BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
--------
NGUYỄN THỊ ÚT
VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG
VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở TỈNH AN GIANG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
--------
NGUYỄN THỊ ÚT
VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN TRONG
VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở TỈNH AN GIANG HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số
: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN THỊ ÚT
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH –HĐH: công nghiệp hóa-hiện đại hóa
ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long
GDP: Gross Domestic Product
KHXH&NV: Khoa học Xã hội và Nhân văn
MTQG: Mục tiêu quốc gia
NTM: Nông thôn mới
Nxb: Nhà xuất bản
R&D: research & development
TP: Thành phố
UBND: Uỷ ban nhân dân
VBARD: Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development
VBSP: Vietnam Bank for Social Policies
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu ..................................................................................................... 3
3. Mục đích nghiên cứu .................................................................................................. 5
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ............................................................................ 5
5. Giả thuyết khoa học .................................................................................................... 5
2.2.1. Mâu thuẫn giữa quy hoạch và quản lý ........................................................ 56
2.2.2. Mâu thuẫn giữa khả năng và hiện thực ....................................................... 60
2.2.3. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế nông thôn với tính bền vững về kinh
tế, xã hội và môi trường .............................................................................. 62
2.2.4. Mâu thuẫn trong cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình,
dự án và đặc thù từng địa phương ............................................................. 63
2.3. Giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình xây
dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang giai đoạn hiện nay ..................... 67
2.3.1. Giải quyết mâu thuẫn giữa quy hoạch và quản lý ..................................... 67
2.3.2. Giải quyết mâu thuẫn giữa khả năng và hiện thực. ................................... 69
2.3.3. Giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế nông thôn với tính bền
vững về kinh tế, xã hội và môi trường ....................................................... 71
2.3.4. Giải quyết mâu thuẫn trong cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các
chương trình, dự án và đặc thù từng địa phương .................................... 74
Tiểu kết chƣơng 2 .............................................................................................................. 76
KẾT LUẬN
................................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 79
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (dưới đây gọi tắt
là quy luật mâu thuẫn) là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy
vật, là hạt nhân của phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng suy cho cùng
là biện chứng về những mâu thuẫn. Do tầm quan trọng của nó mà Lênin đã
xem lý luận về sự thống nhất của các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện
chứng. Bởi lẽ, nó vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của
diện tích tự nhiên 3.506 km2, với dân số khoảng 2,1 triệu người; là tỉnh đông
dân nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; kinh tế chủ yếu là nông nghiệp
[55]. Phong trào xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang đã, đang tạo được
sự lan tỏa rộng rãi và ngày càng huy động được nhiều nguồn lực trong xã hội,
bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng
nông thôn mới tất yếu nảy sinh nhiều mâu thuẫn cần phải được giải quyết bởi
đó là thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam nói chung, với một tỉnh
mà đời sống người dân còn nhiều khó khăn như An Giang nói riêng. Xác định
đúng các mâu thuẫn để từ đó đề ra những giải pháp thích hợp nhằm giải quyết
mâu thuẫn trong quá trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa vô cùng quan
trọng, là yêu cầu khách quan và tất yếu.
Chính vì lý do trên mà tôi chọn đề tài: “Vận dụng quy luật mâu thuẫn
trong việc xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang hiện nay’’ làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình. Tôi hy vọng việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm
sáng tỏ thêm lý luận về mâu thuẫn và những vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong
thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang, cũng như việc vận dụng
các biện pháp giải quyết mâu thuẫn nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở An Giang nói
riêng và của cả nước nói chung.
2
2. Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề quy luật mâu thuẫn, về nông nghiệp, nông thôn cũng như về
xây dựng nông thôn mới luôn được quan tâm sâu sắc, thể hiện và phát triển cả
về lý luận - thực tiễn ở những góc độ khác nhau và đã có những thành tựu
nhất định. Đồng thời đây là một trong những vấn đề nhận được nhiều sự quan
tâm của các nhà nghiên cứu, các học giả từ Trung ương đến địa phương. Mỗi
công trình đó đều tiếp cận và nghiên cứu về quy luật mâu thuẫn cũng như về
mới và một số nhân tố chính của mô hình nông thôn mới. Công trình nghiên
cứu về “Xây dựng nông thôn mới – bước đi vững chắc cho quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Đồng bằng Sông Cửu Long”
[32] của PGS.TS Võ Văn Thắng và ThS. Huỳnh Thanh Hiếu đã chỉ ra được
những thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng nông thôn mới ở ĐBSCL
trong những năm qua và đánh giá quá trình thực hiện chủ trương xây dựng
nông thôn mới ở ĐBSCL trong những năm gần đây. Nguyễn Thị Thanh
Huyền: “Hiệu quả của phong trào cả nước chung sức xây dựng nông thôn
mới” [25], tác giả chỉ ra những cách làm hay, sáng tạo và mang lại hiệu quả
thiết thực. Đồng thời, qua các hoạt động thực tiễn rút ra một số kinh nghiệm.
Công trình nghiên cứu của Phạm Xuân: “Xây dựng nông thôn mới: Những
thuận – nghịch đặt ra tại Đắk Lắk” [66], tác giả đã chỉ ra được những khó
khăn, vướng mắc trong quá trình xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải kịp
thời tháo gỡ.… và nhiều bài viết của các tác giả khác đăng trên các tạp chí
Triết học, tạp chí Cộng sản.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu và bài viết đã công bố tuy có
nhiều nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về quy luật mâu thuẫn, sự vận dụng
vào thực tiễn và về xây dựng, phát triển nông thôn mới. Tuy nhiên, chưa có
công trình nào nghiên cứu về những mâu thuẫn trong xây dựng nông thôn mới
cũng như việc vận dụng quy luật mâu thuẫn trong xây dựng nông thôn mới ở
tỉnh An Giang.
4
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở làm rõ những mâu thuẫn trong quá
trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang, qua đó đề xuất các giải pháp
chủ yếu nhằm giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình xây dựng nông thôn
mới ở tỉnh An Giang giai đoạn hiện nay.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng, phương pháp phân tích và tổng hợp, duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác - Lênin, phương pháp lôgíc và lịch sử; phương pháp thống kê và hệ
thống hóa…
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.
10. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của đề tài
10.1. Những luận điểm cơ bản
Từ mục đích nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn tập trung chủ yếu
vào một số luận điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất: Xây dựng nông thôn mới là quá trình lâu dài, liên tục theo
định hướng của Đảng, Nhà nước; được thực hiện trên cơ sở vừa cải tạo, vừa
xây dựng, vừa kế thừa những thành tựu, truyền thống và bản sắc văn hóa tốt
đẹp trong nông thôn những năm qua, vừa hình thành những giá trị mới theo
hướng văn minh, hiện đại.
- Thứ hai: Vận dụng phù hợp quy luật mâu thuẫn trong quá trình xây
dựng nông thôn mới ở An Giang hiện nay để tạo bước đột phá mới nhằm
nâng cao thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
10.2. Đóng góp mới của đề tài
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các đề tài, đề án về xây dựng
nông thôn mới ở địa phương hoặc nơi khác.
6
- Công cuộc xây dựng nông thôn mới đang diễn ra đồng bộ trên phạm
vi cả nước. An Giang cũng đang bắt tay vào xây dựng mô hình nông thôn mới
theo bộ tiêu chí của Nhà nước. Vì vậy mà đề tài chỉ ra những hạn chế, khó
phép biện chứng [65, tr.378].
8
Trong phép biện chứng, khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ các mối liên
hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật,
hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
rước hết mâu thuẫn là hi n tư ng kh ch quan và ph biến.
Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập. Khái niệm mặt đối lập dùng
để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược
nhau, nhưng đồng thời lại là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau. Mỗi sự vật, hiện
tượng có thể có nhiều yếu tố, nhiều mặt,.. cấu thành, nhưng có hai mặt đối lập
cơ bản thống nhất với nhau quyết định kết cấu tạo thành sự vật, hiện tượng.
Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động, chuyển hóa lẫn nhau tạo thành
mâu thuẫn biện chứng.
Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, vì mâu thuẫn tồn tại trong bản
thân sự vật, hiện tượng.
Mâu thuẫn tồn tại phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy (mâu thuẫn
trong tư duy là sự phản ánh mâu thuẫn của hiện thực khách quan). Các mặt
đối lập thống nhất, liên hệ, tác động lẫn nhau, thâm nhập vào nhau, loại trừ
nhau tạo nên sự vận động biện chứng, là nguồn gốc, động lực bên trong của
sự phát triển. Các mặt đối lập thống nhất với nhau, cùng tồn tại đồng thời
trong một sự vật hay giữa các sự vật trong cùng một hệ thống được xác định
trong thời gian, không gian cụ thể.
h hai mâu thuẫn là m t ch nh thể trong đó hai m t đ i lập v a
th ng nhất v a đấu tranh với nhau.
Trong một mâu thuẫn, hai mặt đối lập vừa có quan hệ thống nhất với
nhau, vừa đấu tranh lẫn nhau.
Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràng
căn bản
Sự khác nhau
Hình.1 Quá trình phát triển của một mâu thuẫn.
10
Các
giai
đoạn
phát
triển
Thống nhất và đấu tranh của hai mặt đối lập không tách rời nhau.
Trong đấu tranh của các mặt đối lập vẫn có sự thống nhất, tức chúng vẫn
nương tựa vào nhau, làm tiền đề tồn tại của nhau.
Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển. Điều đó
có nghĩa là sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời; sự đấu
tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối. Việc hình thành, phát triển và giải quyết
mâu thuẫn là một quá trình đấu tranh rất phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn,
mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng của nó:
Giai đoạn hình thành mâu thuẫn, biểu hiện: đồng nhất nhưng bao hàm
sự khác nhau; khác nhau bề ngoài, khác nhau bản chất, mâu thuẫn được
hình thành.
Giai đoạn phát triển của mâu thuẫn, biểu hiện: các mặt đối lập xung đột
thông qua sự tác động lẫn nhau trong quá trình phát triển của chúng. Chính sự
tác động qua lại giữa các sự vật là nguồn gốc của sự vận động của chúng. Mỗi
mâu thuẫn đều bao hàm sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Sự
đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho các sự vật, hiện tượng không thể giữ
nguyên trạng thái cũ, mà liên tục biến đổi. Kết quả đấu tranh giữa các mặt đối
lập là mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới hình thành, sự vật, hiện tượng cũ
được thay thế bằng sự vật, hiện tượng mới. Quá trình này tạo nên sự vận
động, phát triển vô tận của thế giới khách quan, Do đó, sự đấu tranh giữa các
mặt đối lập là nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật.
Về mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập,
Lênin viết: “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các
mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của
các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển sự vận
động là tuyệt đối” [64, tr.379 – 380]. Sự thống nhất của các mặt đối lập có
tính chất tạm thời, thoáng qua, tương đối, cũng như trạng thái đứng im của sự
vật, bởi vì mọi sự vật, hiện tượng cụ thể đều có quá trình phát sinh, phát triển
và tiêu vong để nhường chỗ cho các sự vật, hiện tượng khác cao hơn, hoàn
thiện hơn, mới hơn về chất ra đời.
12
Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối vì: trong mọi sự vật hiện
tượng đều có mâu thuẫn và mâu thuẫn quán xuyến từ đầu đến cuối quá trình
phát triển của sự vật. Tính tuyệt đối của sự đấu tranh của các mặt đối lập nói
lên sự vận động, sự biến đổi liên tục của sự vật, hiện tượng. Đấu tranh của các
mặt đối lập là điều kiện quan trọng nhất, có tính quyết định đối với sự chuyển
hóa của các mặt đối lập.
Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực bên trong của sự
vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
mâu thuẫn cơ bản:
Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài: Mâu thuẫn bên trong là
mâu thuẫn giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính, các quá trình cấu thành
nên sự vật, hiện tượng. Mâu thuẫn này giữ vai trò quyết định sự vận động,
phát triển của sự vật hiện tượng. Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa các
sự vật hiện tượng, hoặc giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính, các quá trình
giữa sự vật, hiện tượng với nhau. Mâu thuẫn này không giữ vai trò quyết định
sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Nó chỉ có tác dụng ảnh hưởng
khi liên hệ được với mâu thuẫn bên trong.
Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản: Mâu thuẫn cơ bản là
mâu thuẫn phát sinh, hình thành, tồn tại cùng sự phát sinh, hình thành, tồn tại
của vật, hiện tượng và giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự
vật hiện tượng. Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn phát sinh, hình thành,
tồn tại cùng sự phát sinh, hình thành, tồn tại của vật, hiện tượng và không giữ
vai trò quyết định mà chỉ ảnh hưởng nhất định đến sự vận động, phát triển của
sự vật hiện tượng.
Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu: Mâu thuẫn chủ yếu là
mâu thuẫn nổi lên hàng đầu và giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển
của sự vật hiện tượng ở mỗi giai đoạn phát triển. Mâu thuẫn không chủ yếu là
mâu thuẫn phát sinh và không giữ vai trò quyết định nhưng gây ảnh hưởng
14
nhất định đến sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng ở mỗi giai đoạn
phát triển.
Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng loại mâu thuẫn
này chỉ có trong lĩnh vực đời sống xã hội : Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn
giữa các giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau. Mâu thuẫn này chỉ được giải
quyết thông qua cách mạng xã hội. Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn
thay đổi toàn bộ hệ thống hoặc thay đổi một số yếu tố của hệ thống. Mỗi mâu
thuẫn lại có những cách giải quyết khác nhau. Phải tìm ra mâu thuẫn cơ bản
và mâu thuẫn chủ yếu và tác động vào đó để đem lại hiệu quả cao. Khi giải
quyết mâu thuẫn phải đặt nó trong mối tương quan với các mâu thuẫn khác
trong hệ thống, không cô lập tách rời nhau. Đồng thời, cần phân biệt đúng vai
trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định để
tìm ra phương pháp tối ưu nhất. Nếu không nhận thức đúng đắn và tìm cách
giải quyết phù hợp sẽ làm cho mâu thuẫn càng trở nên phức tạp và khó giải
quyết hơn.
1.1.2. ầm quan trọng của vi c xâ d ng nông thôn mới trong giai
đoạn hi n na
1.1.2.1. Khái niệm nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới
Khái niệm nông thôn
Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định Theo
Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội
thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính
cơ sở là ủy ban nhân dân xã" [7, tr.1].
Khái niệm nông thôn mới
Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người
dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và
thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản
16
lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.
Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng
được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý
giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu
Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
- Nội dung xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí
Quốc gia được qui định tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ
tướng Chính phủ [35].
- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể
của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định
hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ
trợ và hướng dẫn. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở
thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.
- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục
tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác
đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực
cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành
phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư.
- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh);
có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch trên cơ sở
các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành).
- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính
quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ
chức thực hiện; Hình thành cuộc vận động “toàn dân xây dựng nông thôn mới"
do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng
lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới.
18