Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự từ thực tiễn thành phố vĩnh yên, tỉnh vĩnh phúc (tt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

K
LÊ TIẾN TRUNG

TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số

: 62.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


Công trình đƣợc hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đinh Thị Mai

Phản biện 1: PGS.TS. HOÀNG THỊ MINH SƠN
Phản biện 2: TS. NGUYỄN VĂN ĐIỆP

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội


tranh tụng dân sự với Luật sư, người bào chữa, và những người tham gia tố
tụng khác. Khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình
đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ
yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện
các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm
chứng, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản
án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn luật định.
Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào quá
trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân
chủ tại phiên tòa…”[12].
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị “về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020” tiếp tục xác định xác định một trong
những nhiệm vụ cải cách tư pháp của nước ta là “ Đổi mới việc tổ chức phiên
tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành
tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ,

1


nghiêm minh; Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây
là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…”[14].
Trước khi c Nghị quyết số 08-NQ/TW th hoạt động thực hành quyền
công tố tại Phiên tòa HSST chỉ chủ yếu tập trung vào đọc bản cáo trạng, tr nh
bầy lời luận tội mà chưa chú trọng đến việc tranh luận cũng như đối đáp với bị
cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. Đ khác phục t nh
trạng trên và nhằm hiện thực h a quan đi m của đảng và nhà nước về cải cách
tư pháp như trên, Bộ luật TTHS năm 2003 ra đời đã mang lại nhiều kết quả
đáng k . Hoạt động tranh luận tại các phiên tòa xét xử h nh sự được đẩy mạnh,
giúp cho việc giải quyết các vụ án h nh sự đảm bảo được công bằng, dân chủ và


sỹ luật học “Thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của
Nguyễn Hải Ninh, năm 2003… và còn rất nhiều tác phẩm khoa học đáng giá
khác.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và bài viết trên đã đề cập đến rất
nhiều nội dung xung quanh vấn đề tranh luận , tranh tụng trong TTHS Việt
Nam và những bài viết, công tr nh nghiên cứu trên đây là những tài liệu quý
giá, giúp cho tác giả luận văn c được các ý tưởng khoa học đ xây dựng và
hoàn thiện đề tài này. Tuy nhiên, trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh
Phúc vẫn chưa c tài liệu hay công tr nh nào đi sâu nghiên cứu, đánh giá về mặt
thực tiễn đ chỉ ra các nguyên nhân, những tồn tài, vướng mắc và những bất cập
gặp phải tại địa phương. V vậy, việc đi sâu nghiên cứu về tranh luận tại phiên
tòa sơ thẩm vụ án h nh sự từ thực tiễn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đ
chỉ ra những bất cập, vướng mắc về thực trạng đang gặp phải tại địa phương đ
từ đ đề xuất những giải pháp giải quyết những vấn đề bất cập còn tồn tại.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về tranh luận tại
phiên tòa sơ thẩm h nh sự, thực trạng và những bất cập trong tranh luận tại
phiên tòa sơ thẩm h nh sự tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đ từ đ đề
xuất đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cũng như hoàn thiện các
quy định về tranh luận tại phiên tòa HSST ở địa bản thành phố Vĩnh Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đ đạt được mục đích nêu trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu phân tích một số vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên tòa
HSST theo pháp luật tố tụng h nh sự Việt Nam như khái niệm, đặc đi m, phạm
vi, nội dung, chức năng và vai trò của các chủ th cũng như các yếu tố khác ảnh
hưởng đến chất lượng tranh luận tại phiên tòa HSST;
- Nghiên cứu phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về tranh luận

Đề tài nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lenin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, đường lối của Đảng và Nhà
nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, về cải cách tư pháp trong
thời kỳ mới. Luận văn sử dụng các phương pháp cụ th đ làm rõ những nội
dung cần nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và phương
pháp thống kê.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài g p phần bổ sung và hoàn thiện vấn đề lý luận về tranh luận tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự. Trên cơ sở đ tiếp tục hoàn thiện quy định
của pháp luật về TTHS đối với thủ tục tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
h nh sự; giúp cho những nhà thực thi pháp luật c cái nh n toàn diện hơn và đầy
đủ hơn về hoạt động này, từ đ nâng cao chất lượng tranh luận, giúp cho việc
giải quyết vụ án đạt hiệu quả cao nhất.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, với cơ cấu như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tranh luận tại phiên tòa
xét xử sơ thẩm h nh sự
4


Chương 2: Thực trạng hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ
thẩm h nh sự từ thực tiễn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh luận tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự.
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRANH LUẬN
TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
hình sự

hiện tính minh bạch, công khai và dân chủ của tố tụng h nh sự mà còn th hiện
bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN của dân, do dân và v dân. Việc tranh
luận, đối đáp của KSV với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố
tụng khác sẽ làm cho phiên tòa khách quan, sống động hơn nhằm nâng cao uy
tín của Tòa án, Viện Ki m sát cũng như củng cố niềm tin của nhân dân vào
công lý.
Thứ hai, Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự không phải là
hoạt động tố tụng không c giới hạn về phạm vi tranh luận. Phạm vi tranh luận
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án h nh sự được giới hạn về mặt không gia và
thời gian. Về mặt không gian, hoạt động tranh luận của các chủ th tại phiên tòa
xét xử sơ thẩm vụ án h nh sự chỉ được thực hiện tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ
án h nh sự đ . Về mặt thời gian th thủ tục tranh luận được bắt đầu ngay sau khi
Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần xét hỏi tiếp đến KSV tr nh bầy lời
luận tội.
Thứ ba, Cũng như hoạt động tố tụng khác, tranh luận tại phiên tòa xét xử
sơ thẩm h nh sự c nội dung nhất định theo quy định của pháp luật TTHS. Nội
dung tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự bao gồm toàn bộ các quan
đi m, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án h nh sự mà các chủ th
của bên buộc tội và bên gỡ tội đưa ra tại phiên tòa đề nghi HĐXX chấp nhận
hoặc bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án. Nội dung tranh luận của các chủ th tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự cũng xoay quanh các vấn đề cần chứng minh
trong vụ án.
1.2. Mục đích, phạm vi, nội dung và chủ thể của tranh luận tại phiên
tòa xét xử sơ thẩm hình sự
Mục đích
Mục đích của tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự là nhằm đ
t m ra sự thật khách quan của vụ án. Dưới sự điều khi n của Chủ tọa phiên tòa,
trên cơ sở các chứng cứ đã được ki m tra công khai tại phiên tòa và các quy
định của pháp luật, các chủ th thuộc bên buộc tội và bên gỡ tội đưa ra quan
đi m, lập luận của m nh về các t nh tiết khách quan và hướng giải quyết vụ án

bị đơn dân sự.
Thứ ba là đối với chủ th thực hiện chức năng xét xử là HĐXX – gồm
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân th không thực hiện việc tranh luận mà chỉ
xét hỏi và ngồi nghe lời tr nh bầy của các bên cùng với những chứng cứ khác đ
đưa ra phán quyết cuối cùng.
1.3. Tranh tụng và tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự
Cũng như khái niệm về “ tranh luận” th sự so sánh giữa “tranh tụng” và
“tranh luận” cũng c nhiều ý quan đi m khác nhau. Từ những quan đi m nhận
thức khác nhau đ ta c th phân các quan đi m này thành ba nh m cơ bản như
sau :
* Nh m quan đi m thứ nhất cho rằng: “Tranh tụng là qua trình tranh
luận, trao đổi giữa các bên. Trong tranh tụng các quan điểm pháp lý khác nhau
được cọ xát và chân lý khách quan xuất hiện” [17,tr.126]. Hay “Tranh tụng là
hoạt động của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng
tại phiên tòa, tham gia vào việc làm rõ sự thật của vụ án và cơ sở áp dụng pháp
luật, làm căn cứ để HĐXX xem xét, quyết định”[42,tr.6].
Nhìn chung, theo các quan đi m trên th “tranh tụng” và “tranh luận” c
th là một, n diễn ra giữa các chủ th đối lập với nhau. Qua tranh luận, chân lý
7


và sự thật khách quan trong vụ án h nh sự sẽ được làm sáng tỏ, làm cơ sở cho
Tòa án ra phán quyết về vụ án.
* Nh m quan đi m thứ hai cho rằng: “Tranh luận là một thủ tục – một
phần độc lập của phiên tòa sơ thẩm…Thủ tục tranh luận thể hiện rõ nét nhất,
tập trung nhất nội dung của nguyên tắc tranh tụng. Tranh luận có nội hàm hẹp
hơn tranh tụng, là một phần của tranh tụng” [28,tr.10].
Còn theo quan đi m của Tiến sỹ Dương Thanh Bi u: “ Tranh tụng là hoạt
động của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tại
phiên tòa, tham gia vào việc làm rõ sự thật của vụ án và cơ sở áp dụng pháp



đó các bên buộc tội và bào chữa thông qua trình bầy bằng lời nói của mình
tổng hợp và đánh giá kết quả của phần xét hỏi, phân tích đánh giá các chứng
cứ của vụ án, đưa ra những đánh giá chính trị-xã hội và đánh giá pháp lý đối
với hành vi bị truy tố của bị cáo, đề nghị hình phạt, mức hình phạt cùng những
vấn đề liên quan mà Tòa án phải giải quyết khi nghị án”[28,tr.18].
Từ những phân tích trên ta c th khẳng định rằng hai khái niệm “tranh
tụng” và “tranh luận” tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự là các khái niệm
không đồng nhất nhưng giữa chúng c mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trong đ
“tranh tụng tại phiên tòa” là cái chung (tổng th ) và “tranh luận tại phiên tòa” là
cái riêng (bộ phận cấu thành). V vậy, khái niệm “tranh tụng tại phiên tòa” c
nội hàm rộng hơn bao gồm không chỉ phần tranh luận mà cả các phần khác (thủ
tục phiên tòa, xét hỏi, nghị án và tuyên án) của quá tr nh xét xử vụ án h nh sự
còn “tranh luận tại phiên tòa” chỉ là một bộ phận cấu thành của tranh tụng. Sự
khác nhau giữa hai khái niệm này được th hiện ở ba tiêu chí: về phạm vi (giới
hạn), về chủ th và về nội dung.
1.4. Quy định của pháp luật về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ
thẩm hình sự
Từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến khi ban hành Bộ luật TTHS
Việt Nam đầu tiên (năm 1988), các tr nh tự thủ tục và hoạt động tranh luận
được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau do Nhà nước ban
hành như: Tại Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/09/1945 về thiết lập Tòa án quân sự;
Sắc lệnh số 7 ngày 15/01/1946 bổ khuyết Sắc lệnh ngày 13/09/1945; Sắc lệnh
số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán (sửa đổi Sắc
lệnh số 85/SL ngày 22/05/1950); Sắc lệnh số 51/ST ngày 17/04/1946 về ấn định
thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án cũng
c quy định th hiện nội dung thủ tục tranh luận tại phiên tòa thời kỳ đ ; Sắc
lệnh số 190 ngày 01/10/1946 quy định về thẩm quyền truy tố của Tòa án; Sắc
lệnh số 163 ngày 23/08/1946 về tổ chức Tòa án binh lâm thời; Sắc lệnh số 19

luật trong TTHS;…) cũng chi phối ở phạm vi và mức độ nhất định đến quá
tr nh xét xử vụ án n i chung và tranh luận tại phiên tòa HSST nói riêng.
- Một số qui định chung liên quan đến việc tranh luận tại phiên tòa HSST,
các qui định này bao gồm các qui định về quyền và nghĩa vụ của các chủ th
tham gia tranh luận tại phiên tòa h nh sự, cụ th là những điều sau:
Điều 37 BLTTHS qui định về quyền hạn và trách nhiệm của KSV tham gia
phiên tòa…; Điều 39 và 40 qui định về quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm
phán và Hội thẩm tham gia xét xử các vụ án h nh sự, tiến hành các hoạt động tố
tụng thuộc thẩm quyền của HĐXX; Các điều 50 - 54, 58 và 59 BLTTHS qui
định về quyền của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,
người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, hoặc người đại diện; Các điều
63 – 78 BLTTHS (Chứng cứ và chứng minh); Điều 98 và Điều 99 BLTTHS (án
phí và trách nhiệm án phí).
- Các qui định cụ th tại chương XXI BLTTHS (qui định tại các điều 217
– 221), cụ th như sau: Điều 217. Tr nh tự phát bi u khi tranh luận; Điều 218.
Đối Đáp: Điều 219. Trở lại việc xét hỏi; Điều 221. Xem xét việc rút quyết định
truy tố hoặc kết luận với tội nhẹ hơn.
- Trong hơn 10 năm thi hành BLTTHS 2003 đã khẳng được vai trò quan
trọng trong việc giải quyết các vụ án h nh sự n i chung và trong hoạt động
tranh luận tại phiên tòa HSST n i riêng.Tuy nhiên trong thực tiễn thi hành
BLTTHS 2003 cũng đã bộc lộ một số vấn đề bất cập vướng mắc, thêm vào đ
10


việc chủ động hội nhập quốc tế một cách sâu rộng trong lĩnh vực đấu tranh
phòng chống tội phạm và bảo vệ quyền con người. Từ những lý do trên việc sửa
đổi BLTTHS 2003 là khách quan và cần thiết.
BLTTHS 2015 đã ra đời gồm c 36 chương, 510 điều, nội dung sửa đổi,
bổ sung rất lớn (176 điều mới, 317 điều sửa đổi, 26 điều bị bãi bỏ, 17 điều giữ
nguyên).

11


lý tội phạm, g p phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện ổn định cho
sự phát tri n của đất nước n i chung và thành phố Vĩnh Yên n i riêng.
Chất lượng và hiệu quả của hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
h nh sự chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, trong đ vị trí địa lý, mật
độ dân số, số lượng Thẩm phán, Ki m sát viên và luật sư chỉ c sự ảnh hưởng
phần nào đ đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động tranh luận tại phiên tòa,
ngoài ra còn những yếu tố quan trọng khác như là: sự hoàn thiện của pháp luật;
tr nh độ chuyên môn; kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm
của Thẩm phán, Ki m sát viên, Luật sư; tr nh độ dân trí và sự hi u biết pháp
luật của những chủ th khác tham gia tranh luận.
2.1.2. Trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phán, Kiểm
sát viên, Luật sư trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Tr nh độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp c ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự.
Tuy nhiên, mỗi chủ th này c chức năng, nhiệm vụ khác nhau nên kỹ năng cụ
th của họ trong tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự cũng khác nhau,
cụ th là:
-Kỹ năng điều khi n hoạt động tranh luận của Chủ tọa phiên tòa;
-Kỹ năng tr nh bầy lời luận tội và đối đáp của Ki m sát viên trong hoạt
động tranh luận.
-Kỹ năng tr nh bầy lời bào chữa (hoặc bảo vệ quyền lợi cho đương sự) và
tranh luận với Ki m sát viên và các chủ th khác.
Tr nh độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp c ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt
động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm cũng như trong quá tr nh tranh
tụng tại phiên tòa n i chung. V vậy, đội ngũ cán bộ Tòa án và VKS cũng như
lực lượng Luật sư trên địa bàn đã c những biện pháp nâng cao tr nh độ chuyện
môn và kỹ năng nghề nghiệp đ tạo ảnh hưởng tích cực như tăng cường chất

cũng như trong hoạt động tranh luận tại phiên tòa, việc tranh luận tại phiên tòa
chỉ còn là h nh thức, thủ tục. Hầu hết các vụ án đã khảo sát, th Tòa án đều chấp
nhận theo cáo trạng, cũng như quan đi m của Viện ki m sát đã truy tố, còn ý
kiến của Luật sư đưa ra đều không được chấp nhận. Bên canh đ , việc đối đáp
giữa các bên tại phiên tòa còn rất mờ nhạt, kém phần sôi nổi, được th hiện qua
việc ghi nhận trong biên bản phiên tòa.
Từ những cơ sở đã được phân tích bên trên, c th thấy được sự phối hợp
trong công tác xét xử, tranh luận giữa Tòa án và VKS thành phố Vĩnh Yên c
ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh
sự. Mặc dù, việc phối hợp c ảnh hưởng như vậy nhưng thiết nghĩ nếu đối với
những vụ án lớn mang tính phức tạp và đặc biệt nghiêm trọng mà không c sự
phân công phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng th sẽ rất kh cho các cơ
quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án.
2.2.Thực trạng hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm trên
địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Theo Báo cáo tổng kết công tác của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên
từ năm 2012 đến năm 2016, t nh h nh xét xử sơ thẩm vụ án h nh sự của Tòa án
nhân dân thành phố Vĩnh Yên nh n chung th số lượng vụ án hàng năm đều gia
tăng, tỉ lệ giải quyết án hàng năm đều khá tốt tuy nhiên chất lượng các bản án
còn chưa được tốt lắm như là vẫn c n một số án bị kháng cáo, sửa án mặc dù tỷ
lệ là không nhiều. Cụ th :

13


- Năm 2012 Tòa thụ lý mới cùng với án tồn là 174 vụ/ 314 bị cáo, đã giải
quyết 164 vụ/ 301 bị cáo, đạt tỷ lệ 94,25% vụ/ 95,85% bị cáo; Số vụ án còn
chưa được giải quyết lại 10 vụ/ 13 bị cáo.[36]
- Năm 2013 Tòa thụ lý mới cùng án tồn là 199 vụ/ 330 bị cáo, đã giải quyết
184 vụ/ 286 bị cáo, đạt tỷ lệ 92,46% vụ/ 86,6% bị cáo; c 1 vụ/ 2 bị cáo là trả



Bảng 2.1. Bảng số liệu thông kê tình hình xét xử sơ thẩm án hình sự của
Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Phúc từ năm 2012 đến năm 2016
Giải quyết
Số vụ án
còn lại
Thụ
Năm lý
Đ nh chỉ Trả hồ sơ cho Viện
Xét xử
V Tỷ lệ
mới
ki m sát

và án
Số vụ án
tồn
V Tỷ lệ V Tỷ lệ trả hồ sơ Vụ Tỷ lệ
từ


nhưng
năm
VKS
trước
không
chấp
nhận
yêu cầu


0

0

0

160 89,9%

0

0

0

18 10,1
%
2016 172 1 0,6% 3 1,74% 1
164 95,34% 4 2,32
%
Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên từ
năm 2012 đên năm 2016.
Từ bảng thống kê và những tài liệu nghiên cứu ta thấy được rằng các vụ án
h nh sự trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên vẫn gia tăng theo từng năm, nhưng
nhờ vào sự cố gắng nỗ lực của các cán bộ tư pháp mà các vụ án luôn đạt tỷ lệ
giải quyết là 100%, tuy nhiên vẫn còn tồn tại án bị kháng cáo, bị sửa, bị hủy
mặc dù số lượng không nhiều nhưng vẫn n i lên những bất cập, hạn chế cần
được khắc phục và hoàn thiện trong thời gian tời.
2.2.1.Những kết quả đạt được và nguyên nhân
- Đối với hoạt động của Viện ki m sát trong những năm gần đây đạt được

2012
174
24
13,8%
2013
199
21
10,5%
2014
224
17
7,6%
2015
178
10
5,6%
2016
172
12
7%
Nguồn: Theo Báo cáo tổng kết thi đua của Tòa án nhân dân thành phố
Vĩnh Yên từ năm 2012 đến năm 2016 và Báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động
của Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2012 đến năm 2016.
Đối với những vụ án không c Luật sư bào chữa th những bị cáo, người
đại diện không c khả năng tự bào chữa cho m nh do c hạn chế về hi u biết
pháp luật cũng như tr nh độ dân trí. Cho nên tại phần tranh luận th hiện sự tẻ
nhạt, mặc dù Chủ tọa đã phân tích các quy định của pháp luật, hướng dẫn yêu
cầu bị cáo c ý kiến tranh luận lại với Ki m sát viên.
16


2.2.2.1. Những hạn chế, bất cập về mặt quy định của pháp luật
* Những bất cập, vướng mắc về một số nguyên tắc trong BLTTHS liên
quan đến tranh luận tại phiên tòa:
Những bất cập trong một số nguyên tắc này th hiện ở một số đi m sau:
- Hiện nay trong BLTTHS của nước ta chưa c một điều khi n nào n i về
“tranh tụng”. Mặt khác, trong bộ luật cũng không c các quy định cụ th nhằm
phân định rõ ràng giữa ba chức năng trong TTHS.
- BLTTHS hiện hành thiếu một nguyên tắc cơ bản, quan trọng của TTHS
là nguyên tắc tranh tụng. Nội dung của một số nguyên tắc khác (như: nguyên
17


tắc suy đoán vô tội, xác định sự thật khách quan, thực hành quyền công tố và
ki m sát việc tuân theo pháp luật, trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án h nh sự)
chưa th hiện sự phân định rõ ràng giữa các chức năng buộc tội, bào chữa và
xét xử; quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS, TA mâu thuẫn với chức
năng mà n thực hiện
*Những bất cập, vướng mắc trong một số quy định chung của BLTTHS
Việc phân loại các chủ th tham gia vào quá tr nh tố tụng h nh sự trong
BLTTHS các điều 33 – 63 thành các chủ th tiến hành tố tụng và các chủ th
tham gia tố tụng là không phù hợp với chức năng trong TTHS dẫn đến xác định
không đúng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ th này.
*Những bất cập, vướng mắc trong chương XXI BLTTHS:
Những bất cập này th hiện ở một số đi m sau:
- Quy định tại các điều 217 – 218 BLTTHS hiện hành về tr nh tự phát
bi u khi tranh luận, khi đối đáp theo chúng tôi vừa không đầy đủ, vừa không cụ
th và rõ ràng, không phù hợp với logic các chức năng buộc tội và bào chữa;
chưa bao quát đầy đủ các chủ th c quyền tranh luận, đối đáp, đặc biệt là trong
những trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (Điều 105
BLTTHS).

chữa khác nhau…) nên chất lượng hoạt động bào chữa trong nhiều trường hợp
không cao, không bảo vệ được các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của bị cáo mà
chỉ mang tính h nh thức qua loa đại khái.
-Ngoài KSV, Luật sư th người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,
người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của họ và
người bảo vệ quyền lợi của họ cũng tham gia vào quá tr nh tranh luận. Tuy
nhiên, trong đa số trường hợp th các chủ th này (trừ Luật sư bảo vệ quyền lợi
của đương sự) rất hạn chế về hi u biết pháp luật và không c kỹ năng tranh
luận. V vậy, vai trò của họ trong tranh luận tại phiên tòa chỉ mang tính chất bổ
sung. Còn hoạt động tranh luận, đối đáp với các chủ th của bên bào chữa chủ
yếu vẫn do KSV thực hiện. V vậy, việc nâng cao tr nh độ dân trí n i chung và
sự hi u biết về pháp luật n i riêng nhằm giúp họ nhận thức đúng và đầy đủ các
quyền và nghĩa vụ của m nh theo quy định của pháp luật khi tham gia vào quá
trình tố tụng h nh sự là cần thiết đ nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa
xét xử sơ thẩm h nh sự.
Nguyên nhân của những hạn chế, bất cấp còn tồn tại nêu trên là do:
- Một số Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa còn hạn chế về tr nh độ chuyên
môn, năng lực, kỹ năng nghề nghiệp chưa cao mặc dù số lượng này rất ít nhưng
cũng c những ảnh hưởng nhất định đến việc khắc phục hạn chế đang còn tồn tại.
Tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân không cao hoặc một
số Hội thẩm ngồi trên phiên tòa cho c v tâm lý ỷ lại vào Chủ tọa phiên tòa.
- Tr nh độ chuyên môn và kỹ năng tranh tụng của một số KSV còn hạn
chế. Đối với những vụ án VKS cấp trên chuy n cho VKS cấp dưới xét xử theo
thẩm quyền th KSV cấp dưới làm việc dập khuân, máy m c theo hồ sơ mà
VKS cấp trên chuy n xuống. Theo báo cáo tổng kết của VKS nhân dân thành
phố Vĩnh Yên, công tác nâng cao chất lượng của Ki m sát viên tại phiên tòa
h nh sự n i chung và phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự n i riêng còn ở h nh thức
thí đi m, rút kinh nghiệm.
- Một số Luật sư hạn chế về tr nh độ chuyên môn và kỹ năng nghề
nghiệp; tác phong làm việc cẩu thả, đại khái, qua loa. Th hiện tinh thần trách

tụng n i riêng chưa được tiếp cận nhiều đối với các quy định của pháp luật cho
nên tự bản thân họ không biết cách dùng các quy định của pháp luật đ bảo vệ cho
quyền và lợi ích hợp pháp của m nh cũng như bào chữa cho hành vi của m nh.

20


Chƣơng 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TRANH
LUẬN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ
3.1.Nhu cầu nâng cao chất lƣợng tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ
thẩm hình sự
3.1.1. Yêu cầu cải cách tư pháp
Cải cách tư pháp là nhiệm vụ trọng tâm trong quá tr nh xây dựng Nhà
nước Pháp quyền XHCN. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta chủ
trương xây dựng nền tư pháp vững mạnh, dân chủ, công bằng và nghiêm minh.
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm
vụ trọng tâm của công tác tư pháp nêu rõ “Nâng cao chất lượng công tố của
Kiểm sát viên tại phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng dân chủ với Luật sư, người
bào chữa và những người tham gia tố tụng khác …”. Nghị quyết số 49-NQ/TW
ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
ghi rõ “nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu
đột phá của hoạt động tư pháp”.
Nh n chung, chủ trương về cải cách tư pháp của Đảng hiện nay hoàn toàn
đúng đắn và cũng phù hợp với xu thế cải cách hành chính, kinh tế đang diễn ra
sôi động và nhanh ch ng của đất nước ta. Tuy nhiên, đ cho việc xây dựng th
chế và cải cách tư pháp ở Việt Nam đáp ứng được yêu cầu th chúng ta vừa phải
biết vận dụng, tiếp thu c chọn lọc các mô h nh, th chế của các nước tiên tiến
trên thế giới, đồng thời phải căn cứ vào truyền thống xây dựng và áp dụng pháp
luật Việt Nam th công cuộc cải cách của chúng ta mới đạt hiệu quả. Trong nghị

và các chủ th tham gia tố tụng khác. Do đ , nguyên tắc bảo đảm quyền b nh
đẳng trước Tòa án là không khả thi trên thực tế.
-Thứ ba, là những bất cập, vướng mắc trong chương XXI BLTTHS 2003 :
:Quy định tại các Điều 217, 218 của Bộ luật TTHS quy định về tr nh tự phát
bi u đối đáp là chưa đầy đủ và chưa cụ th , rõ ràng, chưa phù hợp với logic
chức năng buộc tội và bào chữa và đồng thời chưa bao quát đầy đủ các chủ th
c quyền tranh luận đối đáp, mà cụ th là trong trường hợp khởi tố vụ án theo
yêu cầu người bị hại (Khoản 1 Điều 105 BLTTHS).
3.2.Các giải pháp nâng cao chất lƣợng tranh luận tại phiên tòa xét xử
sơ thẩm hình sự
3.2.1.Giải pháp pháp luật
*.Cần hoàn thiện một số nguyên tắc của BLTTHS
Cần bổ sung khái niệm tranh tụng vào Điều 4 BLTTHS 2015. Mặc dù,
BLTTHS 2015 ra đời đã bổ sung nguyên tắc tranh tụng tại Điều 26, tuy nhiên
với quy định này, tác giả thấy rằng nội dung của điều luật quá dài dòng, chưa
th hiện về mặt h nh thức rằng “đây là một nguyên tắc”.
*.Thứ hai, cần cụ th h a nguyên tắc tranh tụng tại Điều 26 vào Điều 322
BLTTHS 2015 đ đảm bảo việc tranh luận tại phiên tòa được công bằng, dân
chủ đúng theo tinh thần của nguyên tắc tranh tụng mà Bộ luật đã ghi nhận và
quy định.Cụ th Điều 322 cần được sửa đổi, bổ sung. Điều 289 BLTTHS 2015
cần phải được sửa lại;
*Thứ ba, cần sửa đổi quy định về số lượng Ki m sát viên tham gia phiên
tòa đối với những vụ án c tính chất đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp.
*Thứ tư, cần sửa đổi, bổ sung quy định về tr nh tự phát bi u khi tranh luận tại
Điều 217 BLTTHS 2003 và Điều 320 BLTTHS 2015 cho hợp lý hơn, đồng thời
22


đảm bảo cho việc xét xử được thông suốt hơn; Điều 320 BLTTHS 2015 cần sửa
đổi, bổ sung theo hướng chuy n đổi vị trí khoản 2 và khoản 3 cho nhau đồng thời

phép tác giả rút ra một số kết luận sau đây:
- Khái niệm về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự g p phần
làm sáng tỏ bản chất, phạm vi và nội dung tranh luận tại phiên tòa; phân biệt sự
khác nhau giữa hai khái niệm tranh tụng và tranh luận tại phiên tòa.
- Hoạt động của HĐXX và các chủ th trong tranh luận tại phiên tòa xét
xử sơ thẩm h nh sự được tiến hành với sự tuân thủ các nguyên tắc, tr nh tự và
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status