VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ VĂN KIÊN
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
THANH NIÊN THUỘC HỘ NGHÈO TỪ
THỰC TIỄN TỈNH HÀ NAM
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa
học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Hồi Loan
Phản biện 2: TS. Trần Thị Minh Thi
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội, hồi ...... ,ngày .... tháng..... năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện Khoa học xã hội
thúc đẩy các điều kiện xã hội để cá nhân, gia đình nghèo tiếp cận được các
chính sách, nguồn lực xã hội, đáp ứng nhu cầu cơ bản.
Những năm qua, kinh tế xã hội của tỉnh Hà Nam có bước phát triển
khá, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo của
1
tỉnh còn cao. Theo kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm
2015 (chuẩn nghèo đa chiều), tổng số hộ nghèo toàn tỉnh là: 15.571 hộ,
chiếm tỷ lệ 5,81%; số hộ cận nghèo: 12.857 hộ, chiếm tỷ lệ 4,80%. Tỷ lệ
thanh niên thuộc hộ nghèo chiếm khoảng 12 %/tổng số người nghèo. Các
nguyên nhân nghèo chủ yếu là do ốm đau bệnh nặng; không có sức lao
động; thiếu vốn sản xuất; thiếu phương tiện sản xuất, mắc tệ nạn xã hội.
Vấn đề đặt ra: với tình hình thực trạng nghèo đói của thanh niên
trên địa bàn tỉnh Hà Nam như vậy, các cấp chính quyền đã có những chính
sách gì, bằng cách nào, thực hiện các giải pháp nào trong đó có việc vận
dụng các phương pháp, cung cấp các dịch vụ công tác xã hội để hỗ trợ
người nghèo, từ đó tạo những điều kiện, tiền đề thuận lợi để các hộ vươn
lên thoát nghèo và ko bị tái nghèo.
Chính vì vậy tôi chọn đề tài: “Dịch vụ Công tác xã hội đối với
thanh niên thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh Hà Nam” làm luận văn thạc sỹ
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tác giả đã nêu một số nghiên cứu, bài viết đề cập đến vấn đề về
nghèo đói, người nghèo và về thanh niên.
Hiện tại chưa có nghiên cứu nào liên quan trực tiếp đến dịch vụ
công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian từ từ
năm 2012 đến năm 2016.
- Phạm vi không gian: Khảo sát trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Dịch vụ công tác xã hội đối với
thanh niên thuộc hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh Hà Nam tại cộng đồng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận chung
là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Công tác xã hội là một ngành
khoa học xã hội, có nền tảng là triết học Mác - Lê nin, do đó mọi phương
pháp tiếp cận vấn đề của khoa học này đều dựa trên nền tảng là phương
pháp luận khoa học cơ bản nhất.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu: Phương pháp phân tích tài liệu là
phương pháp phân chia, chia nhỏ những số liệu, dữ liệu từ các nguồn tài
liệu đã được công bố thành từng cụm, từng lĩnh vực, từng chi tiết cụ thể để
tìm ra những ý nghĩa của số liệu đó; sau đó lại tổng hợp lại, đưa ra nhận
3
định và những bình luận, làm sáng tỏ các quan điểm cần chứng minh.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả
phỏng vấn 70 người, bao gồm 50 thanh niên thuộc hộ nghèo và 20 người
khác là lãnh đạo cấp xã, cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cán bộ
Đoàn thanh niên, hội phụ nữ.
- Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi đã sử dụng kết hợp các
phương pháp khác như: Phương pháp quan sát, Phương pháp điều tra bằng
bảng hỏi.
1.1.1. Khái niệm nghèo và hộ nghèo
Khái niệm nghèo
Nghèo có nghĩa là không đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không
được khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp
để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa
là không an toàn, dễ bị bạo hành, không có quyền, bị loại trừ, phải sống
ngoài lề xã hội hoặc dễ gặp rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và vệ
sinh. Nghèo là sự phủ nhận quyền lựa chọn và cơ hội, là sự vi phạm nhân
phẩm con người. Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào
các hoạt động xã hội.
Khái niệm hộ nghèo
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới chuẩn nghèo.
1.1.2. Các phương pháp đánh giá nghèo
Nghèo đơn chiều
Nghèo đa chiều
1.1.3. Khái niệm thanh niên thuộc hộ nghèo
Thanh niên thuộc hộ nghèo là những người từ đủ mười sáu tuổi đến
ba mươi tuổi sống trong các hộ nghèo theo chuẩn nghèo của địa phương,
trong đó, thanh niên có thể là chủ hộ hoặc không là chủ hộ.
1.2. Đặc điểm và nhu cầu của thanh niên thuộc hộ nghèo
1.2.1. Đặc điểm của thanh niên thuộc hộ nghèo
Đặc điểm về tâm sinh lý
Đặc điểm kinh tế - xã hội.
1.2.2. Nhu cầu của thanh niên thuộc hộ nghèo
Nhu cầu về thể chất/sinh lý.
Nhu cầu về an toàn.
Nhu cầu về xã hội.
Nhu cầu được tôn trọng.
5
có chủ đích, được cung cấp, điều phối bởi các nhân viên CTXH nhằm
phòng ngừa, khắc phục rủi ro, đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy
khả năng hòa nhập cộng đồng cho thanh niên thuộc hộ nghèo. Dịch vụ
CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo nhằm hướng đến mục tiêu đảm
bảo các giá trị và chuẩn mực xã hội cho thanh niên thuộc hộ nghèo.
6
1.3.2. Mục đích, vai trò của dịch vụ công tác xã hội với thanh niên thuộc
hộ nghèo
Mục đích của dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo là
đảm bảo các giá trị và chuẩn mực xã hội của thanh niên. Để đảm bảo chất
lượng, các dịch vụ CTXH phải đáp ứng được các tiêu chí như phải nhanh
chóng, kịp thời, đa dạng, phù hợp với nhu cầu và tài chính của thanh niên
thuộc hộ nghèo.
1.3.3. Nguyên tắc của dịch vụ công tác xã hội với thanh niên
thuộc hộ nghèo
Chấp nhận đối tượng.
Tạo điều kiện để thanh niên thuộc hộ nghèo tham gia giải quyết vấn
đề.
Tôn trọng quyền tự quyết của thanh niên thuộc hộ nghèo.
Đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp thanh niên thuộc hộ
nghèo.
1.3.4. Phương pháp của dịch vụ công tác xã hội với thanh niên thuộc
hộ nghèo
Công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội nhóm
1.3.5. Các dịch vụ công tác xã hội với thanh niên thuộc hộ nghèo
- Dịch vụ công tác xã hội với thanh niên thuộc hộ nghèo bao gồm:
CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo. Nguồn thông tin của cơ quan đầu
mối sẽ là cơ sở cho việc chuyển gửi các thanh niên nghèo và căn cứ để quản
lý, hoạch định chiến lược và chính sách ở tầm vĩ mô. Nguồn thông tin này
cần được cập nhật thường xuyên và giám sát chặt chẽ.
1.4. Thể chế về dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc
hộ nghèo
1.4.1. Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước
1.4.2. Các văn bản pháp luật của Nhà nước
1.5. Các yếu tố tác động đến dịch vụ công tác xã hội đối với
thanh niên thuộc hộ nghèo
1.5.1. Yếu tố thuộc về đối tượng của dịch vụ công tác xã hội
1.5.2. Yếu tố thuộc về chính sách, pháp luật
1.5.3. Yếu tố thuộc về đội ngũ nhân viên công tác xã hội
1.5.4. Yếu tố nguồn lực và kết nối nguồn lực
Tiểu kết chương 1
Trong Chương 1, qua nghiên cứu, tổng hợp tài liệu, tác giả đã xác
định được các khái niệm cơ bảno. Các khái niệm này đã làm rõ hơn khách
thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của đề tài. Trong Chương này, tác
8
giả cũng đã trình bày đặc điểm, nhu cầu của thanh niên thuộc hộ nghèo. Tác
giả chỉ ra được các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của thanh niên, trong đó
nguyên nhân chủ yếu là thiếu vốn, thiếu phương tiện sản xuất và nguyên
nhân đông người ăn theo.
Dưới góc độ CTXH, tác giả đã trình bày mục đích, vai trò, nguyên
tắc, phương pháp của dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ
nghèo; các loại hình dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo;
công tác quản lý cơ sở cung cấp dịch vụ đó, đồng thời cũng xác định được
chủ hộ nghèo hoặc là thành viên thuộc hộ nghèo.
Theo xu hướng chung, tỷ lệ thanh niên thuộc hộ nghèo/tổng số
nhân khẩu nghèo năm 2016 có giảm so với năm 2011 từ 5.549 người xuống
còn 2.836 người. Trong tổng số thanh niên thuộc hộ nghèo; tỷ lệ nam thanh
niên nghèo chiếm 51%, nữ thanh niên nghèo chiếm 49%; thanh niên nghèo
khu vực nông thôn chiếm khoảng 65%, khu vực thành thị chiếm khoảng
35%. Nhóm người có độ tuổi từ 16 - 24 tuổi chiếm khoảng 59,7%, đây là độ
tuổi đang đi học, hoặc việc làm chưa ổn định, nhóm thanh niên thuộc hộ
nghèo trong độ tuổi 25 - 30 (chiếm 40,3%).
- Cơ cấu dân tộc. Đa số thanh niên thuộc hộ nghèo tại Hà Nam là
người Kinh (chiếm 99%) còn lại là người dân tộc khác (chiếm 1%).
2.2.2. Thực trạng về đời sống vật chất, tinh thần của thanh niên
thuộc hộ nghèo tại tỉnh Hà Nam
2.2.2.1. Đặc điểm về tâm sinh lý
Đặc điểm tâm sinh lý của thanh niên thuộc hộ nghèo đa dạng tùy
từng trường hợp, cá nhân cụ thể. Thực tế này là cơ sở, là yếu tố quan trọng
giúp nhân viên CTXH áp dụng các phương pháp, nội dung phù hợp để điều
phối các dịch vụ CTXH cho họ tốt hơn, hiệu quả hơn.
Đặc điểm tâm lý thường gặp của thanh niên thuộc hộ nghèo là rụt
rè, mặc cảm, tự ti với bản thân và gia đình, ít tiếp xúc giao lưu và ngại tham
gia vào các hoạt động tập thể. Nếu phải tham gia thì cũng rất e ngại khi phải
trình bày ý kiến, quan điểm của mình. Họ thường không có chính kiến,
không có tiếng nói trong cộng đồng và ít hoặc không có khả năng truyền đạt
nhu cầu, khó khăn của mình đến người khác có khả năng giúp đỡ mình. Tuy
nhiên, thanh niên nói chung, thanh niên thuộc hộ nghèo nói riêng, họ luôn
có ý chí và sức sống mạnh mẽ. Đối với những thanh niên là chủ hộ nghèo,
phải lo toan mọi việc trong gia đình, do đó những người này có tâm lý
mạnh mẽ, tích cực hơn.
Bên cạnh đó có một số nhỏ vẫn còn tư tưởng buông xuôi, phó mặc
và chưa thực sự quyết tâm vươn lên, không dám đấu tranh, không dám bộc
rất thấp khoảng 2%. Như vậy thu nhập của thanh niên trong các hộ nghèo là
thấp, do đó bình quân thu nhập trên đầu người trong hộ lại càng thấp. Thực
trạng này đặt ra cho các dịch vụ CTXH cần tập trung vào việc nâng cao
mức thu nhập cho thanh niên thuộc hộ nghèo.
2.2.3. Nguyên nhân dẫn tới nghèo của thanh niên
Xác định chính xác các nguyên nhân đói nghèo của thanh niên có
vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách và thực hiện các
11
hoạt động, các chương trình trợ giúp trong đó có việc cung cấp các dịch vụ
xã hội cho thanh niên thuộc hộ nghèo tự vươn lên thoát nghèo.
Kết quả khảo sát thực tế, tác giả đã xác định các nguyên nhân
nghèo của thanh niên trên địa bàn nghiên cứu chủ yếu gồm nhóm về thiếu
nguồn lực (thiếu vốn sản xuất, thiếu phương tiện sản xuất) chiếm 35%,
nhóm về trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định chiếm 33
%, nhóm bệnh tật, sức khỏe kém, mất sức lao động chiếm khoảng 15%.
2.2.4. Thực trạng nhu cầu của thanh niên thuộc hộ nghèo
Tác giả đã phản ánh thực trạng nhu cầu của thanh niên thuộc hộ
nghèo chủ yếu ở cấp bậc thấp với những nguyên vọng, mong muốn đơn
giản nhằm thỏa mãn những thiếu hụt về thể chất/sinh lý, sự an toàn của bản
thân và gia đình. Số ít người có yêu cầu cao hơn như các nhu cầu về xã hội,
mong muốn được tôn trọng và thể hiện bản thân. Các thiếu hụt cùa thanh
niên nghèo có thể lại liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giống như là một
vòng tròn luẩn quẩn của đói nghèo. Để giảm nghèo bền vững, thanh niên
thuộc hộ nghèo cần được cung cấp các dịch vụ CTXH để đáp ứng tối đa các
nhu cầu của họ.
2.3. Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc
hộ nghèo từ thực tiễn tỉnh Hà Nam
hiểu được quyền và trách nhiệm của mình trong thực hiện mục tiêu giảm
nghèo, các thủ tục cần thiết để người nghèo tiếp cận, thụ hưởng các chính
sách giảm nghèo của Nhà nước. Dịch vụ tư vấn tâm lý, tham vấn có vai trò
rất quan trọng trong việc giúp hộ thanh niên nghèo nâng cao năng lực, tăng
khả năng ứng phó với các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai. Tuy nhiên,
theo khảo sát nhu cầu, tỷ lệ thanh niên thuộc hộ nghèo sử dụng các dịch vụ
tư vấn tâm lý, tham vấn còn thấp (20%). Nguyên nhân là do thanh niên
thuộc hộ nghèo thường có mặc cảm tự ti, một số có tâm lý buông xuôi, chấp
nhận số phận, thậm chí là thụ động, ỷ lại. Điều này có ảnh hưởng lớn đến
việc giải quyết tận gốc vấn đề nghèo, đảm bảo giảm nghèo bền vững. Chất
lượng của dịch vụ tư vấn,tham vấn chưa cao. Cán bộ tư vấn, tham vấn chưa
được đào tạo chuyên sâu về tư vấn, tham vấn tâm lý.
2.3.2. Các dịch vụ công tác xã hội cung cấp cho nhóm thanh niên
nghèo
Theo khảo sát, có rất ít các dịch vụ công tác xã hội cung cấp cho
nhóm thanh niên thuộc hộ nghèo. Dịch vụ này chủ yếu được cung cấp từ
các tổ chức hội đoàn thể. Điển hình là Dịch vụ hỗ trợ nhóm thanh niên
nghèo theo mô hình “Hợp tác xã thanh niên”. Dịch vụ này đang được Tỉnh
đoàn Hà Nam phát động triển khai. Hiện toàn tỉnh có 03 hợp tác xã thanh
niên. Ngoài ra còn một số dịch vụ hỗ trợ nhóm thanh niên nghèo khác
nhưng chưa cụ thể, chưa mạnh mẽ và tồn tại nhiều hạn chế: Chưa có kế
13
hoạch hoạt động dài hạn, số lượng thành viên trong nhóm lớn gây ảnh
hưởng đến sự tương tác của các thành viên trong nhóm; thời gian họp nhóm
cách xa nhau; các tổ trưởng, nhóm trưởng chưa được đào tạo bài bản về
CTXH nhóm nên hạn chế trong việc tổ chức các buổi sinh hoạt nhóm.
2.3.3. Các dịch vụ, chương trình phát triển cộng đồng
năng, nhiệm vụ của thành viên BCĐ. Cơ cấu tổ chức và cách quản lý theo
ngành dọc từ trên xuống. Bước đầu đã có các cơ sở cung cấp các dịch vụ
CTXH chuyên sâu như Trung tâm Công tác xã hội, Trung tâm thanh thiếu
niên tỉnh. Tuy nhiên theo khảo sát cho thấy, thanh niên thuộc hộ nghèo chưa
được tiếp cận với các dịch vụ CTXH chuyên sâu. Kết quả điều tra cho thấy,
nhiều thanh niên thuộc hộ nghèo không biết các cơ sở cung cấp CTXH
chuyên sâu nêu trên và cán bộ giảm nghèo cấp xã chưa từng chuyển gửi, liên
hệ với các cơ sở này.
- Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ ngoài công lập
Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ
nghèo ngoài công lập có thể là các cơ sở cung cấp dịch vụ của các tổ chức tôn giáo;
các tổ chức phi chính phủ; các doanh nghiệp; các cơ sở tư nhân; các nhóm tự giúp,
tổ, đội, CLB.
Nhìn chung mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH với thanh
niên nghèo đa dạng, phong phú nhưng đa số thanh niên thuộc hộ nghèo chỉ
tiếp cận được các dịch vụ từ các cơ sở công lập với vai trò là điều phối của
Ban giảm nghèo, tuy nhiên theo đánh giá thì cũng chưa phát huy hết khả
năng. Các đơn vị cung cấp dịch vụ chưa có quy chế, cơ chế phối hợp chặt
chẽ giữa các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH, hầu hết hoạt động một cách
độc lập, riêng lẻ. Chưa thực hiện được hoạt động đánh giá nhu cầu, xây
dựng kế hoạch, xây dựng quy trình thực hiện, tổ chức và giám sát, lượng
giá dich vụ. Các dịch vụ được cung cấp có thể giống hoặc khác nhau nhưng
chưa có sự phối hợp, liên kết, hợp tác giữa các cơ sở một cách chặt chẽ. Ví
dụ, các tổ chức đoàn thể đều có dịch vụ hỗ trợ vay vốn nhưng chưa có cơ
chế làm việc phối hợp rõ ràng nên có trường hợp một đối tượng cùng được
vay vốn từ nhiều nguồn vốn vay. Chính vì vậy tại các địa bàn khảo sát chưa
hình thành được mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ cho thanh niên thuộc
hộ nghèo và cũng chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở ở góc độ
Qua nghiên cứu, tổng hợp, hiện có khoảng hơn 200 văn bản pháp
luật ban hành các cơ chế, chính sách về giảm nghèo, và về thanh niên, vẫn
còn hiệu lực thi hành. Các văn bản chính sách, pháp luật của Đảng, của
Chính phủ, của các bộ, ngành và của tỉnh Hà Nam về thanh niên và vấn đề
giảm nghèo được ban hành tương đối đầy đủ, bao quát được nhiều mặt. Các
chính sách, pháp luật về giảm nghèo được ban hành nhìn chung là phù hợp
với đối tượng thụ hưởng, phù hợp với mục tiêu chung của chương trình
giảm nghèo cũng như chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
trong từng giai đoạn và thường xuyên được đánh giá tổng kết nhằm sửa đổi,
bổ sung, thay thế cho phù hợp với thực tiễn.
Tuy nhiên hệ thống chính sách pháp luật về giảm nghèo còn bộc lộ
16
nhiều bất cập như: Các chính sách, dự án chưa tạo được sự gắn kết chung trong
giảm nghèo, thiếu đi sự liên kết, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng và còn có sự
chồng chéo tản mạn về đối tượng thụ hưởng và thời gian hỗ trợ; Sự dàn trải,
manh mún trong chính sách; Thiếu hụt chính sách; Phân cấp đầu tư cho cấp xã
còn hạn chế; Nguồn lực thực hiện chính sách không đủ; Chính sách ban hành
chưa đồng bộ, cơ chế thực thi chính sách thiếu sự phối hợp; Chính sách chưa
phù hợp với đặc điểm địa phương và đối tượng hỗ trợ.
Có rất nhiều chính sách về giảm nghèo song lại hầu như không có
chính sách nào về cách thức phân bổ, sử dụng ngân sách giảm nghèo cũng
như về giám sát và đánh giá kết quả sử dụng nguồn lực, về quy trình và
phương pháp thực hiện các can thiệp giảm nghèo.
Thiếu các chính sách khuyến khích và hỗ trợ người nghèo, thanh
niên thuộc hộ nghèo chủ động vươn lên thoát nghèo, làm giàu. Một số
chính sách ban hành mang tính ngắn hạn, tình thế, nên chưa tập trung đúng
mức vào giải quyết nguyên nhân của đói nghèo. Các chính sách cũng chưa
Lao động - TBXH; gần 200 cán bộ Lao động - TBXH các huyện, thành phố
và các xã phường, thị trấn; trên 500 người thuộc các sở, ngành quản lý (Sở
Y tế và hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Tư
pháp,..); trên 300 người thuộc các hội đoàn thể các cấp (Phụ nữ, Thanh
niên,…). Theo đánh giá chung, đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên
CTXH còn thiếu và chưa được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp nhất là đội
ngũ cán bộ làm trực tiếp. Trung tâm CTXH tỉnh được hình thành theo Đề
án 32 trên cơ sở là trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh mới chỉ dừng ở các dịch vụ
mang tính tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho cộng đồng, chưa thực sự
cung cấp các dịch vụ tham vấn, tư vấn, can thiệp trị liệu tâm lý, các mô hình
can thiệp nhanh, can thiệp khủng hoảng,..
2.4.4. Yếu tố nguồn lực và kết nối nguồn lực
Yếu tố nguồn lực và kết nối các nguồn lực có ảnh hưởng mang tính
then chốt đến các dịch vụ đối với thanh niên nghèo.
Trong những năm qua, mặc dù là tỉnh còn khó khăn, đang tập trung
cho phát triển kinh tế, nhưng tỉnh Hà Nam đã quan tâm, tập trung nguồn lực
thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Diê ̣n thu ̣ hưởng chiń h sách ngày
càng mở rô ̣ng, mức hỗ trợ đươ ̣c nâng lên. Nguồn lực đầu tư phát triển các
liñ h vực xã hô ̣i ngày càng lớn.
Tuy nhiên nguồn lực thực hiện các dịch vụ công tác xã hội đối với
thanh niên thuộc hộ nghèo trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế đặc biệt là kinh
phí thực hiện, cơ sở vật chất yếu kém. Chưa có các hoạt động kết nối nguồn lực
một cách hiệu quả, bền vững, chủ yếu là các hoạt động mang tính từ thiện, bề
nổi của các tổ chức hội đoàn thể. Yếu tố trên đặt ra những thách thức cho việc
phát triển các dịch cụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo.
18
Tiểu kết chương 2
19
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba là tăng cường quản lý nhà nước, giám sát, lượng giá và
nâng cao trách nhiệm giải trình đối với các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH
đối với thanh niên thuộc hộ nghèo và xây dựng quy trình thu hút sự tham
gia của thanh niên thuộc hộ nghèo vào việc thiết kế, lập kế hoạch, cung cấp
và giám sát các dịch vụ CTXH.
Thứ tư là đẩy mạnh việc thực hiện chính sách xã hội hóa nhằm huy
động sự tham gia của tất cả mọi thành phần trong xã hội trong việc giải
quyết vấn đề nghèo đói nói chung và cung cấp các dịch vụ CTXH cho thanh
niên thuộc hộ nghèo nói riêng. Xã hội hóa các dịch vụ CTXH cho thanh
niên thuộc hộ nghèo sẽ tạo ra sự cạnh tranh để cải thiện chất lượng và đảm
bảo quyền tiếp cận các DVXH nằm trong khả năng chi trả của thanh niên
thuộc hộ nghèo. Trong đó nhà nước đóng vai trò chủ đạo, hoạch định chính
sách, điều phối nguồn lực và đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ CTXH có
chất lượng hiệu quả và công bằng. Đồng thời khuyến khích người dân,
doanh nghiệp, tổ chức xã hội, các cá nhân cùng tham gia hưởng ứng phong
trào “vì người nghèo”.
3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối
với thanh niên thuộc hộ nghèo
3.2.1. Giải pháp truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức về
dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo
Công tác truyền thông, giáo dục có vai trò quan trọng khi triển khai
nghề công tác xã hội tại Việt Nam, có tác động to lớn đến nhận thức, hành
động của cá nhân, tổ chức, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội trong việc
tiếp nhận, hiểu và thực hiện. Từ khi thực hiện Đề án 32, các cơ quan báo chí
đã trở thành một kênh thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng
tình hình mới
- Ưu tiên tuyển dụng những người được đào tạo bài bản về CTXH;
- Thường xuyên tập huấn, đào tạo chuyên sâu về CTXH cho nhân
viên CTXH cung cấp dịch vụ trực tiếp; Tổ chức các lớp tập huấn, truyền
thông cho các lãnh đạo địa phương, nhân viên, cộng tác viên CTXH về Đề
án 32, …và các văn bản liên quan.
- Xây dựng mạng lưới các cơ sở và mạng lưới nhân viên viên cung
cấp dịch vụ CTXH cho thanh niên thuộc hộ nghèo. Khuyến khích các
trường đào tạo nghề ngành CTXH xây dựng mô hình thực hành gắn với
việc cung cấp các dịch vụ CTXH. Khi đó, sinh viên sẽ về tại các cộng đồng,
tham gia các cấp, các dịch vụ CTXH như là một cộng tác viên.
3.2.4. Nhóm giải pháp về phát triển mạng lưới các cơ sở cung cấp
dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo
Cần xây dựng và phát triển mạng lưới các dịch vụ CTXH chuyên
21
sâu như nâng cao năng lực cá nhân, tham vấn, CTXH nhóm, phát triển cộng
đồng, biện hộ ,… để nâng cao năng lực cho thanh niên thuộc hộ nghèo.
Tiểu kết chương 3
Trên cơ sở phân tích những thực trạng, hạn chế của các dịch vụ
CTXH đối với thanh niên thuộc hộ nghèo, tác giả đã nêu lên 04 định hướng
cơ bản đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ CTXH đối với thanh niên thuộc
hộ nghèo tại địa bàn tỉnh Hà Nam. Các giải pháp nêu trên sẽ góp phần nâng
cao chất lượng hiệu quả dịch cụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc
hộ nghèo.
22
cung cấp dịch vụ đó, đồng thời cũng xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới
dịch vụ công tác xã hội đối với thanh niên thuộc hộ nghèo.
Trên nền tảng lý luận đã xây dựng tại Chương 1 và kết quả điều tra,
khảo sát, trong Chương 2 tác giả đã phân tích, trình bày thực trạng dịch vụ
23