VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NHƯ QUỲNH
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
VIỆT – HÀN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Khắc Bình.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
hoàn toàn trung thực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
HỌC VIÊN
Nguyễn Như Quỳnh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Chữ viết đủ
1
CTXH
Công tác xã hội
2
DVCTXH
Dịch vụ công tác xã hội
3
PHCN
Phục hồi chức năng
4
TKT
Trang
2.1
Cơ sở hạ tầng của trung tâm
34
2.2
Thực trạng về số lượng, cơ cấu của TKT
36
2.3
Mức độ nhu cầu của TKT
40
2.4
DVCTXH đã cung cấp đối với TKT
42
2.5
Sự hài lòng về dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng đối với TKT
52
56
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ
Số hiệu
Trang
2.1
Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Trung tâm
35
2.1
Mức độ khuyết tật của trẻ
37
2.2
Sức khỏe, tinh thần của TKT
38
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ trẻ em và sự phát triển của trẻ em luôn được coi là những ưu tiên
hàng đầu của đất nước. Việt Nam là một quốc gia đang hướng đến việc xây dựng
một xã hội hòa nhập, bình đẳng và chấp nhận sự khác biệt nên trẻ khuyết tật (TKT)
càng được quan tâm đặc biệt.
TKT bị nhiều thiệt thòi hơn so với các bạn cùng lứa tuổi do chính khuyết tật
mang lại, các em gặp rất nhiều khó khăn và phải trải nghiệm những trạng thái, cảm
xúc không mong muốn trong cuộc sống sinh hoạt, học tập, lao động hay khi tham
gia vào các hoạt động xã hội. Nhưng cũng giống như những trẻ em khác, TKT vẫn
có thể học tập, phát huy tiềm năng để phát triển, giảm bớt gánh nặng cho gia đình
và xã hội nếu được quan tâm và hỗ trợ các dịch vụ phù hợp. Do đó việc chăm lo, hỗ
trợ cho TKT không chỉ có ý nghĩa nhân đạo, từ thiện mà còn là vấn đề mang tính
chất kinh tế, xã hội và pháp lý.
Trong những năm gần đây, sự nỗ lực của Chính phủ và các tổ chức xã hội đã
đáp ứng phần nào nhu cầu được chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng của TKT.
Tuy nhiên, việc cung cấp các dịch vụ công tác xã hội (DVCTXH) đối với TKT còn
nhiều hạn chế, điều đó đã tạo ra khoảng cách khá lớn giữa nhu cầu của TKT và
những đáp ứng của xã hội. Việc bảo đảm cho TKT tiếp cận các dịch vụ y tế, học văn
hoá, học nghề, vui chơi, giải trí, cung cấp thông tin còn gặp rất nhiều khó khăn và
trở ngại; các tiện ích công cộng, đường giao thông đi lại còn thiếu hợp lý để người
khuyết tật có thể sử dụng; thậm chí một số TKT ở ngay tại thành phố lớn còn chưa
được phát hiện cũng như tiếp cận các dịch vụ phù hợp.
Hà Nội là thủ đô, trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, ngoại giao, trung
tâm văn hóa lớn nhất của cả nước. Đặc biệt, sau khi mở rộng địa giới hành chính,
Hà Nội không chỉ tăng quy mô dân số và diện tích. Trong quá trình công nghiệp
hóa, số lượng TKT có xu hướng ngày càng gia tăng thì việc nâng cao chất lượng
cuộc sống cho người khuyết tật nói chung và việc cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu
công việc của mình làm và đã gây được ảnh hưởng tốt đối với nhiều nhà giáo và gia
đình có TKT.
- Hozumi Araki (2011),“Nghiên cứu những nhu cầu của các gia đình có trẻ
khuyết tật tại các nước vùng Đông Á: Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam” trong
Báo cáo nghiên cứu Quốc tế về Phát triển chương trình giáo dục và chữa trị cho trẻ
khuyết tật phát triển. Trường Đại học Ritsumeican, Nhật Bản. Nghiên cứu với mục
2
đích xác định nhu cầu của trẻ khuyết tật phát triển và những khó khăn mà trẻ khuyết
tật phát triển và gia đình của trẻ gặp phải trong quá trình sống nhằm tìm ra giải pháp
hỗ trợ tốt nhất từ phía xã hội [25].
2.2. Nghiên cứu của Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề TKT đã có nhiều nghiên cứu, văn bản của các bộ, ngành
và các cấp chính quyền. Trong luận văn này, chúng tôi liệt kê và đánh giá về một số
tài liệu đề cập đến lĩnh vực DVCTXH đối với TKT có liên quan mật thiết đến đề tài
của chúng tôi như sau:
- “Báo cáo Quyền của trẻ em khuyết tật tại Việt Nam” của tác giả Eric
Rosenthal và Viện Quốc tế bảo vệ quyền người khuyết tật tâm thần thực hiện theo
yêu cầu UNICEP Việt Nam năm 2009. Báo cáo đã nêu rõ những quyền của trẻ em
khuyết tật Việt Nam đó là quyền được bảo vệ không bị phân biệt đối xử chỉ vì
khuyết tật, quyền tiếp cận những khu vực công và dịch vụ công, quyền sống trong
cộng đồng, quyền được gia đình bảo vệ, quyền được dịch vụ và đủ tiêu chuẩn cuộc
sống, quyền được chăm sóc sức khỏe miễn phí và đặc biệt, quyền được giáo dục,
quyền về danh tính, khai sinh và năng lực pháp lý [18].
- Quỹ Dân số Liên hợp quốc - UNFPA (2009), “Người khuyết tật ở Việt
Nam”. Tài liệu này nhằm đưa ra một bức tranh kinh tế - xã hội sơ bộ về NKT ở Việt
Nam dựa trên phân tích số liệu mẫu 15% của Tổng điều tra dân số 2009 với mục
tiêu là: Thứ nhất, đưa ra một bức tranh chung về tỷ lệ NKT ở Việt Nam; Thứ hai,
tin, văn hóa…từ đó đúc rút những bài học kinh nghiệm từ thực tế hoạt động và định
hướng các hoạt động những năm tiếp theo. Báo cáo được xây dựng trên cơ sở tổng
hợp báo cáo của thành viên NCCD, các địa phương, ý kiến của NKT và kết quả
hoạt động Đề án “Hỗ trợ người tàn tật giai đoạn 2006 - 2010” [3].
- Trong cuốn sách “Công tác xã hội với người khuyết tật” của tác giả Nguyễn
Thị Kim Hoa chủ biên, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành cũng đề
cập đến những nội dung chính: tổng quan về NKT, trải nghiệm khuyết tật và các kỹ
năng thực hành CTXH [21].
- Cuốn “Giáo trình cao đẳng nghề công tác xã hội với trẻ em và gia đình” của
Vũ Thị Kim Dung và Nguyễn Hiệp Thương đồng chủ biên, nhà xuất bản Lao động
– Xã hội phát hành đề cập những định hướng, chỉ đạo hoạt động thực tiễn CTXH,
cung cấp hệ thống lý thuyết, kiến thức và kỹ năng làm việc nhằm trang bị cơ sở nền
4
tảng về lý luận và phương pháp, phương tiện, kỹ năng thực hành cho nhân viên
CTXH trong lĩnh vực hoạt động CTXH với trẻ em và gia đình [11];
- Tài liệu “Công tác xã hội với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt” của khóa
đào tạo CTXH cho các nhà quản lý cấp cao (CSWA), thuộc Dự án đào tạo CTXH
tại Việt Nam do các tổ chức MOLISA - ULSA - CFSI- ASI - AP – UNICEF 2012
phối hợp tổ chức do nhà xuất bản Văn hóa Thông tin phát hành năm 2014. Cuốn tài
liệu này có đề cập chung đến các vấn đề CTXH với các cá nhân có nhu cầu đặc biệt
như: trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật, người có HIV, người cao tuổi,
người mại dâm, người nghiện ma túy, người nghèo CTXH với chăm sóc sức khỏe
tâm thần [16];
- Luận văn “Công tác xã hội với gia đình trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung
tâm phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội” của tác giả Hồ Quỳnh Ngọc
đã đề cập đến thực trạng, nhu cầu của gia đình, sự tham gia của gia đình vào các
giai đoạn quản lý ca tại trung tâm tuy nhiên tác giả vẫn chưa đi vào vấn đề nhu cầu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại hình DVCTXH đối với TKT tại
Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn: nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành
phố Hà Nội.
- Thời gian: từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017.
- Phạm vi đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các DVCTXH
đối với TKT đó là: dịch vụ can thiệp sớm, dịch vụ chăm sóc - nuôi dưỡng; dịch vụ
giáo dục; dịch vụ hướng nghiệp - dạy nghề; dịch vụ y tế PHCN; dịch vụ hỗ trợ tâm
lý - xã hội; dịch vụ trợ giúp pháp lý và dịch vụ văn hóa, văn nghệ, thể thao, giải trí
cho TKT.
4.3. Khách thể nghiên cứu
- 105 gia đình TKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn.
- 42 cán bộ, nhân viên đang cung cấp DVCTXH đối với TKT tại trung tâm.
6
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Trong đó, phương pháp luận duy vật biện chứng để xem xét các dịch vụ công tác xã
hội đối với trẻ khuyết tật trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường và hệ thống
xung quanh, đặt vấn đề trong một tổng thể. Đặc biệt nghiên cứu, thu thập, xử lý,
khái quát hóa những thông tin, những nghiên cứu thuộc các vấn đề liên quan đến đề
tài từ đó phân tích, tổng hợp nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu:
“Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức
năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội”.
Phương pháp thống kê toán học (xử lý số liệu): dùng các phương pháp toán
thống kê để tính toán, xử lý số liệu thu được.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm rõ thêm những vấn đề lý luận trong
DVCTXH đối với TKT, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng cũng như làm rõ thêm các cơ
sở pháp lý trong cung cấp DVCTXH đối với TKT, góp phần tích cực vào công tác
trợ giúp trẻ em có nhu cầu đặc biệt.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đề xuất một số định hướng và giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao
hiệu quả DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm. Kết quả nghiên cứu có thể là nguồn
tài liệu tham khảo cho tổ chức và cá nhân nghiên cứu về DVCTXH đối với TKT
hay các vấn đề liên quan.
Dưới góc độ tiếp cận của các lý thuyết, phương pháp công tác xã hội, nghiên
cứu góp phần thay đổi nhận thức của cán bộ nhân viên đang cung cấp các
DVCTXH tại các cơ sở BTXH, các trung tâm, cơ quan quản lý. Nghiên cứu giúp họ
nhận thức đúng về hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp, ý thức được vai trò
của mình trong các hoạt động đó. Đó là nhân tố quyết định chất lượng các
DVCTXH đối với TKT.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về DVCTXH đối với TKT.
Chương 2: Thực trạng DVCTXH đối với TKT từ thực tiễn Trung tâm PHCN
Việt – Hàn, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm.
8
9
khuyết tật thể chất, (9) khuyết tật sức khoẻ, (10) khó khăn về học, (11) khuyết tật
ngôn ngữ, (12) tổn thương não, (13) khiếm thị [13].
Ở Việt Nam, theo Luật Người khuyết tật năm 2010, khuyết tật được phân
thành 06 dạng khuyết tật như sau: (1) Khuyết tật vận động, (2) Khuyết tật nghe, nói,
(3) Khuyết tật nhìn, (4) Khuyết tật thần kinh, tâm thầ n, (5) Khuyết tật trí tuệ, (6)
Khuyết tật khác [40].
1.1.3. Mức độ khuyết tật
Theo điều 3 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ, về
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, có 3
mức độ khuyết tật:
Một là, khuyết tật đặc biệt nặng: những trẻ do khuyết tật dẫn đến mất hoàn
toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi
lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá
nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
Hai là, khuyết tật nặng: bao gồm những trẻ do khuyết tật dẫn đến mất một
phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được
một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ
nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc.
Ba là, khuyết tật nhẹ: gồm những TKT không thuộc các trường hợp được
quy định tại hai mức độ trên [10].
1.1.4. Đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ khuyết tật
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội bao giờ cũng tồn tại một bộ
phận những người khuyết tật. Theo tổ chức Y tế thế giới, số người khuyết tật chiếm
khoảng 10% dân số, trong đó có 1/3 là trẻ em. Ở Việt Nam, theo thống kê chưa đầy
đủ, có khoảng gần 1 triệu trẻ thuộc các dạng khuyết tật khác nhau. Như vậy, sự tồn
tại của TKT là một thực tế khách quan [20].
Có thể nhận thấy mỗi TKT là một bức tranh điển hình hết sức đa dạng,
khác, đó là được tham gia vào tất cả các hoạt động trong đời sống hàng ngày, được
làm việc, sinh hoạt vui chơi, giải trí như mọi người khác và theo khả năng của chính
cá nhân mình.
Việc đáp ứng các nhu cầu này cho TKT thường gặp những khó khăn nhất
định, một số nhu cầu bậc cao của các em ít có cơ hội được đáp ứng như học văn
hóa, học nghề, tìm kiếm việc làm, tiếp cận dịch vụ xã hội. Chính vì vậy, đối với
TKT thì ngoài sự cố gắng của bản thân, các em rất cần sự hỗ trợ phù hợp từ phía gia
đình và cộng đồng để các em có thêm cơ hội được đáp ứng các nhu cầu.
12
1.2. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật
1.2.1. Một số khái niệm:
1.2.1.1. Dịch vụ, dịch vụ xã hội
Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con
người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể hữu hình như
hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội [15].
Dịch vụ xã hội là các hoạt động cụ thể được xây dựng trên cơ sở chính sách
xã hội được triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân, gia đình và cộng đồng, nhằm
giải quyết những vấn đề xã hội. Các dịch vụ xã hội là các hoạt động của nhân viên
xã hội và những nhà chuyên nghiệp khác nhằm nâng cao sức khỏe và chất lượng
sống của con người và giúp đỡ con người không phụ thuộc; củng cố các mối quan
hệ gia đình; khôi phục chức năng xã hội đối với cá nhân, gia đình, nhóm và cộng
đồng (Whitaker anh Federico, 1990) [15].
Theo tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Tuấn (2012) cho rằng: dịch vụ xã hội là
dịch vụ đáp ứng nhu cầu của cộng đồng cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò
đảm bảo phúc lợi xã hội, đề cao giá trị pháp lý, nhân văn, vì con người; là hoạt động
mang bản chất kinh tế - xã hội, do nhà nước, thị trường hoặc xã hội dân sự cung
ứng, tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay tư của từng loại hình dịch
độ khác nhau.
1.2.1.3. Khái niệm dịch vụ công tác xã hội
Dịch vụ công tác xã hội có thể được coi là một loại hình dịch vụ xã hội được
cung cấp bởi các nhân viên công tác xã hội [33].
Vậy DVCTXH là một hoạt động chuyên nghiệp của Công tác xã hội gồm
hoạt động của các nhân viên công tác xã hội hoặc những nhà hoạt động xã hội nhằm
hỗ trợ, kết nối các cho các đối tượng yếu thế trong xã hội được tiếp cận các dịch vụ
xã hội phù hợp để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của các đối tượng này với mục tiêu
khắc phục rủi ro, giúp cho con người phát triển mà không bị phụ thuộc, góp phần
đảm bảo an sinh xã hội [35].
1.2.1.4. Khái niệm Dịch vụ công tác xã hội với trẻ khuyết tật:
Dịch vụ công tác xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế chính là việc cung
cấp các hoạt động mang tính chất phòng ngừa – khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng
đồng cho các nhóm đối tượng yếu thế dựa trên các nhu cầu cơ bản của họ nhằm
đảm bảo các giá trị và chuẩn mực xã hội [43].
14
DVCTXH đối với TKT là hoạt động chuyên nghiệp của CTXH nhằm cung
cấp các DVCTXH đầy đủ, phù hợp và đặc thù để đáp ứng các nhu cầu của TKT với
mục tiêu giúp các em khắc phục những khiếm khuyết về thể chất, tinh thần, phát
huy khả năng và hòa nhập cộng đồng, mang lại sự công bằng và bình đẳng cho TKT
trong xã hội [16].
1.2.2. Cách tiếp cận và yêu cầu đối với nhân viên công tác xã hội khi cung
cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ khuyết tật
1.2.2.1. Tiếp cận theo nhu cầu
Tiếp cận theo nhu cầu của TKT là cách tiếp cận dựa trên việc đáp ứng tốt
nhất các dịch vụ công tác xã hội đối với các nhu cầu của TKT.
Đây là cách tiếp cận mang tính nhân văn vì coi trọng TKT và nhu cầu của các
em là vấn đề được đặt lên hàng đầu. Do đó, việc tiếp cận theo nhu cầu của Maslow
sẽ giúp chúng ta thấy được các TKT có nhiều cấp bậc nhu cầu khác nhau, có đặc
điểm tiền đề phát triển khác nhau, có đặc điểm khí chất khác nhau, hoàn cảnh gia
đình của các em khác nhau. Trong luận văn này, tác giả sẽ sử dụng các nội dung cơ
bản về tiếp cận theo nhu cầu để tập trung nghiên cứu và tìm hiểu các dịch vụ đáp
ứng các nhu cầu cho TKT tại Trung tâm hiện nay, đồng thời chỉ ra những dịch vụ
nào theo nhu cầu của TKT chưa được Trung tâm đáp ứng, từ đó đưa ra kế hoạch và
giải pháp phù hợp nhằm đạt được mục đích nghiên cứu.
1.2.2.2. Tiếp cận vì lợi ích tốt nhất
Theo từ điển tiếng Việt: “lợi ích là điều có lợi, điều cần thiết” vậy lợi ích tốt
nhất có nghĩa là điều có lợi nhất, điều cần thiết nhất cho TKT [37].
Tiếp cận theo tôn chỉ đem lại lợi ích tốt nhất cho TKT là cách tiếp cận với
việc cung cấp các dịch vụ bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em. Tiếp cận theo nguyên
tắc vì lợi ích tốt nhất có ý nghĩa ở việc gì hay dù ở bất cứ tình huống nào, lợi ích của
TKT luôn được đặt lên hàng đầu [16, tr.21].
Theo cách tiếp cận này thì mục tiêu tối cao của mọi hành động liên quan đến
TKT phải vì “cuộc sống tốt nhất” của các em, đây là kim chỉ nam để hướng dẫn các
hành động phù hợp vì TKT. Đối với TKT tiếp cận vì lợi ích tốt nhất còn có ý nghĩa
các dịch vụ cung cấp cho trẻ phải tạo ra một môi trường ít hạn chế nhất để trẻ có thể
tiếp cận và phát triển.
16
1.2.2.3. Tiếp cận dựa trên quyền con người
Theo từ điển tiếng Việt: “Quyền con người là những quyền tự nhiên của con
người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào” [37].
Tiếp cận dựa trên quyền con người có chứa đựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và
mục tiêu của hệ thống quyền con người trong quá trình lập kế hoạch, cũng như tiến
trình thực hiện các hoạt động CTXH [16, tr.21].
chú tâm đến TKT. Nhân viên CTXH chăm sóc TEKT đón nhận sự chia sẻ, thấu hiểu
nỗi đau khổ của TEKT, quan tâm đến nhu cầu, tâm tư của các em. Với TKT các em
rất nhạy cảm với thái độ, cách cư xử của người khác, vậy nên việc giúp TKT tự tin,
thấy rõ giá trị bản thân, biết chấp nhận bản thân để khắc phục là điều quan trọng.
+ Chấp nhận sự khác biệt
Giá trị này muốn chuyển tải đến NVCTXH cần luôn tin tưởng vào sự khác
biệt, duy nhất của mỗi cá nhân, hoàn cảnh sống, nhu cầu, cảm xúc, mong muốn,
những ưu điểm và khuyết điểm khác biệt. Những giá trị riêng này giúp cho nhân
viên CTXH phải suy nghĩ và sáng tạo trong cách tiếp cận giúp đỡ từng TKT. Ngay
cả khi TKT gặp những khó khăn như nhau thì cách giải quyết giúp đỡ sẽ khác nhau
do mỗi cá nhân có hoàn cảnh, tâm tư tình cảm, suy nghĩ, nhận thức và những điểm
mạnh khác nhau.
+ Tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề vấn đề của trẻ khuyết tật
Trong CTXH với TKT, nguyên tắc tin vào tính tự quyết của đối tượng là
nguyên nhân tắc mà NVCTXH luôn phải nhận thức và chú trọng trong quá trình
làm việc. NVCTXH giúp đối tượng nhận ra những điểm mạnh của mình, phân tích
tìm ra các giải pháp khác nhau để đối tượng có thể tự mình quyết định giải pháp giải
quyết vấn đề của mình.
+ Trung thực, chân thành với TKT
Đây là nguyên tắc không thể thiếu của người NVCTXH, việc TKT được nhận
những thông tin đầy đủ, trung thực giúp họ có thể lường hết được những khó khăn
cũng như những điều bất trắc xảy ra với họ, để họ tăng cường giải pháp đề phòng.
Nếu họ không được nhận những thông tin trung thực, khi họ gặp khó khăn thì khó
có thể thích nghi kịp, có thể xuất hiện sự bất an, thậm chí sợ hãi khi khả năng “tự
vệ” của mình hạn chế nhất định do các dạng tật gây ra [15].
18
1.2.3. Các dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật
19