Phát triển kinh tế nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh ninh bình - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM TRÀ MY

PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số

: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN MINH YẾN

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn
đầy đủ theo quy định.
Tác giả

Phạm Trà My


MỤC LỤC

GTSX : Giá trị sản xuất
HTX : Hợp tác xã
KT-XH : Kinh tế - xã hội
KH-CN : Khoa học – Công nghệ
NTM : Nông thôn mới
NXB : Nhà xuất bản
UBND : Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
STT

Số Hiệu

Tên bảng

Trang

1

Bảng 2.1

Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2015
theo huyện, thành phố

2

Bảng 2.2

Lao Động đang làm việc phân theo ngành kinh tế


Bảng 2.6

Diện tích, sản lượng cây lương thực có hạt

46

7

Bảng 2.7

Cơ cấu sản xuất trong chăn nuôi

47

8

Bảng 2.8

Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản

48

9

Bảng 2.9

Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo ngành hoạt
động


DANH MỤC BIỀU ĐỒ

STT

Số Hiệu

Tên bảng

Trang

1

Bản đồ 2.1

Bản đồ hành chính của tỉnh Ninh Bình

25

2

Biểu đồ 2.2

Tình hình lao động làm việc phân theo

30

ngành kinh tế


MỞ ĐẦU



16/4/2009) và “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới” tại
quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 6/4/2010 nhằm thống nhất chỉ đạo việc xây
dựng nông thôn mới trên cả nước. Tuy thời gian triển khai thực hiện chương
trình nông thôn mới chưa lâu nên các địa phương, nhất là cấp cơ sở bộc lộ nhiều
lúng túng, vướng mắc trong quá trình chỉ đạo và thực hiện.
Đặc biệt, một trong những định hướng lớn để sớm đạt được mục tiêu cơ
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại là phát triển nông nghiệp
và kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Đây là chủ trương đúng
đắn, phù hợp nhằm nâng cao năng lực sản xuất cũng như đời sống của người dân
nông thôn, nhưng thực tế hiện nay còn đặt ra nhiều khó khăn, thách thức như:
nông nghiệp chưa gắn kết với quá trình xây dựng nông thôn mới, thiếu khoa học
công nghệ vào sản xuất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, lực lượng lao động thiếu kỹ
năng và chất lượng sản phẩm xuất khẩu thấp, sự thay đổi khí hậu, nạn phá rừng
và xói mòn đất...Cùng với cả nước Ninh Bình cũng triển khai thực hiện chương
trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới. Sau 5 năm triển khai chương trình
Ninh Bình đã đạt được một số thành tựu to lớn, tuy nhiên nhiều thành tựu đạt
được chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế của tỉnh. Đó là: nông nghiệp phát
triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học – công nghệ và
đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu
quy hoạch, kết cấu hạ tầng nhưng giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp
nước… còn yếu kém. Để góp phần phát huy tốt những tiềm năng, lợi thế, phát
triển nông nghiệp, từng bước đưa nông thôn phát triển theo hướng bền vững và
hiệu quả tác giả đã chọn đề tài “Phát triển kinh tế nông nghiệp trong xây
dựng nông thôn mới ở tỉnh Ninh Bình” nhằm đánh giá những thuận lợi, khó
khăn, những mặt mạnh, mặt yếu trong phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh
Ninh Bình gắn với chương trình nông thôn mới để có căn cứ khoa học đưa ra
giải pháp đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp tại tỉnh Ninh Bình
trong thời gian tới.

đã nêu bật thực trạng các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay,
những thành tựu cũng như những khó khăn vướng mắc trong quá trình xây dựng
và phát triển, trong đó các vấn đề về kinh tế - xã hội nông thôn như thu nhập và
khả năng tích lũy, điều kiện sống của các hộ nông dân; các tổ chức xã hội, quan

3


hệ cộng đồng, môi trường làng xã; quan hệ nông thôn với đô thị và công nghiệp
đã được tác giả nghiên cứu và làm rõ.
Những nghiên cứu về vấn đề xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam bước
đầu có các nghiên cứu như:
“Xây dựng nông thôn mới – những vấn đề lý luận và thực tế” do Vũ Văn
Phúc chủ biên do NXB Chính trị quốc gia ấn hành – 2012 là công trình nghiên
cứu rất công phu của tập thể tác giả, ngoài những đánh giá sâu sắc về thực tiễn
xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam công trình còn tập hợp nhiều bài viết
nghiên cứu có giá trị về mặt lý luận chung, kinh nghiệm quốc tế về xây dựng
nông thôn mới để rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Một trong những công trình nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới là:
“Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ chức quản lí mới, bước
đi mới” do Tô Xuân Dân chủ biên, NXB Nông Nghiệp – 2013, đã góp phần
cung cấp những kiến thức cơ bản về nông nghiệp, nông dân, nông thôn mới ở
Việt Nam cho các cán bộ quản lý nông thôn mới ở cơ sở.
Cuốn sách “Xây dựng nông thôn mới – Khảo sát và đánh giá”, Chủ biên
Trần Minh Yến, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội – năm 2013. Nội dung cuốn
sách tập trung vào việc phân tích thực trạng của quá trình xây dựng nông thôn
mới ở nước ta qua việc khảo sát thực tiễn ở một số địa phương. Nêu lên một số
kết quả đạt được, và đặc biệt chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của
những hạn chế, bất cập đó; đồng thời đưa ra một số khuyến nghị về giải pháp
thực hiện xây dựng nông thôn mới ở nước ta trong những năm tới.

và bền vững.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn: Luận văn đi sâu phân tích thực trạng
phát triển kinh tế nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Ninh Bình,
làm rõ mặt tích cực, mặt tồn tại hạn chế, những vấn đề phát sinh trong quá trình
thực hiện, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế để từ đó xác định phương
hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp
trong xây dựng nông thôn mới của tỉnh Ninh Bình.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của quá trình phát
triển kinh tế nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới.

5


- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh
Ninh Bình trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
- Đề xuất các định hướng, mục tiêu và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
kinh tế nông nghiệp theo các tiêu chí của Chương trình nông thôn mới ở tỉnh
Ninh Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề phát triển kinh tế
nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Ninh Bình
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu phát triển kinh tế nông nghiệp trong
quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế nông
nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới từ năm 2011 đến năm 2015 và
đề xuất giải pháp tới năm 2020 cho tỉnh Ninh Bình.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

theo chương trình xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương rút ra những bài
học kinh nghiệm có thể tham khảo cho tỉnh Ninh Bình.
- Phân tích và đánh giá khách quan về thực trạng sau 5 năm thực hiện phát
triển kinh tế theo chương trình xây dựng nông thôn mới (2011-2015) trên địa
bàn toàn tỉnh Ninh Bình theo nội dung, chỉ tiêu đã đề xuất. Chỉ ra những hạn chế
và nguyên nhân của những hạn chế trong phát triển kinh tế theo chương trình
xây dựng nông thôn mới ở Ninh Bình.
- Đề xuất phát triển kinh tế nông nghiệp theo chương trình xây dựng nông
thôn mới ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương.
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông nghiệp
trong xây dựng nông thôn mới
- Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp trong xây dựng
nông thôn mới tại tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011-2015
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế nông
nghiệp trong xây dựng nông thôn mới.

7


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
* Khái niệm về nông thôn
“Nông thôn” là một khái niệm thông dụng, nhưng có nội hàm rộng và có
thể khác nhau ở các quốc gia. Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO),

đoạn này so với giai đoạn trước đó và thường đạt ở mức độ cao hơn cả về lượng
và về chất. Nền nông nghiệp phát triển là nền sản xuất vật chất không những có
nhiều hơn về đầu ra (sản phẩm và dịch vụ) đa dạng hơn về chủng loại và phù
hợp hơn về cơ cấu, thích ứng hơn về tổ chức và thể chế, thỏa mãn tốt hơn nhu
cầu của xã hội về nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp phản ánh các thay đổi cơ
bản trong cơ cấu của nền nông nghiệp, sự thích ứng của nông nghiệp với hoàn
cảnh mới, sự tham gia của người dân trong quản lý và sử dụng nguồn lực, sự
phân bố của cải và tài nguyên giữa các nhóm dân cư trong nội bộ nông nghiệp
và giữa nông nghiệp với các nền kinh tế. Ngoài ra, phát triển nông nghiệp còn
bao hàm cả kinh tế, xã hội, tổ chức, thể chế và môi trường. (GS.TS. Đỗ Kim
Chung và cộng sự - 2008)
* Khái niệm về phát triển kinh tế nông nghiệp
Phát triển kinh tế nông nghiệp có thể hiểu là quá trình tăng tiến cả về chất
và lượng trong sản xuất nông nghiệp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và dự trữ lương
thực và xuất khẩu ra thị trường quốc tế, sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo
hướng tích cực theo định hướng phát triển chung của đất nước, sự thay đổi về tổ
chức và quản lý nhằm giúp nền nông nghiệp thích ứng với cơ chế và hoàn cảnh
trong nước cũng như thế giới. (Th.s Tăng Ngọc Đức – 2012)
* Khái niệm về nông thôn mới
Nông thôn mới là nông thôn mà trong đó đời sống vật chất, văn hóa, tinh
thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa
nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên
tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.

9


Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng
được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa
nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc

mặt tương xứng với đòi hỏi của một nông thôn mới. Trong đó các nội dung cần
phải thực hiện bao gồm:
1.1.2.1 Công tác quy hoạch
Quy hoạch là một công cụ để quản lý sự phát triển của đất nước, thể hiện
tầm nhìn, bố trí chiến lược về thời gian và không gian phát triển một ngành hay
một vùng lãnh thổ.
Trong phát triển kinh tế nông nghiệp, quy hoạch là một công việc quan
trọng của quá trình lập và thực hiện chiến lược phát triển nông nghiệp, nông
thôn. Từ chiến lược tổng thể phát triện kinh tế, xã hội người ta tiến hành xây
dựng quy hoạch phát triển ngành, tiểu ngành cho phù hợp với điều kiện tự nhiên
cũng như điều kiện về kinh tế - xã hội. Quy hoạch ngành cũng đồng thời xác
định các dự án đầu tư ưu tiên trong từng giai đoạn, các dự án đó có ý nghĩa tạo
sự đột phá trong phát triển ngành nông nghiệp. Đồng thời, dựa trên cơ sở phân
tích, dự báo và đánh giá nhu cầu của thị trường, vào lợi thế của mỗi vùng sinh
thái để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách hợp lý.
Công tác quy hoạch nghiên cứu sâu sắc, toàn diện các yếu tố điều kiện tự
nhiên, tình hình phát triển kinh tế - xã hội và khả năng hội nhập kinh tế quốc tế
của địa phương trong điều kiện Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO;
khai thác tiềm năng, đánh giá lợi thế, thách thức, khó khăn để đề xuất quan
điểm, mục tiêu, phương hướng phát triển chung và cụ thể của từng ngành, lĩnh
vực, các khâu đột phá và giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp là quá trình phát triển của
các ngành nông nghiệp dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm
thay đổi mối quan hệ tương tác giữa chúng so với một thời điểm trước đó. Ngày
nay, có thể thấy, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là cách thức ứng xử tích cực để
nông nghiệp tiếp tục tồn tại và phát triển phù hợp trong bối cảnh mới, nhất là
trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong
quá trình xây dựng nông thôn mới, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là quá trình
tạo nên một cơ cấu hợp lý giữa các ngành trong nông nghiệp, có tác dụng phát

nhập kinh tế quốc tế và biến đổi khí hậu đã tạo ra nhiều khó khăn thách thức cho
ngành nông nghiệp. Do vậy cần phải có sự hỗ trợ tích cực của khoa học công
nghệ. Giải pháp của khoa học công nghệ là giải pháp đột phá để tái cơ cấu nông
nghiệp theo hướng xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, hợp lý trên cơ sở

12


khai thác các tiềm năng, lợi thế của các điều kiện tự nhiên cũng như điều kiện
kinh tế - xã hội.
Một trong những mục tiêu của việc ứng dụng khoa học công nghệ trong
chương trình xây dựng nông thôn mới là xây dựng một số mô hình nông thôn
mới trên cơ sở ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ,
từ đó đánh giá hiệu quả để tổ chức nhân rộng, nâng cao nhận thức và trình độ
ứng dụng khoa học công nghệ của doanh nghiệp, người dân và các tổ chức kinh
tế trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Thực hiện chuyển giao các công
nghệ mới, tiên tiến, phù hợp với các vùng miền, tăng hiệu quả sản xuất, góp
phần tăng thu nhập cho nông dân. Đồng thời nghiên cứu, đề xuất các giải pháp
khoa học công nghệ để xây dựng nông thôn mới; xây dựng một số mô hình trình
diễn về nông thôn mới trên cơ sở ứng dụng các thành tựu, giải pháp khoa học
công nghệ như mô hình chuyển đổi hợp tác xã kiểu mới, hoạt động theo Luật
Hợp tác xã năm 2012; mô hình quy hoạch, kiến trúc nông thôn mới; mô hình
phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, mô
hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao kết hợp với cơ giới hóa
nông nghiệp…
1.1.2.5 Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất.
Các hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp hiện nay là
kinh tế hộ nông dân, trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã. Các hình thức tổ chức sản
xuất này có mối liên hệ với nhau và có xu hướng vận động qua từng thời kỳ phát
triển của xã hội, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển.

Mô hình “cánh đồng mẫu lớn” đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Đó
là: - Tăng năng suất, chất lượng và sản lượng lúa hàng hóa với khối lượng lớn,
tạo điều kiện thuận lợi tham gia thị trường lúa gạo; - Giảm, tiết kiệm chi phí sản
xuất thông qua áp dụng cơ giới hóa, kỹ thuật canh tác phù hợp, từ đó hạ giá
thành sản phẩm, tăng thu nhập cho người sản xuất lúa; - Góp phần bố trí lại lao
động sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp tại HTX và giải phóng một phần
lao động chuyển sang ngành nghề khác để tạo ra sản phẩm mới, thu nhập mới
cho nông dân; - Cũng cố và mở rộng mối liên kết ngang giữa nông dân với nông
dân thông qua tổ chức kinh tế hợp tác, giữa nông dân với doanh nghiệp…
1.1.2.7. Vai trò của các chủ thể trong phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với
nông thôn mới

14


Để thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp trong xây dựng nông thôn
mới đòi hỏi phải có sự vào cuộc của các thành phần
- Vai trò của nhà nước:
+ Lãnh đạo, chỉ đạo định hướng cho phát triển nông nghiệp
+ Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển của từng vùng, từng địa
phương trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn.
+ Ban hành cách chính sách tạo điều kiện cho phát triển như: Chính sách
về khoa học công nghệ, tín dụng, đào tạo nghề, tiêu thụ hàng hóa, thu hút doanh
nghiệp đầu tư vào nông nghiệp.
- Vai trò của người dân: là chủ thể trong phát triển nông nghiệp gắn với
xây dựng nông thôn mới.
+ Tham gia đóng góp vào xây dựng kế hoạch của địa phương
+ Thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao.
+ Áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất
+ Đầu tư vốn cho phát triển


Qi:

Khối lượng của sản phẩm thứ i

Pi:

Đơn giá thực tế bình quân thời kỳ báo cáo của từng sản
phẩm thuộc nhóm sản phẩm thứ i

+ Tính theo giá so sánh; Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
theo giá so sánh có thể tính theo 2 phương pháp:
- Phương pháp tính xác định giá trị trực tiếp từ giá và lượng
Công thức tính: GTSXssi = Qi x Pi;
Trong đó:
GTSXssi:

Giá trị sản xuất của nhóm sản phẩm thứ i theo giá so sánh

Qi:

Khối lượng của sản phẩm thứ i

Pi:

Đơn giá thực tế bình quân kỳ gốc so sánh của từng sản phẩm
thuộc nhóm sản phẩm thứ i

- Phương pháp chỉ số giá
Công thức tính:

N:

Năng suất lao động nông nghiệp (triệu đồng/lao động)

Năng suất lao động nông nghiệp là tiêu chí phản ánh hiệu quả việc sử
dụng lao động và khả năng áp dụng KHKT trong sản xuất nông nghiệp. Hoạt
động sản xuất nông nghiệp cần nhiều sức lao động của con người, nhưng giá trị
tạo ra lại không cao nên năng suất lao động nông nghiệp thường thấp hơn nhiều
so với các ngành kinh tế khác. Mặt khác, tỉ lệ sử dụng thời gian trong lao động
nông nghiệp cũng thấp hơn so với trong công nghiệp và dịch vụ do tính chất thời
vụ của sản xuất nông nghiệp. Mức độ áp dụng KHKT ngày càng cao thì GTSX
được tạo ra trong nông nghiệp càng tăng trên một số lượng lao động nông
nghiệp ngày càng giảm.
* Việc làm và thu nhập của người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp
- GDP bình quân đầu người khu vực nông thôn: đây là chỉ tiêu không thể
thiếu trong đánh giá phát triển kinh tế nông nghiệp. Bởi lẽ, nếu nông nghiệp chỉ
tăng về giá trị sản xuất mà mức sống của người nông dân không được cải thiện
rõ rệt, thì sự tăng trưởng đó chưa bền vững về mặt xã hội.
Thu nhập bình quân của người dân nông thôn được tính bằng GDP của toàn
bộ nền kinh tế chia cho tổng dân số sống ở nông thôn trong cùng thời điểm. Để
phản ánh rõ hơn sự phân hóa giữa thành thị và nông thôn, ta có thể so sánh nó với
thu nhập bình quân của người dân thành thị và so với mức bình quân toàn tỉnh.

17


Công thức tính: I =
Trong đó
I


1.1.4.2. Nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội
Các nhân tố về kinh tế - xã hội bao gồm: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
nông thôn, các thành phần kinh tế nông thôn, thị trường, vốn, cơ sở hạ tầng nông
thôn, sự phát triển của dân cư, lao động, trình độ người lao động, phong tục tập
quán, chính sách của Nhà nước…Trong đó vốn, lao động, cơ sở hạ tầng có vị trí
quan trọng. Nếu nguồn vốn dồi dào, lao động có trình độ tay nghề cao, cơ sở hạ
tầng của nông thôn hiện đại và đồng bộ, hệ thống chính sách của Nhà nước
thông thoáng có tác dụng khuyến khích thì chắc chắn nền kinh tế nông nghiệp,
nông thôn sẽ phát triển tốt. Ngược lại, nếu thiếu vốn, lao động dư thừa trình độ
thấp, cơ sở hạ tầng lạc hậu, không đồng bộ, hệ thống chính sách của Nhà nước

18


gò bó, không khuyến khích sẽ kìm hãm sự phát triển nông nghiệp. Đời sống
người dân sẽ chậm được cải thiện.
1.1.4.3. Nhân tố về cơ chế chính sách
Chính phủ vì những mục tiêu kinh tế, chính trị và xã hội khác nhau, đã có
các chính sách, cách can thiệp khác nhau vào nền nông nghiệp để thỏa mãn các
mục tiêu của quốc gia đó. Do đó, chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung
và chính sách nông nghiệp nói riêng, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nông
nghiệp. Chính sách đổi mới của Đảng và Chính phủ Việt Nam đã tạo ra sự phát
triển vượt bậc về nông nghiệp.
1.1.4.4. Nhân tố về khoa học và công nghệ
Ngày nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ giữ vai trò quyết định đối với
việc nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm, cũng như năng suất lao động
của con người. Vì vậy, việc áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản
xuất là một đòi hỏi bức xúc của nền kinh tế nước ta nói chung, của sự phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng.
1.2. Cơ sở thực tiễn phát triển kinh tế nông nghiệp trong xây dựng nông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status