BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-----------/----------
BỘ NỘI VỤ
-------/------
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN HUỲNH THÚY HẰNG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CỦA BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI VỀ
TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI – NĂM 2016
Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: TS. Hồ Ánh Sáng
Phản biện 1: TS. Nguyễn Minh Sản
Phản biện 2: TS. Nguyễn Bùi Nam
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện
Hành chính Quốc gia.
Địa điểm: Phòng họp 402C, Nhà A - Hội trường bảo vệ luận văn thạc
nghiêm trọng trên đường bộ vẫn diễn biến phức tạp. Xuất hiện nhiều
bất cập cản trở sự phát triển hạ tầng giao thông như: hệ thống quốc lộ
chưa được kết nối thông suốt, còn nhiều tuyến quốc lộ chưa được đầu
tư nâng cấp, đã xuất hiện nhiều nút thắt trên các tuyến giao thông
huyết mạch; giao thông đô thị còn nhiều yếu kém, ùn tắc giao thông
tại các thành phố lớn thường xuyên xảy ra; tình trạng chở quá tải
trọng gây hư hỏng kết cấu hạ tầng vẫn diễn ra nhức nhối là nguy cơ
1
gia tăng tai nạn giao thông; quản lý nhà nước về giao thông, trong đó
có quản lý vận tải hành khách, hàng hóa còn yếu kém và chưa quyết
liệt. Những tồn tại yếu kém nêu trên làm cho tình hình đảm bảo trật
tự an toàn giao thông đường bộ mặc dù đã được kiềm chế nhưng vẫn
còn tiềm ẩn nhiều rủi ro gia tăng tai nạn giao thông trên 3 tiêu chí và
ùn tắc giao thông, ảnh hưởng tới đời sống của người dân và phần nào
cản trở tốc độ phát triển KT-XH đất nước.
Để giải quyết các tồn tại, hạn chế nêu trên, Bộ GTVT đã chủ
động, tích cực phối hợp với các ban ngành Trung ương và địa
phương đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt, đột phá và tạo
chuyển biến mạnh mẽ trong công tác đảm bảo trật tự an toàn giao
thông đường bộ. Tuy nhiên, các giải pháp vẫn cần tiếp tục được
nghiên cứu, hoàn thiện để cải thiện mạnh mẽ hơn nữa. Vì thế việc
nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về lĩnh vực đảm bảo trật tự
an toàn giao thông đường bộ nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông và
ùn tắc giao thông, đánh giá đúng nguyên nhân và đưa ra giải pháp
trước mắt, lâu dài vừa là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa là nhiệm
vụ cấp bách của hệ thống chính trị, mà vai trò trung tâm là bộ máy
thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn giao thông từ trung
ương tới địa phương.
trong thời kỳ hội nhập và phát triển”, chuyên ngành: Quản lý hành
chính công, thực hiện năm 2014 tại Học viện Hành chính quốc gia.
- Đề tài khoa học cấp Bộ của tác giả Đại tá Trần Đào làm chủ
nhiệm, nghiên cứu về: “Tai nạn giao thông đường bộ - Thực trạng,
nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa của lực lượng Cảnh sát giao
thông” nghiệm thu năm 1999.
- Trần Sơn Hà: “Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao
thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Quản lý
công, năm 2016. Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng Quản
lý nhà nước, đặc biệt của Cục Cảnh sát Giao thông – Bộ Công an
nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ.
3
- Nguyễn Huy Bằng: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay”, Luận văn
thạc sĩ Luật học, năm 2001.
- Nguyễn Hữu Trí: “Nghiên cứu định tính và đề xuất biện pháp
nâng cao ATGT cho người đi xe máy”, Luận văn thạc sĩ năm 2015.
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, các đề tài, luận văn và bài
báo trong chừng mực nhất định đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn
đề lý luận và thực tiễn quan trọng về QLNN trong bảo đảm
TTATGTĐB ở Việt Nam.
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách
toàn diện và chuyên biệt về: “Quản lý nhà nước của Bộ giao thông
vận tải về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ” dưới góc độ
Quản lý hành chính công. Với kết quả nghiên cứu của luận văn, hy
vọng sẽ góp phần khắc phục những tình trạng nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Luận văn hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực
công, vì thế luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về QLNN trong bảo
đảm TTATGTĐB của Bộ giao thông vận tải trong mối liên hệ với
QLNN về TTATGTĐB của các cơ quan nhà nước nói chung từ năm
2015 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở
phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử chủ nghĩa Mác
– Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về QLNN, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về QLNN trong bảo đảm
TTATGTĐB
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp (desk study);
+ Phương pháp khảo sát trường hợp điển hình;
5
+ Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và dự báo
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Thông qua việc làm rõ thực trạng QLNN của Bộ giao thông
vận tải trong bảo đảm TTATGTĐB ở Việt Nam hiện nay – những
thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, Luận văn góp phần khẳng
định nhu cầu thực tiễn phải nâng cao hiệu quả, hiệu lực QLNN
của Bộ Giao thông vận tải trong bảo đảm TTATGTĐB ở Việt
Nam hiện nay và những năm tiếp theo.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm
một số vấn đề lý luận về QLNN trong bảo đảm TTATGTĐB ở Việt
Nam. Do đó, làm phong phú thêm lý luận về Quản lý hành chính
công. Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền QLNN về TTATGTĐB, cho cán bộ, công chức có thẩm
quyền xử lý vi phạm trong lĩnh vực GTĐB. Ngoài ra, luận văn có thể
giao thông, giao thông được tiện lợi, thông suốt, an toàn, có hiệu quả,
đáp ứng được yêu cầu mỹ quan giao thông, chống ô nhiễm môi
trường. TTATGT đường bộ là việc các đối tượng tham gia giao thông
thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật về GTĐB do Nhà
nước ban hành nhằm bảo đảm GTĐB được thông suốt; người, hàng
hóa, phương tiện tham gia giao thông không bị xâm hại, đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế, văn hóa và nhu cầu đi lại của nhân dân, góp
phần ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật, đấu tranh phòng, chống
tội phạm trên các tuyến đường và ở từng địa bàn.
1.1.3 Ý nghĩa của việc đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ
Thứ nhất, giúp giảm thiểu thiệt hại cho xã hội, cho người dân
7
và giữ gìn duy trì trật tự khi tham gia vào một trong những hoạt động
thiết yếu của con người là ăn ở, mặc đi lại.
Thứ hai, việc đảm bảo TTATGT như đã đề cập được thể hiện
ở công tác quản lý trên 3 lĩnh vực chính là: người tham gia giao
thông, phương tiện tham gia giao thông và kết cấu hạ tầng giao thông
đường bộ. Ngoài việc tác động đến ý thức người tham gia giao thông,
tăng cường công tác quản lý điều kiện tham gia giao thông của các
phương tiện như đăng kiểm, giấy phép … cơ quan quản lý nhà nước
cần nâng cao chất lượng, điều kiện kết cấu hạ tầng để tạo điều kiện
cho người tham gia giao thông.
Thứ ba, việc đảm bảo TTATGT là sự nghiên cứu để phát triển,
ứng dụng và đầu tư, tăng cường quản lý hài hoà giữa 3 yếu tố phương
tiện, người lái, kết cấu hạ tầng.
Thứ tư, công tác đảm bảo TTATGT có ý nghĩa quan trọng
trong việc từ thực tiễn xây dựng cơ sở lý luận và tạo cơ sở pháp lý để
hoàn thiện, nâng cao chất lượng công tác này trên thực tế.
Thứ sáu, QLNN về TTATGT đường bộ có liên quan đến nhiều
mặt hoạt động của đời sống xã hội, đến tâm tư, tình cảm và các
quyền lợi cơ bản của công dân.
Thứ bảy, QLNN về TTATGT đường bộ thường xuyên có sự
khai thác, kế thừa và sử dụng kiến thức của nhiều ngành khoa học, kỹ
thuật khác nhau.
1.2.3. Vai trò của quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông
đường bộ
1.2.3.1. Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối
với phát triển kinh tế - xã hội
1.2.3.2 Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối
với đảm bảo trật tự, an toàn xã hội
9
1.2.3.3. Quản lý nhà nước về trật tự an, toàn giao thông đường bộ đối
với đảm bảo an ninh, quốc phòng
1.2.3.4. Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối
với thúc đẩy giao lưu, hội nhập khu vực và quốc tế
1.2.4 Nguyên tắc quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông
đường bộ
Thứ nhất, QLNN về TTATGT đường bộ phải đặt dưới sự lãnh
đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng và sự quản lý điều hành tập trung,
thống nhất của Nhà nước.
Thứ hai, QLNN về TTATGT đường bộ phải gắn liền với
Chiến lược quốc gia bảo đảm TTATGT đường bộ đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2030 và phải được thực hiện trên cơ sở mọi nguồn lực
của Nhà nhước, của xã hội được huy động.
Thứ ba, QLNN về TTATGT đường bộ phải bảo đảm thông
suốt, trật tự, an toàn, hiệu quả; góp phần phát triển kinh tế, xã hội,
quy định được thực hiện.
Các cơ quan, bộ phận liên quan: Vụ ATGT, Vụ Kết cấu hạ
tầng giao thông, Vụ Vận tải, Vụ Pháp chế, Vụ Kế hoạch – Đầu tư, Vụ
Tài chính và Vụ Khoa học – Công nghệ, Tổng cục Đường bộ Việt
Nam, Cục Đăng kiểm Việt Nam.
1.5. Kinh nghiệm quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn giao thông
đƣờng bộ của một số nƣớc
1.4.1 Nhật Bản
1.4.2 Trung Quốc
1.4.3 Singapo
1.4.4 Hàn Quốc
1.4.5 Những giá trị tham khảo đối với Việt Nam
11
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CỦA BỘ GIAO
THÔNG VẬN TẢI VỀ BẢO ĐẢM TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO
THÔNG ĐƢỜNG BỘ
2.1 Thực trạng an toàn giao thông đƣờng bộ ở nƣớc ta
2.1.1. Đặc điểm tình hình giao thông đường bộ
2.1.2. Tình hình ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông và vi phạm trật
tự, an toàn giao thông đường bộ
2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nƣớc của Bộ Giao thông
vận tải về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ ở nƣớc ta
2.2.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển giao
thông đường bộ; xây dựng và chỉ đạo thực hiện chương trình quốc
gia về an toàn giao thông đường bộ.
Từ năm 2007 đến nay, Chính phủ đã ban hành 03 nghị quyết
giáo dục pháp luật về ATGT cho các chủ phương tiện, người điều
khiển giao thông. Qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo
viết, báo nói, báo hình và báo điện tử, pa-nô, quảng cáo, áp phích
.v.v. để người dân được tiếp cận nhanh nhất, gần nhất với các kiến
thức về ATGT. Điều này đã được chứng minh bằng các hoạt động
diễn ra sôi nổi trong thời gian qua như chương trình “Tôi yêu Việt
Nam”; “ATGT”; ”Blog giao thông” của Đài Truyền hình Việt Nam,
giải đáp pháp luật về ATGT, đài tiếng nói Việt Nam đã đưa vào sử
dụng kênh VOV giao thông .v.v. các tờ rơi và các chiến dịch tuyên
truyền cổ động ở các địa phương hàng năm được thực hiện.
13
2.2.4. Tổ chức quản lý, bảo trì, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông
đường bộ.
Mạng lưới giao thông đường bộ nước ta được phân bố tương
đối hợp lý khắp cả nước, có tổng chiều dài trên 258.106 km, trong đó
hiện tại có 93 tuyến Quốc lộ, với tổng chiều dài 18.650 Km chiếm
7,23% trên tổng số mạng lưới đường bộ toàn quốc, trên toàn mạng
quốc lộ có 4.239 cây cầu đường bộ với tổng chều dài 144.539 m;
Tổng cục Đường bộ Việt Nam trực tiếp quản lý hơn 9.000 km, phần
còn lại uỷ thác cho 48 Sở GTVT quản lý. Hệ thống đường quốc lộ
được hình thành theo các trục dọc, trục ngang và các hệ thống đường
vành đai, trục hướng tâm thuận tiện cho phát triển phương thức vận
tải đường bộ.
2.2.5. Công tác đăng kiểm phương tiện
Công tác xây dựng mạng lưới các trung tâm đăng kiểm trên cả
nước và đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần tăng cường
sự quản lý Nhà nước trong hoạt động đăng kiểm, giảm thiểu tai nạn
sắt cao tốc, đuờng sắt đo thị, cầu be tong cốt thép dự ứng lực khẩu đọ
lớn, cầu day vang, đuờng hầm, cảng hàng khong”.
2.2.8. Hoạt động Thanh tra giao thông
Thanh tra giao thông đường bộ đã thường xuyên mở các đợt cao
điểm tăng cường công tác thanh tra, phát hiện và xử lý vi phạm về
các lĩnh vực GTVT đường bộ, trong đó trọng tâm là tăng cường
thanh tra việc chấp hành tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm đối với kết
cấu hạ tầng, phương tiện, hoạt động vận tải; hoạt động đăng kiểm,
đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe. Mục đích của hoạt động thanh
tra là phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp
luật, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến công tác bảo đảm
TTATGT.
15
2.2.9. Hợp tác quốc tế về quản lý trật tự, an toàn giao thông đường bộ
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, chính sách
phát triển giao thông vận tải của nhà nước ta được quy định rất rõ trong
Luật giao thông đường bộ (Khoản 3, Điều 5), Luật Giao thông đường thủy
nội địa (Khoản 2, Điều 5) và Luật Đường sắt (Khoản 2, Điều 5) khuyến
khích và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức,
cá nhân nước ngoài đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào
lĩnh vực giao thông vận tải và coi hợp tác quốc tế về giao thông là một nội
dung quan trọng trong quản lý nhà nước về giao thông (Khoản 10, Điều
84, Luật Giao thông đường bộ).
2.3 Đánh giá chung thực trạng quản lý nhà nƣớc của Bộ Giao
thông vận tải về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ
2.3.1 Những kết quả đạt được
2.3.2 Những hạn chế
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế
đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ
17
Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW
ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Nghị quyết số
30/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ;Kế hoạch triển
khai “Chiến lược quốc gia bảo đảm TTATGT đường bộ đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030” ở tất cả các cấp, các ngành. Hoàn thiện bộ
tiêu chí đánh giá về nhiệm vụ bảo đảm TTATGT.
Tập trung rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, các
quy định, điều kiện kinh doanh vận tải. Bổ sung, sửa đổi, hoàn chỉnh
Luật giao thông đường bộ và các văn bản pháp lý liên quan.
3.2.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật để nâng cao ý thức bộ máy nhà nước, cộng đồng về an toàn
giao thông đường bộ
Khẩn trương thực hiện Đề án “Đổi mới, nâng cao chất lượng
và hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an
toàn giao thông”. Tăng cường các chiến dịch tuyên truyền theo chủ
đề và đối tượng. Thực hiện thường xuyên “Năm an toàn giao
thông”, “Tháng an toàn giao thông” và “Tuần an toàn giao thông”
theo các chuyên đề cụ thể. Chú ý biểu dương gương người tốt, việc
tốt, đi đôi với phê phán, lên án các hành vi cố ý vi phạm, coi thường kỷ
cương, pháp luật về an toàn giao thông. Tham mưu cho cấp ủy, chính
quyền, đoàn thể đưa nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật về
TTATGT vào sinh hoạt định kỳ của chi bộ đảng, đoàn thể, tổ chức
chính trị - xã hội; gắn việc xây dựng “văn hóa giao thông” vào nội
dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
khu dân cư”.
3.2.3 Hoàn thiện tổ chức bộ máy thực hiện quản lý nhà nước về
19
Đầu tư cải tạo điều kiện an toàn giao thông của kết cấu hạ tầng
giao thông. Trước mắt tập trung cải tạo các đoạn tuyến quốc lộ theo
các giải pháp đề xuất của chương trình đánh giá an toàn giao thông
đường bộ quốc tế; cải tạo, nâng cao các điều kiện an toàn giao thông
của mạng lưới giao thông nông thôn. Ưu tiên xây dựng các tuyến
tránh đô thị. Áp dụng công nghệ tiên tiến trong công tác tổ chức và
phân làn, phân luồng giao thông, đặc biệt là ở các nút giao, chú trọng
làn đường dành riêng cho xe buýt.
3.2.6 Nâng cao công tác quản lý phương tiện và người điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ
Tiếp tục thực hiện Đề án “Nâng cao chất lượng công tác đăng
kiểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và phương tiện thủy
nội địa góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông và ô nhiễm môi
trường”. Quản lý công tác kiểm định, nâng cao chất lượng an toàn kỹ
thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới. Thực hiện kiểm soát an
toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe mô tô, xe gắn máy đang lưu
hành. Mở rộng kiểm định phương tiện cơ giới đường bộ cho những
vùng sâu, vùng xa. Tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra các
trung tâm đào tạo, sát hạch cấp giấy phép.
3.2.7 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong
hoạt động an toàn giao thông đường bộ
Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm được tăng cường theo
hướng phân cấp, phân công thẩm quyền, trách nhiệm cho cơ quan
cấp giấy phép trong việc đảm bảo an toàn hàng hải, hàng không, thủy
nội địa, đường bộ và đường sắt (trong đó gắn việc cấp giấy phép với
việc thực hiện kiểm tra thực tế hoạt động của người được cấp giấy
phép đó).
giải pháp khắc phục kịp thời nhằm siết chặt kỷ cương, trật tự trong
công tác quản lý an toàn giao thông, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt
hại về người và của khi tham gia giao thông, việc lựa chọn đề tài này
của tác giả không chỉ có tính ứng dụng trong thực tế công tác quản lý
nhà nước của Bộ Giao thông vận tải (quản lý người lái, phương tiện,
vận tải, kết cấu hạ tầng giao thông, nâng cao ý thức của người tham
gia giao thông ...) mà còn góp phần quan trọng trong định hướng
“sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”
tại các kỳ Đại hội Đảng mà gần đây nhất là Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ XII.
Từ những phân tích, trình bày, bình luận của mình, tác giả đã
cố gắng giúp cho người đọc hình dung bức tranh khái quát nhất về
tình hình đảm bảo trật tự an toàn giao thông của nước ta và từ đó, với
chức năng là Bộ chủ quản về công tác đảm bảo trật tự an toàn giao
thông, Bộ Giao thông vận tải cần sớm đưa ra các chính sách phù hợp
từ việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, ban hành cơ
chế chính sách, đề án, kế hoạch, quy hoạch … nhằm giúp xây dựng
khung hành lang pháp lý tốt nhất cho công tác có tính xã hội cao như
lĩnh vực giao thông vận tải.
Trong phạm vi Luận văn của mình, tác giả không thể đề cập
sâu, tổng quát hết các vấn đề, các mặt của công tác đảm bảo an toàn
giao thông xuất phát từ chức năng quản lý nhà nước của Bộ Giao
thông vận tải nên rất mong nhận được sự góp ý, đánh giá, ý kiến
hoàn thiện của các thầy cô giáo, các bạn để tác giả hoàn thiện hơn
nữa đề tài nghiên cứu của mình.
22