1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Thanh Hóa là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, nằm trên tuyến
đường quốc lA có vị trí địa lý thuận lợi và nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú, đa dạng. Với thế mạnh đó, Thanh Hóa hướng tới mục tiêu trở
thành một tỉnh công nghiệp vào năm 2020. Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ
XVI khóa XV của tỉnh Thanh Hóa đã xác định “tiếp tục chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh, đưa nền kinh tế phát
triển với tốc độ cao và bền vững, nhanh chóng hội nhập kinh tế khu vực và
quốc tế”1 là nhiệm vụ chủ yếu và trọng tâm của tỉnh trong giai đoạn 2006 2010.
Tuy nhiên để giải quyết được nhiệm vụ này, ngoài việc phải phát huy
tối đa các thế mạnh của mình, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thanh Hóa cần phải
có sự đánh giá khách quan và nhìn nhận đúng đắn về quá trình chuyển cơ cấu
lao động của tỉnh nhà. Thông qua đó tạo ra những cú hích đúng nhằm tác
động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động để tạo ra một cơ cấu mới hợp
lý hơn. Vì một cơ cấu lao động không hợp lý sẽ làm nảy sinh các vấn đề tác
động tiêu cực và cản trở đến phát triển kinh tế xã hội như: thất nghiệp, khoảng
cách giàu nghèo, mất cân đối, bình đẳng trong xã hội. Mặt khác, quá trình
chuyển dịch cơ cấu lao động với xu hướng tăng số lao động trong ngành xây
dựng và dịch vụ, đồng thời giảm lực lượng lao động trong ngành nông, lâm và
ngư nghiệp sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và
hiện đại hóa, tạo điều kiện để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, chính
1
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI
2
Phạm vi nghiên cứu: Tỉnh Thanh Hóa.
Đối tượng nghiên cứu:
- Tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thanh Hóa trong 5 năm
qua
- Số lượng và chất lượng lực lượng lao động tỉnh Thanh Hóa các năm
2001,2002,2003,2005.
- Số lượng lao động làm việc trong các ngành kinh tế, các thành phần
kinh tế và tình trạng việc làm của họ từ năm 2001 đến năm 2005.
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp thống kê,
phương pháp phân tích theo mô hình toán, phương pháp đánh giá và
dự báo, phương pháp tổng hợp.
4. Kết cấu của đề tài.
Chương I : Tính tất yếu và sự cần thiết của quá trình chuyển dịch cơ cấu
lao động.
Chương II: Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh Thanh
Hóa trong giai đoạn 2000 – 2005.
Chương III: Một số giải pháp để nhằm thực hiện quá trình chuyển dịch cơ
cấu lao động hợp lý ở tỉnh Thanh Hóa
4
PHẦN NỘI DUNG
Chương I
KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN
DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG
1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu lao động
1.1. Lực lượng lao động
Theo Điều tra Lao động - Việc làm hằng năm thì khái niệm lực lượng
cho những người đang làm việc trong tuần điểu tra.
Lao động thiếu việc làm là những người không tự nguyện làm ít thời
gian hơn số giờ quy định cho công việc của mình, họ đang tìm việc làm và
sẵn sàng làm thêm việc trong thời kỳ điều tra. Họ phải thỏa mãn 3 tiêu chuẩn
dưới đây:
i.
Muốn làm việc thêm giờ, có nghĩa là muốn làm bổ xung thêm
công việc khác so với công việc hiện tại để tăng thêm tổng số giờ
làm việc của mình; thay thế công việc hiện tại của mình bằng
công việc khác với giờ làm việc được tăng thêm; tăng thêm giờ
làm việc của công việc hiện tại; hay kết hợp những khả năng kể
trên.
ii.
Có khả năng làm thêm giờ, có nghĩa là đã sẵn sàng làm thêm giờ
trong thời gian tiếp khi có cơ hội làm thêm.
iii.
Làm việc ít hơn ngưỡng dưới của thời giờ làm việc.
Điều tra Lao động - Việc làm 2004 - 2005, tiêu chí xác định người
thiếu việc làm là những người làm việc dưới 8h trong tuần hoặc làm việc dưới
35h trong tuần và có nhu cầu làm thêm giờ.
Thất nghiệp được xác định bao gồm tất cả những người từ đủ 15 tuổi
trở lên trước tuần lễ điều tra được xác định như sau:
i.
dịch cơ cấu lao động thì ta xem xét khái niệm này dưới 2 góc độ khác nhau
nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Thứ nhất, cơ cấu lao động xét về mặt quy mô và chất lượng lao động
tức là mặt “cơ cấu cung lao động” được phân chia theo các chỉ tiêu phản ánh
cơ cấu (tỷ lệ) số lượng và chất lượng nguồn lao đông. Bao gồm:
2
Từ điển tiếng Việt – NXB Khoa học Xã hội năm 1994 tr 215 - 216
Giáo trình phân tích Lao động Xã hội – NXB Lao động Xã hội 2002 tr 31
4
Đề tài “ Các căn cứ lý luận và thực tiễn để tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao
động nông thôn” – Viện Khoa học Lao động và Xã hội
3
7
Cơ cấu số lượng lao động:
- Dân số trong độ tuổi lao động.
- Dân số không hoạt động kinh tế thường xuyên.
- Dân số hoạt động kinh tế thường xuyên (lực lượng lao động).
Cơ cấu chất lượng lực lượng lao động:
- Lao động chia theo trình độ văn hóa
- Lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật.
- Lao động chia theo độ tuổi.
Thứ hai, cơ cấu lao động xét về mặt phân công lao động xã hội tức là cơ
cấu cầu lao động, phản ánh tình trạng việc làm và nhu cầu sử dụng lao động
trong các ngành, các thành phần kinh tế. Cơ cấu cầu lao động được biểu thị
qua cơ cấu lao động có việc làm, thiếu việc làm và cơ cấu thất nghiệp trong
trình phân phối, bố trí lao động theo những quy luật, những xu hướng
tiến bộ, nhằm mục đích sử dụng đầy đủ và có hiệu quả cao các nguồn
nhân lực để tăng trưởng và phát triển”6
Ở Việt Nam chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra trên cơ sở quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
5
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới dịch chuyển lao động nông thôn Việt Nam – Viên Lao động Khoa học
và Xã hội
6
Ts. Nguyến Ngọc Sơn, Chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005. Tạp
chí Kinh tế và dự báo số 2(3/2006)
9
nhập kinh tế quốc tế, nhằm mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội,
nâng cao năng suất lao động, tạo nhiều việc làm và cải thiện đời sống nhân
dân. Do đó có thể coi chuyển dịch cơ cấu lao động là cách mạng trong phân
công lại lao động với mục tiêu và xu hướng là tăng tỷ lệ lao động kỹ thuật, có
trình độ tay nghề, lao động làm việc trong các ngành công nghiệp và dịch vụ
và giảm tỷ lệ lao động giản đơn, thiếu chuyên môn, lao động làm việc trong
ngành nông, lâm, ngư nghiệp.
Theo đó chuyển dịch cơ cấu lao động được biều hiện thông qua sự dịch
chuyển trong cơ cấu cung lao động (là sự dịch chuyển theo hướng thay đổi cơ
cấu phân chia theo các chỉ tiêu số lượng và chất lượng lao động đáp ứng yêu
cầu của sản xuất và thị trường lao động) và cơ cấu cầu lao động ( là sự dịch
chuyển cơ cấu lao động đang làm việc phân chia theo các ngành/ khu vực
kinh tế, vùng lãnh thổ, thành phần kinh tế, dạng việc làm). Quá trình chuyển
dịch cơ cấu lao động chính là quá trình đổi mới tình trạng phân công lao động
A (B,C)
=
Giá trị trong GDP của cấu
phần A (B,C)
Tổng giá trị của toàn bộ nền
kinh tế
Vậy cơ cấu kinh tế phụ thuộc vào giá trị GDP của từng cấu phần so với
tổng giá trị GDP của toàn nền kinh tế. Do đó cơ cấu kinh tế sẽ phụ thuộc vào
số lượng và năng suất lao động hoạt động theo các cấu phần đó. Vì vậy khi có
sự dịch chuyển trong cơ cấu cung lao động sẽ dẫn đến sự dịch chuyển cơ cấu
kinh tế.Mặt khác sự dịch chuyển của cơ cấu kinh tế lại quyết định tới sự thay
7
Đề tài “ Các căn cứ lý luận và thực tiễn để tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao
động nông thôn” – Viện Khoa học Lao động và Xã hội
11
đổi của cơ cấu cầu lao động. Khi cơ cấu kinh tế thay đổi thì cơ cấu cầu lao
động sẽ thay đổi theo.
Do vậy mà giữa sự chuyển dịch cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác
động mạnh như một yếu tố tạo cầu cho lao động phi công nghiệpvà sẽ kéo
theo quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Đến lượt mình sự chuyển dịch cơ
cấu lao động có tính độc lâp tương đối và tác động trở lại tới khả năng thay
đổi nhanh hay chậm của cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, giữa cơ cấu kinh tế và cơ
cung lao động, hạn chế lực lượng lao động có trình độ thấp tìm được các công
việc có thu nhập cao và phù hợp.
2.3. Các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội.
Ổn định kinh tế, chính trị, xã hội là yếu tố ảnh hưởng mạnh tới sự
chuyển dịch cơ cấu lao động. Một cú sốc về kinh tế sẽ kéo theo tình trạng mất
việc làm, giảm thu nhập, và khi đó người lao động phải tìm kiếm công việc
mới. Dẫn đến quan hệ giữa lao động có việc làm và thất nghiệp thay đổi. Lực
lượng lao động thất nghiệp tăng lên và số lao động có việc làm thường xuyên
sẽ giảm xuống. Mặt khác sự thay đổi tiêu dùng của dân cư sẽ dẫn đến sự thay
đổi cầu một loại sản phẩm đang được sản xuất, sẽ làm thay đổi cầu lao động.
Vì khi nhu cầu tiêu dùng của khách hàng về một loại hàng hóa nào đó tăng,
tức là cầu sản phẩm tăng, làm cho giá trị sản phẩm có xu hướng tăng, giá trị
sản phẩm biên tăng mặt khác cần phải sản xuất ra khối lượng sản phẩm đó
nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu của thị trường nên phải thu hút thêm lao động
vào sản xuất sản phẩm đó, do vậy mà người chủ sẽ quyết định thuê lao động.
Dẫn đến cơ cấu cầu lao động giữa các ngành, nghề sẽ thay đổi.
13
Các chương trình phúc lợi xã hội, các chế độ, chính sách, quy định của
nhà nước cũng làm tăng chất lượng lựclượng lao động. Nâng tỷ lệ lực lượng
lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật lên và đồng thời giảm lao động
chưa qua đào tạo xuống, làm thay đổi quan hệ về mặt chất lượng lao động
Mặt khác với các chính sách như giảm mức sinh, khuyến khích kế hoạch hóa
gia đình, quy đinh độ tuổi lao động sẽ làm cho cung lao động giảm về số
lượng và tỷ lệ lực lượng lao động trẻ trong toàn bộ cung lao động sẽ giảm
xuống. Điều này là nguyên nhân dẫn đến thay đổi cơ cấu lực lượng lao động
theo độ tuổi. Tuy nhiên các chính sách như quy định về bảo đảm việc làm cho
người lao động, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chính sách quy
thể chọn đầu tư nhiều vào vốn và công nghệ hoặc đầu tư thuê thêm lao động,
điều này làm thay đổi cầu lao động trên thị trường lao động.
2.5. Xu hướng toàn cầu hóa và hôi nhập
Toàn cầu kinh tế là sự lưu chuyển ngày càng tự do hơn và nhiều hàng
hóa, vốn, công nghệ và lao động vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Toàn cầu
hóa kinh tế cho phép mỗi quốc gia thu hút một lượng vốn và lao động lớn vào
sản xuất đồng thời tìm kiếm những thị trường tiêu thụ nhiều tiềm năng. Do đó
mà nhu cầu về lao động cũng tăng lên, lượng lao động làm việc trong khu vực
kinh tế tư nhân, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ ngày càng cao.
Mặt khác toàn cầu hóa tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia nhưng
cũng không ít thách thức, nó làm cho cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia
ngày càng quyết liệt hơn. Đối với các nhóm lao động yếu thế sẽ gặp phải vấn
đề mất việc làm, bị sa thải và không có thu nhập trong bối cảnh toàn cầu hóa
này. Vì vậy mà lực lượng lao động thất nghiệp sẽ có thể gia tăng và chủ yếu
là ở những lao động thiếu trình độ chuyên môn. Toàn cầu hóa còn cho phép
15
sự di chuyển của lao động, trao đổi công nghệ giữa các quốc gia. Và vì vậy
mà năng xuất lao động xã hội tăng, đồng thời quy mô, cơ cấu lao động ở mỗi
quốc gia sẽ thay đổi cùng với quá trình xuất khẩu lao động.
Toàn cầu hóa là yếu tố tác động mạnh đến xu thế và tốc độ chuyển dịch
cơ cấu lao động. Một mặt toàn cầu hóa kích thích năng cao chất lượng lao
đông để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, mặt khác nó
tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của một số ngành nghề mới ( tạo
thêm nhiều việc làm ), trong đó những ngành nghề sử dụng công nghệ sẽ thu
hút nhiều lao động nhất.
2.6. Trình độ phát triển của nền kinh tế
chính người dân thì phải áp dụng những tiến bộ khoa học vào nông, lâm, ngư
nghiệp nhằm tăng năng suất lao động trong các ngành này. Từ đấy thúc đẩy
lao động tiếp cận và học hỏi những ứng dụng khoa học kỹ thuật. Mặt khác khi
lao động được thu hút vào các ngành công nghiệp dịch vụ thúc đẩy sản xuất
chế biến nông, lâm, thủy sản tăng giá trị đầu ra cho sản phẩm nông, lâm ngư
nghiệp. Đồng thời tăng lao động trong các ngành công nghiệp nhẹ như may
mặc, da giầy, điện tử- tin học, và một số ngành tiểu thủ công nghiệp tạo ra cơ
sở vật chất thế mạnh để phát triển nghiên cứu và ứng dụng khoa học công
nghệ, tăng sức cạnh tranh sản phẩm nội địa với sản phẩm nước ngoài.
Chuyển dịch cơ cấu lao động sẽ giải quyết được các vấn đề tăng tiền
công, thu nhập và mức sống. Lao động chuyển từ việc làm có năng suất và
hiệu quả thấp sang việc làm có năng suất và hiệu quả lao động cao thì họ sẽ
17
thu được nhiều lợi nhuận hơn, do đó mà mức thu nhập của họ sẽ tăng lên nên
người lao động sẽ có điều kiện để cải thiện mức sống.
Chuyển dich cơ cấu lao động còn ảnh hưởng đến cơ cấu lực lượnglao
động thất nghiệp. Vì trước đây đại bộ phận lao động nông thôn đều làm việc
trong khu vực nông nghiệp nên ai cũng có cơ hội để làm một công việc gì
đó( cho dù việc làm đó có hiệu quả thấp) cũng như khả năng chia sẻ việc làm
với nhau ( trong hộ gia đình) tương đối dễ dàng nên không có tình trạng
người lao động hoàn toàn không có việc làm. Chính vì thế mà tỷ lệ lao động
thiếu việc làm cao. Nhưng sau khi quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
được hoàn tất thì tình trạng thiếu việc làm sẽ mờ dần và biến mất thay vào đó
sẽ xuất hiện một bộ phận hoàn toàn không có việc làm và trở thành thất
nghiệp. Do vậy mà tỷ thất nghiệp hữu hình sẽ tăng lên.
Ngoài ra chuyển dịch cơ cấu lao động còn làm tác động đến đào tạo
nghề và tạo việc làm cho người lao động. Lực lượng lao động sẽ có nhu cầu
1. Đặc điểm của Thanh Hóa.
1.1. Điều kiện tự nhiên.
Thanh hóa nằm ở cực Bắc Miền Trung, cách Thủ đô Hà Nội 150 km về
phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km. Phía Bắc giáp với ba tỉnh
Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình, phía Nam giáp với tỉnh Nghệ An, phía Tây
giáp với Lào, phía Đông là Vịnh Bắc Bô.
Thanh Hóa nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế
Trung bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng
điểm trọng điểm kinh tế Trung Bộ. ở hệ thống giao thông thuận lợi như:
đường sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A,10, 45, 47, 217…
Cảng biển nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận tiện cho lưu thông
Bắc Nam, với các vùng trong tỉnh và đi quốc tế.
Địa hình Thanh Hóa rất phức tạp, vùng núi và Trung du có diện tích đất
tự nhiên 869.037ha, chiếm 75,44% diện tích toàn tỉnh thuận lợi cho việc trong
việc khai thác tài nguyên gỗ, trồng rừng và nuôi giữ các loài động vật quý
hiếm. Vùng đồng bằng có diện tích đất tự nhiên là 162.341 ha, chiếm 14,61%
diện tích toàn tỉnh, được bổi tụ bởi các hệ thống Sông Mã, sông Yê và sông
Hoạt. Ngoài ra vùng ven biển Thanh Hóa có diện tích 110.655 ha, chiếm
20
9,95% diện tích toàn tỉnh, với bờ biển dài 102 km, địa hìn tương đối bằng
phẳng. Chạy dọc theo bờ biển là các cửa sông. Vùng đất cát ven biển có độ
cao trung bình 3 - 6m có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng và các khu nghỉ mát khác
như Hải Tiến (Hoằng Hóa) và Hải Hòa (Tĩnh Gia) ..; có những vùng đất đai
rộng lớn thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản và phát triển các khu công
nghiệp, dịch vụ kinh tế biển.
Thanh Hóa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt,
Mạng lưới cung cấp điện của Thanh Hóa ngày càng được tăng cường
cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo cung cấp điện ổn định cho sản xuất và
sinh hoạt. Hiện tại điện lưới quốc gia đã có 508 km đường dây điện cao thế;
3.908 km đường điện dây trung thế, 4.229 km đường dây hạ thế; 9 trạm biến
áp 110/35/6 -10 kv; 38 trạm trung gian; 2.410 trạm phân phối. Năm 2005,
điện năng tiêu thụ trên 1,2 triệu Kwh. Đến nay, 27/27 huyện, thị, thành phố
với 94% số xã phường và 91% số hộ được dung điện lưới quốc gia.Tiềm
năng phát triển thủy điện tương đối phong phú và phân bố đều trên các sông
với công suât gần 800 MW.
Hệ thống bưu chính viễn thông
Trong những năm qua, hệ thống bưu chính viễn thông của Thanh Hóa
đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc thông tin liên lạc trong tỉnh, trong nước và quốc tế với các
phương thức hiện đại như telex, fax, internet. Hiện nay, có 598/636 xã
phường thị trấn có điện thoại, đạt tỷ lệ 94%; mạng di động đã phủ sóng được
26/27 huyện, thị, thành phố. Tốc độ phát triển máy diện thoại hằng năm tăng
22
nhanh, năm 2005 đạt bình quâ 5,9 máy điện thoại / 100 người dân, tháng 6
năm 2006 đạt 8,69 máy điện thoại/ 100 dân.
Hệ thống cấp nước
Hệ thống cung cấp nước ngày càng được mở rộng, đáp ứng yêu cầu cho
sinh hoạt và sản xuất, nhất là khu vực thành phố, thị xã, thị trấn và các khu
công nghiệp. Nhà máy nước Mật Sơn và Hàm Rồng với công suất 30.000 m 3/
ngày đêm, đang chuẩn bị mở rộng lên 50.000 m 3/ ngày đêm đảm bảo cấp
nước sạch đủ cho thành phố Thanh Hóa, thị xã Sầm Sơn và các khu công
nghiệp Lễ Môn, Đình Hương. Tỉnh đang áp dụng triển khai xây dựng nhà
quân hằng năm 10,5% và tăng 51% so với thời kỳ 1996 - 2000( 5
năm 1996 - 2000 đạt 14,635 tỷ đồng).
- Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn liên tục tăng qua các năm,
năm 2005 đạt 1.329 tỷ đồng, tăng trung bình hằng năm 22,8%.
- Giảm tỷ lệ sinh hằng năm 0,75%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm
2005 là 1,045%.
- Tháng 6 năm 2006 có 624 xã, phường, thị trấn(98%) được công
nhân hoàn thành phổ cập trung học cơ sở.
24
- Tỷ lệ hộ nghèo đói năm 2005 giảm xuống còn 10,56%
- Tỷ lệ lao động được giải quyết việc làm trong 5 năm 190.200 người;
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm hằng năm khoảng 2%,
năm 2005 còn 3,24%
- Tỷ lệ dân số nông thôn được dung nước sạch (nước hợp vệ sinh)
năm 2005 đạt 80%.
Tình hình phát triển các nghành, lĩnh vực và các vùng các miền.
- Nông, lâm, ngư nghiệp
Phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với việc khai thác tiềm
năng thế mạnh của từng vùng kinh tê. Sản lượng lương thực đạt kết quả khá
toàn diện, sản lượng bình quân đạt 1,45 triệu tân/ năm; đã hình thành được
một số vùng cây công nghiệp cung cấp nguyên liệu chế biến cho các nhà máy
và xuất khẩu như: mía 32.000ha, lạc 18.000ha, cói 4.000ha, cao su 4.000ha.
Chăn nuôi phát triển theo mô hình trang trại; các dự án phát triển đàn lợn nạc,
cải tạo tầm vóc đàn bò, chăn nuôi bò sữa triển khai có hiệu quả; tỷ trọng giá
trị sản xuất ngành chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp ngày càng
tăng; năm 2005 đạt 28% (năm 2000 là 17,3 %)
- Thương mại, dịch vụ
Các dịch vụ về vận tải được tăng cường, với việc đưa bến xe số 1, số 2
cảng Nghi Sơn đi vào hoạt động đã mở ra cơ hội phát triển dịch vụ vận tải