ta vẫn thường
nói đến một nguyên tắc của tổ chức thực thi quyền lực chính trị là “Đảng đề
ra đường lối, chính sách, Nhà nước thể hóa đường lối, chính sách của Đảng
thành pháp luật”. Tuy nhiên, cũng không nên tuyệt đối hóa vai trò hoạch định
chính sách của đảng cầm quyền. Có ý kiến cho rằng, việc xây dựng chính
sách là nhiệm vụ của Đảng, Đảng là người duy nhất có quyền đưa ra chính
sách. Đúng. Đảng đề ra đường lối chính sách để Nhà nước thể chế hóa thành
pháp luật nhưng việc xây dựng và ban hành pháp luật của Nhà nước cũng
chính là Nhà nước xây dựng và ban hành chính sách. Đường lối, chính sách
phạm trù: chính sách và pháp luật, trong đó có thể hiểu pháp luật là một phạm
trù “hai trong một” - pháp luật là sự thể hiện của chính sách và cũng chính là
chính sách [11].
13
Ở một góc nhìn khác, đã có sự hợp nhất hai vấn đề chính sách và pháp
luật, thành “chính sách pháp luật”, và cho rằng: đây là hoạt động có căn cứ
khoa học, nhất quán và hệ thống của các cơ quan nhà nước và của các thiết
chế xã hội nhằm xây dựng cơ chế điều chỉnh pháp luật có hiệu quả, sử dụng
văn minh các phương tiện pháp luật để đặt được mục đích bảo đảm đầy đủ
nhất các quyền và tự do của con người và của công dân, hình thành và phát
triển nhà nước pháp quyền, văn hóa pháp luật và đời sống pháp luật của xã
hội và của cá nhân. Đồng thời, để phân biệt với các loại hình chính sách khác,
tác giả cũng đưa ra 06 dấu hiệu đặc trưng để nhận diện “chính sách pháp
luật” bao gồm: (i) Đó là hoạt động trong lĩnh vực của đời sống xã hội; (ii) Đó
là hoạt động hướng đến việc nâng cao chất lượng của đời sống pháp luật của
xã hội, hoàn thiện pháp luật, sự thay đổi tiến bộ của hệ thống pháp luật, sự
phát triển của pháp luật tương ứng của xã hội, việc nâng cao văn hóa pháp
luật của công dân và những người có chức vụ, quyền hạn.v.v...; (iii) Đó là
hoạt động thể hiện thái độ của các chủ thể của chính sách pháp luật đối với
những vấn đề quan trọng nhất của phát triển đời sống pháp luật của xã hội, sự
thay đổi và đổi mới các phần có ý nghĩa nhất của nó; (iv) Đó là hoạt động
thực hiện dưới sự trợ giúp của các phương tiện pháp lý (công cụ và kỹ thuật)
và của hệ thống phương tiện (công cụ) riêng của chính sách pháp luật (các
quan niệm, quan điểm, chiến lược, chương trình, kỹ thuật pháp lý, kế hoạch
hóa, dự báo, theo dõi pháp luật, thẩm định pháp luật, hệ thống hóa các văn
bản QPPL, v.v...) - những phương tiện được sử dụng để tổ chức đời sống xã
hội; (v) Đó là hoạt động gắn liên với quá trình hoạch định và thực hiện các tư
cần giải quyết (những vấn đề mà nhà nước phải giải quyết), người ta thường
nhấn mạnh tới những trục trặc của cơ chế thị trường (khi vận hành phi hiệu
quả vì các hành vi lạm dụng quyền lực thị trường, cạnh tranh không lành
mạnh; thông tin bất cân xứng; phân phối thu nhập quá mức; ô nhiễm môi
trường; không cung cấp đủ các loại hàng hóa, dịch vụ công cần thiết như: trật
15
tự trị an, an ninh, an toàn cá nhân, trật tự pháp luật, cơ sở hạ tầng.v.v…).
Chính sách nhiều khi được sinh ra cũng nhằm mục đích khắc phục những
“trục trặc” trong bản thân sự vận hành của bộ máy nhà nước, nhằm kiểm soát
quyền lực, phòng, chống các biểu hiện tha hóa quyền lực, bảo đảm nhà nước
thực sự của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân như chủ trương của Đảng
và Hiến pháp đã ghi nhận một cách nhất quán.
Mọi chính sách được đưa ra, về nguyên tắc, phải hướng tới việc làm
cho xã hội tốt hơn lên. Đối với Việt Nam, đó là việc đến gần hơn với mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trực diện hơn, trong
giai đoạn tới đây là thực hiện những mục tiêu hoặc định hướng mang tính
chiến lược do Đảng hoạch định, chẳng hạn, đó là “phát huy sức mạnh toàn
dân tộc và dân chủ XHCN, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới;
bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế nhanh, bền vững, xây dựng
nền tảng để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Bảo vệ vững
chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ
Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN. Giữ gìn hòa bình, ổn định để
phát triển đất nước. Nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và
trên thế giới” [1].
Như vậy, có thể khẳng định rằng: nhìn từ góc độ nào trên đây thì khái
niệm “chính sách” hay “chính sách pháp luật” đều có những điểm chung
pháp trong xử sự của các bên. Nghĩa là, thông qua QPPL mới biết được hoạt
động nào của các chủ thể có hoặc không có ý nghĩa pháp lý, hoạt động nào
hợp pháp hoặc trái pháp luật...; (iii) QPPL do các cơ quan nhà nước ban hành
và bảo đảm thực hiện, theo đó, QPPL do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
đặt ra, thừa nhận hoặc phê chuẩn, do vậy bản chất của chúng trùng với bản chất
của pháp luật. QPPL thể hiện ý chí nhà nước, chúng chứa đựng trong mình
17
những tư tưởng, quan điểm chính trị - pháp lý của nhà nước, của lực lượng cầm
quyền trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhà nước áp đặt ý chí của mình
trong QPPL bằng cách xác định những tổ chức, cá nhân nào trong những hoàn
cảnh, điều kiện nào thì phải chịu sự tác động của QPPL, những quyền và nghĩa
vụ pháp lý mà họ có và cả những biện pháp mà nhà nước sẽ bảo đảm cho chúng
được thực hiện. Thuộc tính do các cơ quan nhà nước ban hành và bảo đảm thực
hiện là thuộc tính thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa QPPL với các loại quy phạm
xã hội khác; (iv) QPPL là quy tắc xử sự chung, cho nên việc ban hành ra nó
không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể mà cho các tổ chức và cá nhân
tham gia quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Để có được một QPPL, các cơ
quan nhà nước phải nghiên cứu rất nhiều các quy tắc xử sự cụ thể, tìm ra
những điểm chung giữa chúng rồi từ đó mô hình hoá thành quy tắc xử sự
chung. Quy tắc xử sự chung là sự khái quát từ các quy tắc xử sự cụ thể nên nó
sẽ phù hợp với hầu hết các trường hợp cụ thể. Mọi tổ chức, cá nhân ở vào tình
huống mà QPPL đã dự liệu đều xử sự cơ bản như nhau. Tính chất chung của
QPPL còn được thể hiện ở chỗ nó được đặt ra không phải chỉ để điều chỉnh
một quan hệ xã hội cụ thể mà để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung, nghĩa
là, từng quan hệ xã hội cụ thể bên cạnh những điểm chung thì cũng có rất
nhiều những điểm riêng biệt, nhưng QPPL đã thống nhất tất cả chúng lại và
thiết lập ra quy tắc xử sự có tính chất chung cho tất cả những chủ thể tham gia
những hoàn cảnh, điều kiện nhất định nào đó... (vi) QPPL có tính hệ thống,
theo đó, mỗi QPPL không tồn tại và tác động một cách biệt lập, riêng rẽ, mà
giữa chúng luôn có sự liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau tạo nên những
chỉnh thể (hệ thống) lớn nhỏ khác nhau cùng điều chỉnh các quan hệ xã hội.
QPPL của các nhà nước đương đại chủ yếu là QPPL thành văn, chúng được
chứa đựng trong các văn bản QPPL. Số lượng của chúng ngày một nhiều hơn
và phạm vi các đối tượng mà chúng tác động ngày càng rộng hơn, trật tự ban
hành, áp dụng và bảo vệ chúng ngày càng dân chủ với sự tham gia của đông
19
đảo các thành viên trong xã hội. Nội dung của QPPL ngày càng trở nên chính
xác, chặt chẽ, rõ ràng, thống nhất và có tính khả thi cao.
Điều 3 Luật ban hành văn bản QPPL (năm 2015) quy định: “QPPL là
quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại
nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn
vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định
trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện”. Định nghĩa
này đã thể hiện khá đầy đủ những đặc trưng vốn có của QPPL để phân biệt
với các loại quy phạm khác. Chẳng hạn như: quy phạm xã hội; quy phạm đạo
đức; quy phạm tôn giáo.v.v...
1.1.4. Văn bản QPPL
Được hiểu là những quy định, trong đó hầu hết là những quy tắc xử sự
chung (còn gọi là QPPL) do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Nếu xét
dưới góc độ các cách thức thể hiện của pháp luật thì có pháp luật không thành
văn và pháp luật thành văn. Pháp luật không thành văn là những quy định pháp
luật được truyền khẩu trong xã hội từ người này qua người khác mà không
được thể hiện thành văn bản, còn pháp luật thành văn là những quy định pháp
luật được ghi chép lại thành các văn bản trên các loại vật liệu khác nhau.
quy tắc xử sự được ban hành không phải cho một trường hợp cụ thể và đối
với những tổ chức hay cá nhân cụ thể mà cho tất cả các trường hợp và đối với
tất cả những tổ chức hay cá nhân đã được dự liệu phải thực hiện. Nói cách
khác, khi gặp phải những tình huống mà pháp luật đã dự liệu thì các tổ chức,
cá nhân có liên quan bắt buộc phải xử sự theo quy định của văn bản QPPL.
Cũng vì vậy, văn bản QPPL được thực hiện nhiều lần trong đời sống khi xảy
ra tình huống mà pháp luật đã dự liệu. Đây là đặc điểm thể hiện sự khác biệt
giữa văn bản QPPL với các văn bản khác của nhà nước như văn bản áp dụng
21