Công tác xã hội nhóm đối với trẻ mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS thành phố Hà Nội - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN QUANG HƯNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
TỪ THỰC TIỄN LÀNG TRẺ EM SOS THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Trung Hải

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành luận văn “Công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi từ thực tiễn
Làng trẻ em SOS Hà Nội“ là một quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của bản
thân. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân dưới sự hướng dẫn
khoa học của TS. Nguyễn Trung Hải.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trung thực và không trùng lặp với các công
trình nghiên cứu đã được công bố trước đó.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng

năm 2017

tại Làng trẻ em SOS Thành phố Hà Nội .................................................................... .74

KẾT LUẬN............................................................................................................... .76
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................ 77


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTXH

Bảo trợ xã hội

CBNV

Cán bộ nhân viên

CTXH

Công tác xã hội

LĐTBXH

Lao động thương binh xã hội

NXB

Nhà xuất bản

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội

mảnh đời bất hạnh song trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục vẫn còn
gặp rất nhiều khó khăn. Đặc biệt công tác hỗ trợ, tham vấn tâm lý cho trẻ còn thiếu
tính chuyên nghiệp, việc tổ chức các hoạt động nhóm giúp trẻ bớt mặc cảm tự ti,
hòa nhập và gắn kết với nhau còn nhiều hạn chế do thiếu vắng đội ngũ NVXH
chuyên nghiệp. Vì vậy, nhiều trẻ trong Làng còn thiếu tự tin vào bản thân để kết bạn
và hòa nhập cộng đồng, hơn nữa các em còn chưa được trang bị đầy đủ các kỹ năng
để đối phó với mọi khó khăn trong cuộc sống.
Công tác xã hội nhóm được coi là một trong những phương pháp can thiệp
chính của ngành công tác xã hội chuyên nghiệp. Công tác xã hội nhóm ra đời dựa
trên niềm tin hoạt động nhóm là một biện pháp tích cực xây dựng tính cách và thúc
đẩy sự phát triển của con người, đặc biệt là những người yếu thế. Những hoạt động
nhóm sẽ giúp từng cá nhân nâng cao khả năng hoàn thành các nhiệm vụ, giảm bớt
những căng thẳng, lo âu và nhận ra giá trị bản thân mình từ đó giúp thân chủ nâng
cao khả năng giải quyết vấn đề và ngăn ngừa nảy sinh ra những vấn đề xã hội
nghiêm trọng khác.
Từ những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Công tác xã hội nhóm

1


đối với trẻ mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS thành phố Hà Nội” với hy vọng
áp dụng phương pháp CTXH nhóm, vận dụng những kiến thức, kỹ năng trong tiến
trình trợ giúp nhóm trẻ em mồ côi giải quyết vấn đề của nhóm (nâng cao tính cố kết
nhóm) và nâng cao năng lực của mỗi thành viên trong nhóm (sự tự tin và kỹ năng
sống) hướng đến giải quyết vấn đề của nhóm thân chủ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm của
các nhà nhà nghiên cứu. Trong phạm vi nghiên cứu là trẻ em mồ côi sống tại cơ sở
bảo trợ xã hội tôi lựa chọn một số công trình nghiên cứu và báo cáo tiêu biểu.
Nhóm các công trình, tài liệu nghiên cứu về trẻ em mồ côi

phục như: chưa có khung pháp lý về công tác đánh giá một cách hệ thống và chuyên
nghiệp đối với trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi để quyết định mô hình chăm sóc
nào sẽ phù hợp với lợi ích của các em.
Năm 2011 tác giả Nguyễn Thị Bích Hằng đã có bài „Đánh giá tình hình chăm
sóc trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi tại Việt Nam trong thời gian qua“. Bài viết đã
đưa ra các số liệu về thực trạng chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi tại Việt
Nam và các chính sách hỗ trợ cho trẻ em mồ côi và những định hướng cụ thể cho
hoạt động chăm sóc trẻ em mồ côi ở nước ta hiện nay. Đây là những số liệu để các
nhà quản lý xem xét để có thể hoàn thiện hơn cơ chế chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ
em bị bỏ rơi.
Tài liệu „Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn“của
nhóm tác giả trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương năm 2012 đã chỉ ra các quyền
trẻ em, các nhu cầu thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của tình trạng trẻ em trong
hoàn cảnh đặc biệt từ đó nhóm tác giả đã chỉ ra các yếu tố tác động làm gia tăng tỷ
lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhất là nhóm trẻ em không nơi nương tựa, lang
thang, trẻ bị bạo hành. Trên cơ sở đó nhóm tác giả đã đưa ra những hướng giải
quyết theo phương pháp công tác xã hội vào tiến trình can thiệp đối với nhóm trẻ có
hoàn cảnh đặc biệt.
Nghiên cứu “Tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các dự báo đến năm
2020” năm 2014, của tác giả Lê Thu Hà. Đã phản ánh thực trang TETHĐB khó
khăn ở Việt Nam đang cần rất nhiều hỗ trợ để hạn chế gia tang số lượng của nhóm
này trong giai đoạn mới.

3


Nghiên cứu “Khả năng hòa nhập cộng đồng của trẻ em mồ côi tại Làng thiếu
niên Thủ Đức“ của nhóm tác giả Phan Thị Việt Nga, Võ Kim Chi năm 2014 - Trường
Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Kết
quả nghiên cứu làm phong phú thêm hệ thống lí luận và lí thuyết của vấn đề này đồng

thiệp vừa mang ý nghĩa thực tiễn (trợ giúp thân chủ), vừa mang ý nghĩa lý luận (bổ
sung, làm rõ lý thuyết, phương pháp và kỹ năng can thiệp trong thực tiễn).
Như vậy, có thể thấy có nhiều hoạt động nghiên cứu và thực hành nhằm nâng
cao năng lực cho một số nhóm xã hội có hoàn cảnh khó khăn, song vẫn chưa nghiên
cứu can thiệp nào đi sâu vào nghiên cứu ứng dụng phương pháp CTXH nhóm nhằm
nâng cao năng lực cho TEMC tại Làng trẻ em SOS Hà Nội. Do đó việc nghiên cứu
tập trung vào phương pháp CTXH nhằm nâng cao năng lực cho TEMC tại Làng trẻ
em SOS Hà Nội là rất hữu ích và cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đánh giá thực trạng khó khăn, nhu cầu của trẻ em mồ côi và các hoạt
động CTXH tại làng trẻ em SOS Hà Nội. Từ đó đưa ra các giải pháp hỗ trợ phù hợp
nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động can thiệp trong CTXH nhóm với nhóm trẻ
em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tình hình hoạt động công tác xã hội với trẻ em
mồ côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội.
- Nghiên cứu thực trạng về nhu cầu vận dụng phương pháp công tác xã hội
nhóm trong việc nâng cao kỹ năng giao tiếp và sự tự tin cho đối tượng trẻ em trong
Làng trẻ em SOS Hà Nội.
- Vận dụng tiến trình công tác xã hội nhóm, lựa chọn một nhóm đối tượng
thân chủ cụ thể tiến hành can thiệp nhằm giải quyết vấn đề của nhóm, và nâng cao
năng lực cho đối tượng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi Làng trẻ em SOS Hà Nội.

5



6


Phương pháp công tác xã hội nhóm
Công tác xã hội nhóm là phương pháp nghiên cứu áp dụng việc giải quyết vấn
đề trực tiếp cho nhóm đối tượng trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội. Nghiên
cứu được triển khai dựa trên vận dụng kỹ năng, tổ chức, điều phối buổi sinh hoạt
nhóm, kỹ năng lãnh đạo, giao nhiệm vụ, tổ chức các trò chơi…
Phương pháp phân tích tài liệu
Nhằm thu thập các tài liệu liên quan, xem xét các thông tin có sẵn trong các
bài viết, các báo cáo, sách, hay các cuộc nghiên cứu liên quan đến hoạt động hỗ trợ
nâng cao năng lực cho nhóm đối tượng hoặc tài liệu mà cơ quan cung cấp về nhóm
đối tượng để đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích nhằm thu thập những thông tin cần thiết về hoàn cảnh, môi trường
tác động, đặc điểm tâm sinh lý, tiềm năng sẵn có cũng như nhu cầu của nhóm thân
để có những phương pháp can thiệp hiệu quả giúp nâng cao năng lực cho nhóm.
Đối tượng phỏng vấn sâu: phỏng vấn sâu cán bộ tại Làng trẻ em SOS Hà Nội
(bao gồm ban Lãnh đạo, trưởng các bộ phận, nhân viên giáo dục viên tại Làng);
phỏng vấn bà mẹ trực tiếp nuôi dạy trẻ; phỏng vấn trẻ đại diện cho trẻ em mồ côi
đang được nuôi dưỡng tại Làng trong đó có nhóm thân chủ. Với phương pháp này ở
nội dung phỏng vấn cán bộ tại Làng tôi thu thập thông tin về tình hình hoạt động
công tác xã hội tại Làng, nhu cầu vận dụng phương pháp công tác xã hội trong hoạt
động trợ giúp đối tượng, những thuận lợi, khó khăn…
Đối với các mẹ - người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, tập trung phỏng vấn
sâu họ những câu hỏi như: Những nhu cầu hiện tại trong việc chăm sóc trẻ; theo họ
nhận thấy những nhu cầu nào là quan trọng thiết yếu đối với trẻ cũng như những
khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình trợ giúp trẻ...
Đối với nhóm trẻ trong Làng, sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm tìm
hiểu xem trẻ cảm thấy như thế nào khi sống tại Làng; trẻ được tham gia vào những

tác xã hội tại các cơ sở xã hội mà cụ thể ở đây là Làng trẻ em SOS Hà Nội. Từ đó
vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm đối với nhóm trẻ em mồ côi còn thiếu
tự tin, mặc cảm và nhút nhát thông qua tiến trình công tác xã hội nhóm làm thay đổi
nhận thức thái độ và hành vi để cá nhân hòa nhập tốt hơn với cộng đồng.

8


Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
những người quan tâm đến lĩnh vực công tác xã hội nói chung và phương pháp công
tác xã hội nhóm nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội
dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi.
Chương 2: Thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi
tại Làng trẻ em SOS Hà Nội.
Chương 3: Vận dụng công tác xã hội nhóm trong việc nâng cao năng lực hòa
nhập cộng đồng cho trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS Hà Nội.

9


Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM
ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
1.1. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.1.1 Lý thuyết nhu cầu cuả MasLow
Nhu cầu cấp thấp:

thành viên nhóm giải quyết chúng tốt hơn. Vì mỗi kiểu mâu thuẫn từ các nguyên
nhân khác nhau sẽ được tiếp cận với các chiến lược cụ thể khác nhau. Trong nhóm
nhỏ, mâu thuẫn thường xuất hiện từ việc hiểu nhầm trong giao tiếp hoặc thiếu thông
tin. Loại mâu thuẫn này dễ giải quyết hơn kiểu mâu thuẫn do sự khác biệt trong giá trị
niềm tin. Mâu thuẫn do vấn đề cơ cấu lại khó khăn hơn so với mâu thuẫn vì sự khác
biệt trong nhu cầu và mong muốn. Nắm bắt được điều này, nhân viên xã hội sẽ có
những kế hoạch và cách ứng xử phù hợp, cũng như cách giải quyết khôn ngoan cho
các trường hợp xung đột khác nhau xuất hiện trong nhóm, giúp các thành viên trưởng
thành hơn tạo điều kiện tăng cường sự cố kết nhóm sau mỗi xung đột.
Dựa vào thuyết xung đột xã hội, trong quá trình tổ chức hoạt động cho nhóm
trẻ mồ côi NVXH cần phải có những ứng xử phù hợp và giải quyết các xung đột
xuất hiện trong nhóm một cách hợp lý. Để làm được điều đó NVXH cần có được
kiến thức, sự hiểu biết về xung đột, các nguyên nhân dẫn đến xung đột, những thói
quen hay được sử dụng trong việc giải quyết các tình huống xung đột. Bên cạnh đó,
cần phải biết kỹ năng và cách thức điều chỉnh xung đột một cách sáng tạo. Quan
trọng hơn, NVXH trong quá trình giúp đỡ nhóm trẻ mồ côi cần giúp tất cả thành
viên nhóm hiểu được các kỹ năng cơ bản, cách thức giải quyết mâu thuẫn để các em
tự điều chỉnh hành vi của mình. Từ đó, vấn đề có thể được giải quyết và vẫn đảm
bảo duy trì tốt các mối quan hệ vẫn ngay cả khi nhóm có mâu thuẫn.
1.1.3. Thuyết học tập xã hội (Social learning theory)
Thuyết học tập được bắt đầu từ quan điểm học tập của Tarde (1843 - 1904).
Trong quan điểm của mình, Tarde nhấn mạnh về ý tưởng học tập xã hội thông qua
ba quy luật bắt chước: đó là sự tiếp xúc gần gũi, bắt chước người khác và sự kết hợp
cả hai. Cá nhân học cách hành động vừ ứng xử của người khác qua quan sát hoặc
bắt chước.
Thuyết học tập được ứng dụng vào công tác xã hội vào những năm 80 của thế
kỷ XX. Thuyết được sử dụng để giải thích cho hành vi tội phạm liên quan đến việc
đột nhập và phá hoại hệ thống máy tính tại các trường đại học (hacker máy tính).
Thuyết học tập xã hội còn được sử dụng để điều chỉnh hành vi. Ví dụ: việc bố trí,
sắp xếp một học sinh có hành vi lệch lạc ngồi cạnh một học sinh có hành vi tốt. Như

Tóm lại, cho dù vẫn còn những tranh cãi, thuyết học tập ảnh hưởng tới phương
pháp thực hành công tác xã hội nhóm. Điều này thể hiện qua từng bước của tiến
trình công tác xã hội, việc lập kế hoạch cụ thể và lập kế hoạch trị liệu từng bước, kết
quả trị liệu có thể đo lường được và đánh giá từng phần. [12, tr.84]

12


Đối với trẻ mồ côi khi tham gia hoạt động nhóm sẽ có những em rụt rè, thiếu
tự tin nhưng bên cạnh đó có những em tự tin, bạo dạn. Trong quá trình hoạt động
những em thiếu tự tin quan sát thấy các bạn khác tích cực dần dần các em sẽ học tập
các hành vi đó. Như vậy thuyết học tập trong sinh hoạt nhóm sẽ giúp cho các nhóm
viên thay đổi hành vi không tương hợp (hành vi lệch chuẩn) và củng cố hành vi
tương hợp.
1.2. Các khái niệm công cụ
1.2.1. Công tác xã hội nhóm
* Khái niệm công tác xã hội
Theo các nhân viên xã hội Mỹ - NASW đưa ra năm 1970: “Công tác xã hội là
một hoạt dộng mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ những cá nhân, nhóm và cộng
đồng trong hoàn cảnh khó khăn để họ tự phục hồi chức năng xã hội là tạo ra các
điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích cá nhân”.
Theo hiệp hội nhân viên xã hội quốc tế - IFSW năm 2000: “Công tác xã hội
chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết vấn đề trong các mối
quan hệ con người với sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho
cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi
và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người
với môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản
của nghề công tác xã hội”.
Theo nhóm tác giả Việt Nam (2010): “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt
động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao

em có thể chia sẻ với nhau những tâm tư, nguyện vọng, tình cảm, ước mơ và tham
gia các hoạt động chung của nhóm, qua đó nâng cao năng lực cho từng nhóm và
thành viên trong nhóm.
* Khái niệm công tác xã hội nhóm:
“CTXH nhóm trước hết phải được coi là một phương pháp can thiệp của CTXH.
Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong nhóm được tạo cơ
hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhâu, chia sẻ những mối quan tâm
hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm và hướng đến giải tỏa
những vấn đề khó khăn. Trong hoạt động CTXH nhóm, một nhóm thân chủ được
thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của người trưởng nhóm (có thể là

14


nhân viên xã hội cũng có thể là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp, điều
phối của nhân viên xã hội”. [17, tr.34]
“CTXH với nhóm (còn gọi là làm việc với nhóm) là quá trình mà nhân viên
CTXH sử dụng tiến trình sinh hoạt nhóm để giúp đỡ nhóm và từng cá nhân tăng
cường khả năng tự giải quyết vấn đề nhằm thỏa mãn nhu cầu”. [28, tr.9].
* Nhân viên xã hội
- Khái niệm Nhân viên xã hội (Social worker)
Theo Zastrow (1996) Nhân viên xã hội là người được đào tạo về công tác xã
hội. Họ sử dụng kiến thức và kỹ năng để cung cấp các dịch vụ xã hội cho các cá nhân
và gia đình, nhóm, cộng đồng, tổ chức, xã hội. Nhân viên xã hội giúp đỡ con người
tăng cường năng lực đối phó và giải quyết vấn đề, tìm kiếm các nguồn lực cần thiết,
tạo điều kiện cho sự tương tác giữa cá nhân và con người với môi trường, thúc đẩy
trách nhiệm của xã hội với con người vừa tác động đến các chính sách xã hội.
DuBois and Miley (2005) lại nhận định Nhân viên xã hội là những nhà chuyên
nghiệp, có nền tảng kiến thức chuyên môn, có kỹ năng cần thiết, tuân thủ những
tiêu chuẩn và đạo đức của nghề công tác xã hội.

sách hòa nhập.
Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới
vấn đề của họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay
cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết, tự tin và tự mình
nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần
giải quyết.
Vai trò người tạo sự thay đổi: người nhân viên xã hội được xem như người tạo
ra sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực
hướng tới những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn.
Vai trò là người tham vấn, tư vấn: nhân viên xã hội tham gia như người cung
cấp thông tin tư vấn cho các đối tượng cần có thông tin như thông tin về chăm sóc
sức khỏe sinh sản, thông tin về bảo vệ môi trường, dinh dưỡng cho trẻ em hay
người già. Vai trò của người tham vấn: NVXH trợ giúp gia đình và cá nhân tự mình
xem xét vấn đề, tự thay đổi. Ví dụ như NVXH tham gia tham vấn giúp trẻ em bị
xâm hại tình dục hay phụ nữ bị bạo hành vượt qua khủng hoảng.
Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơ
sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, NVXH giúp cộng đồng xây
16


dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng
đồng giải quyết vấn đề của cộng đồng.
Vai trò là người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình
không có khả năng tự đáp ứng nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề.
Vai trò là người nghiên cứu xử lý dữ liệu: Với vai trò này, NVXH nhiều khi
phải nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin trên cơ sở đó tư vấn cho
đối tượng để họ đưa ra những quyết định đúng đắn.
Vai trò là người quản lý hành chính: NVXH khi này thực hiện những công
việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch triển
khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình và cộng đồng.

1.2.3. Công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi
* Công tác xã hội với trẻ em
“Công tác xã hội với trẻ em là công tác xã hội có đối tượng tác động là trẻ em,
nhằm phát hiện và can thiệp để ngăn ngừa các em tránh rơi vào hoàn cảnh đặc biệt
hoặc trợ giúp các em đã rơi vào hoàn cảnh đặc biệt vượt qua hoàn cảnh của mình để
có thể hòa nhập với gia đình và cộng đồng. [13, tr.10]
* Công tác xã hội nhóm với trẻ em mồ côi
Từ khái niệm về CTXH nhóm cũng như cách hiểu về nhóm trẻ em mồ côi có
thể hiểu: CTXH nhóm với trẻ em mồ côi là quá trình nhân viên CTXH sử dụng
phương pháp CTXH nhóm tác động đến nhóm đối tượng là trẻ em mồ côi. Thông
qua tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên nhóm là trẻ em mồ côi được tạo
cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan
tâm hay những vấn đề chung tham gia vào các hoạt động nhóm và hướng đến giúp
đỡ nhóm và từng cá nhân tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề nhằm thỏa mãn
nhu cầu.
Như vậy tiến trình trợ giúp mà nhân viên sử dụng là tiến trình sinh hoạt nhóm
gồm bốn giai đoạn chính:
- Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm
- Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động
- Giai đoạn can thiệp
- Giai đoạn kết thúc và lượng giá
Các mô hình vận dụng trong CTXH nhóm với trẻ em mồ côi:
- Mô hình phòng ngừa:
18


- Mô hình chữa trị:
- Mô hình phát triển:
1.3. Các vấn đề chung của công tác xã hội nhóm
1.3.1. Mục đích, ý nghĩa

cách thay đổi môi trường và đối phó, điều chỉnh bản thân.
- Giải quyết vấn đề và các giá trị xã hội: là việc hỗ trợ thân chủ sử dụng nhóm hoàn
thành nhiệm vụ, đưa ra quyết định và giải quyết các vấn đề xã hội. Bên cạnh đó
khuyến khích thân chủ có được các giá trị xã hội.
Như vậy, mục tiêu của công tác xã hội nhóm bám sát mục tiêu trao quyền,
tăng năng lực các thân chủ tham gia hoạt động công tác xã hội nhóm. Từ đó các
thành viên học được cách ứng phó với vấn đề của mình gặp phải.
1.3.2. Đặc trưng công tác xã hội nhóm
Cùng với các phương pháp khác trong chuyên môn công tác xã hội, CTXH
nhóm được sử dụng trong nhiều hoạt động của quá trình giúp đỡ thân chủ. Tuy
nhiên, để trả lời cho câu hỏi khi nào sử dụng phương pháp này là phù hợp, chúng ta
cần xem xét các đặc trưng của CTXH nhóm. Theo tổng hợp từ nhiều tài liệu, CTXH
nhóm có ba đặc trưng cơ bản sau:
- Đặc trưng thứ nhất là ở đối tượng tác động của phương pháp này là toàn nhóm.
Khác với CTXH cá nhân, CTXH nhóm tác động đến toàn bộ các thành viên trong
nhóm. CTXH nhóm đi theo cách tiếp cận nhóm như một tổng thể tác động không
phải chỉ là phép cộng đơn thuần của từng thành viên. Điều này có thể được hiểu qua
các hoạt động thực tiễn của CTXH nhóm hướng đến toàn thể các thành viên trong
nhóm. Nhóm và ảnh hưởng của nhóm được dùng để giải quyết vấn đề của cá nhân
và của nhóm.
- Đặc trưng thứ hai là công cụ tác động của nhóm chính là mối quan hệ, sự tương
tác giữa các thành viên trong nhóm. CTXH nhóm nhấn mạnh vào sự tác động qua
lại, tương tác giữa các thành viên trong nhóm để xây dựng và củng cố nhân cách
của các thành viên trong nhóm. Đặc trưng này khác biệt với phương pháp CTXH cá
nhân khi công cụ tác động thay đổi cá nhân là quá trình trợ giúp của người nhân
viên xã hội.
- Đặc trưng thứ ba là ở vai trò của nhân viên xã hội trong tiến trình giúp đỡ nhóm
thân chủ. Khác với cách tiếp cận trực tiếp của NVXH trong phương pháp CTXH cá
nhân, trong phương pháp này, NVXH chủ yếu đóng vai trò tổ chức, điều phối,
20

nghề công tác xã hội chuyên nghiệp trên thế giới. NVXH hiểu được những tác động
tích cực và có hiệu quả của tiến trình nhóm giúp cá nhân nâng cao chức năng xã
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status