Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng việt – hàn, thành phố hà nội (tt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NHƯ QUỲNH

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ
KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VIỆT – HÀN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017
1


Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí
Phản biện 2: TS. Nguyễn Thị Vân

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội, hồi ...... ,ngày .... tháng..... năm 2017


người khuyết tật nói chung và việc cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu
của TKT nói riêng là mục tiêu quan trọng được thành phố đặc biệt
quan tâm và có ý nghĩa sâu sắc nhằm góp phần đảm bảo an sinh xã
hội của Thủ đô.

1


Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn là một đơn vị sự
nghiệp công lập trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà
Nội với chức năng nuôi dưỡng, chăm sóc, điều trị, phục hồi chức
năng (PHCN) và hướng nghiệp dạy nghề cho TKT trên địa bàn thành
phố Hà Nội. Trong thời gian qua, Trung tâm đã tiến hành các
DVCTXH đối với TKT theo chức năng, nhiệm vụ song thực tế hiệu
quả của hoạt động này chưa cao. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các
hoạt động trợ giúp TKT mang tính chuyên nghiệp, toàn diện, hiệu
quả và đáp ứng được nhu cầu thực tiễn là lý do để tôi chọn đề tài:
“Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm
phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên
cứu luận văn thạc sỹ ngành công tác xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có rất nhiều công trình khoa học được tiến hành nghiên cứu,
nhiều giáo trình và tài liệu tham khảo được xuất bản, đồng thời có
nhiều cuộc hội thảo ở nhiều cấp độ khác nhau được tổ chức. Có thể
kể đến một số tài liệu có liên quan mật thiết đến đề tài.
2.1. Nghiên cứu của Quốc tế:
Hozumi Araki (2011),“Nghiên cứu những nhu cầu của các gia
đình có trẻ khuyết tật tại các nước vùng Đông Á: Nhật Bản, Trung
Quốc và Việt Nam” trong Báo cáo nghiên cứu Quốc tế về Phát triển
chương trình giáo dục và chữa trị cho trẻ khuyết tật phát triển.

Từ đó đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng
DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố
Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: để đạt được các mục đích nghiên cứu
đề ra, luận văn thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là: nghiên cứu cơ sở lý luận về DVCTXH đối với TKT.
Hai là: tìm hiểu, đánh giá thực trạng DVCTXH đối với TKT tại
Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội. Các yếu tố ảnh
hưởng đến việc cung cấp DVCTXH đối với TKT tại đây.
Ba là: đưa ra được một số định hướng và các giải pháp cơ bản để
nâng cao chất lượng DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm PHCN
Việt – Hàn, thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại hình DVCTXH đối
với TKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội.


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn: nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm PHCN Việt
– Hàn, thành phố Hà Nội.
- Thời gian: từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017.
- Phạm vi đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các
DVCTXH đối với TKT đó là: dịch vụ can thiệp sớm, dịch vụ chăm
sóc, nuôi dưỡng; dịch vụ giáo dục; dịch vụ hướng nghiệp - dạy nghề;
dịch vụ y tế PHCN; dịch vụ hỗ trợ tâm lý - xã hội; dịch vụ trợ giúp
pháp lý và dịch vụ văn hóa, văn nghệ, thể thao, giải trí cho TKT.
4.3. Khách thể nghiên cứu
- 105 gia đình TKT tại Trung tâm PHCN Việt – Hàn.
- 42 cán bộ, nhân viên đang cung cấp DVCTXH đối với TKT tại

chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về DVCTXH đối với TKT.
Chương 2: Thực trạng DVCTXH đối với TKT từ thực tiễn Trung
tâm PHCN Việt – Hàn, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC
XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT
1.1. Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của trẻ khuyết tật
1.1.1. Khái niệm trẻ khuyết tật
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm TKT như sau:
TKT là những trẻ từ 0 – 18 tuổi, bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ
phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng
tật khiến cho sinh hoạt, học tập, vui chơi và lao động gặp khó khăn.
1.1.2. Phân loại khuyết tật
Theo Luật Người khuyết tật của Việt Nam năm 2010, TKT được
phân thành 06 dạng: (1)Khuyết tật vận động, (2) Khuyết tật nghe,
nói, (3) Khuyết tật nhìn, (4) Khuyết tật thần kinh, tâm thầ n, (5)
Khuyết tật trí tuệ, (6) Khuyết tật khác [40].
1.1.3. Mức độ khuyết tật
Theo điều 3 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của
Chính phủ, về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật người khuyết tật, có 3 mức độ khuyết tật: (1) Khuyết tật đặc
biệt nặng. (2) Khuyết tật nặng. (3) Khuyết tật nhẹ [10].


1.1.4. Đặc điểm và nhu cầu của trẻ khuyết tật
1.1.4.1. Đặc điểm của TKT
TKT đều có khả năng nhận thức, tuy hình thức, tốc độ và mức độ



bởi bộ máy tổ chức theo một ngành dọc và liên ngành. Bên cạnh đó,
CTXH được thực hiện trên một nền tảng hệ giá trị, nguyên tắc, yêu
cầu nghề nghiệp theo quy định của pháp luật. Đồng thời, CTXH còn
là một ngành khoa học, bao gồm hệ thống kiến thức lý thuyết và kỹ
năng thực hành được đào tạo ở nhiều trình độ khác nhau.
1.2.1.3. Khái niệm Dịch vụ công tác xã hội
DVCTXH là một hoạt động chuyên nghiệp của Công tác xã hội
gồm hoạt động của các nhân viên công tác xã hội hoặc những nhà
hoạt động xã hội nhằm hỗ trợ, kết nối các cho các đối tượng yếu thế
trong xã hội được tiếp cận các dịch vụ xã hội phù hợp để đáp ứng các
nhu cầu cơ bản của các đối tượng này với mục tiêu khắc phục rủi ro,
giúp cho con người phát triển mà không bị phụ thuộc, góp phần đảm
bảo an sinh xã hội.
1.2.1.4. Khái niệm Dịch vụ công tác xã hội với trẻ khuyết tật:
DVCTXH đối với TKT là hoạt động chuyên nghiệp của CTXH nhằm
cung cấp các DVCTXH đầy đủ, phù hợp và đặc thù để đáp ứng các
nhu cầu của TKT với mục tiêu giúp các em khắc phục những khiếm
khuyết về thể chất, tinh thần, phát huy khả năng và hòa nhập cộng
đồng, mang lại sự công bằng và bình đẳng cho TKT trong xã hội
[16].
1.2.2. Cách tiếp cận và yêu cầu đối với NVCTXH khi cung cấp
DVCTXH cho TKT
1.2.2.1. Tiếp cận theo nhu cầu
Tiếp cận theo nhu cầu của TKT là cách tiếp cận dựa trên việc đáp
ứng tốt nhất các DVCTXH đối với các nhu cầu của TKT.
Trong luận văn này, tác giả sẽ sử dụng cách tiếp cận theo nhu cầu
của Maslow để tập trung nghiên cứu và tìm hiểu nhu cầu và việc đáp
ứng các nhu cầu cho TKT tại Trung tâm hiện nay. Việc tiếp cận theo

1.2.3.1. Dịch vụ chăm sóc – nuôi dưỡng
Dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng là việc thực hiện các hoạt động
nhằm đáp ứng các nhu cầu về mặt sinh lý, sinh tồn, tạo điều kiện tốt
nhất cho trẻ phát triển về mặt thể chất. Ngày 25/02/2011, Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội ban hành thông tư số
04/2011/BLĐTBXH-TT quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại cơ sở bảo
trợ xã hội. Trong đó có một số tiêu chuẩn liên quan đến hoạt động bảo


vệ, chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho trẻ em tại cơ sở bảo trợ
xã hội như: về chăm sóc, đảm bảo dinh dưỡng; về vệ sinh và đồ dùng
sinh hoạt; về quần áo...[4]
1.2.3.2. Dịch vụ can thiệp sớm
Can thiệp sớm cho TKT là những chỉ dẫn ban đầu và các dịch vụ
dành cho trẻ và gia đình TKT trước tuổi tiểu học nhằm kích thích và
huy động sự phát triển tối đa ở trẻ, tạo điều kiện và chuẩn bị tốt cho
trẻ tham gia vào hệ thống giáo dục bình thường và cuộc sống sau này
[41].
Hiện nay có các hình thức can thiệp sớm đó là can thiệp sớm tại
nhà, tại trung tâm/ cơ sở y tế, tại cơ sở giáo dục và tại trung tâm.
1.2.3.3. Hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng
TKT với tình trạng suy giảm thể chất, tinh thần nên ảnh hưởng
đến chức năng của cá nhân đó. Để trẻ khuyết tật có thể là hoàn lại
một cách tối đa thực thể, tinh thần và nghề nghiệp, ngăn ngừa thương
tật thứ cấp, tăng cường khả năng còn lại của trẻ để giảm hậu quả
khuyết tật cho bản thân, gia đình và xã hội thì trẻ cần thiết được hỗ
trợ để tiếp cận các dịch vụ y tế, PHCN [4].
1.2.3.4. Hỗ trợ giáo dục
Dịch vụ giáo dục đối với TKT đa dạng và mỗi mô hình có ưu
điểm riêng, hữu ích đối với TKT ở các mức độ khác nhau nhau nên

còn giúp các em phát huy được khả năng của mình [10].
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến DVCTXH đối với TKT
1.3.1. Chính sách và cơ chế quản lý nguồn lực.
1.3.2. Năng lực, trình độ của cán bộ thực hiện các DVCTXH
1.3.3. Khả năng tiếp cận dịch vụ của trẻ và gia đình TKT
1.3.4. Nhận thức, phản ứng của gia đình và cộng đồng
1.3.5. Yếu tố hợp tác quốc tế
1.4. Cơ sở pháp lý về DVCTXH đối với TKT
1.4.1. Những văn bản Quốc tế liên quan tới trợ giúp TKT
Có hai cơ sở pháp lý Quốc tế quan trọng liên quan đến DVCTXH
với TKT là công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (1989)[32]
và công ước quốc tế về Quyền của NKT [22].
1.4.2. Luật pháp, chính sách liên quan tới trợ giúp người
khuyết tật nói chung và dịch vụ công tác xã hội cho trẻ khuyết tật ở
Việt Nam


Có hai cơ sở pháp lý quan trọng liên quan đến TKT là Luật Bảo
vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 [39] và Luật Người khuyết
tật năm 2010 [40].
Ngoài những văn bản Luật liên quan đến NKT thì còn một số văn
bản dưới luật đề cập đến hoạt động chăm sóc, trợ giúp NKT như:
- Nghị định số: 136/2013/NĐ-CP ban hành ngày 21 tháng 10
năm 2013 quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng
bảo trợ xã hội [11]. Nghị định số: 28/2012/NĐ-CP ban hành ngày 10
tháng 4 năm 2012 Quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật NKT [10];
Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành nhiều kế
hoạch để tăng cường công tác chăm sóc và trợ giúp người khuyết tật
như: Kế hoạch 161/KH-UBND ngày 10/10/2013 về thực hiện Đề án

Nam, đồng thời là thành phố có diện tích lớn nhất và là địa phương
có dân số đứng thứ hai cả nước. Trong đó, dân cư của Hà Nội có một
bộ phận bị khuyết tật, đặc biệt là trẻ em. Theo số liệu từ kết qủa cuộc
điều tra TKT trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2012 – 2014 do Trung
tâm giáo dục TKT thuộc Viện Khoa học giáo dục Việt Nam tiến hành
cho thấy, Hà Nội hiện có 10.924 trẻ mắc các dạng khuyết tật kể trên
chiếm khoảng 0,15% dân số (10.924/7,5 triệu) và 0,64% trên tổng số
trẻ em (10.924/1,7 triệu)[36]. Đáng chú ý, ở tất cả 30 quận, huyện, thị
xã của thành phố Hà Nội đều có TKT.
2.1.2. Trung tâm phục hồi chức năng Việt – Hàn
2.1.2.1. Lịch sử thành lập
Trung tâm Phục hồi chức năng Việt – Hàn (Xã Đông Yên Huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội) là kết quả của sự hợp tác giữa
Tổ chức “The Global Civic Sharing” (Hàn Quốc) và Sở Lao động
Thương binh và Xã hội Hà Nội.
2.1.2.2. Sứ mạng, mục đích và nhiệm vụ của Trung tâm
Trung tâm có chức năng nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục đặc biệt và hướng nghiệp nghề, y tế trị liệu PHCN cho TKT trên
địa bàn thành phố Hà Nội. Tiếp nhận các dự án tài trợ của các tổ
chức Chính phủ, phi Chính phủ trong và ngoài nước theo quy định
của pháp luật.
2.1.2.3. Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị
Trung tâm được xây mới trên diện tích 19.526,8 m2 với mức bình
quân 174m2/trẻ. Trong đó diện tích đã xây dựng là 3.849,5 m2 bao
gồm các khu nhà hành chính, phòng khám, nhà ăn, nhà đa năng, khu


PHCN, khu nhà khách, khu nhà nội trú…về cơ bản đáp ứng được
những điều kiện cần thiết cho các hoạt động giáo dục, hướng nghiệp,
PHCN theo đúng chức năng và nhiệm vụ.
2.1.2.4. Cơ cấu tổ chức


Hơn nữa, nhiều em sống trong gia đình thiếu vắng bố mẹ nên các em
không được đáp ứng đầy đủ các điều kiện phục vụ cho hoạt động học
tập, lao động, rèn luyện thể chất và vui chơi giải trí cũng như ảnh
hưởng đến việc hình thành và phát triển nhân cách của các em. Đồng
thời ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của gia đình đối với các
DVCTXH tại Trung tâm.
2.2.5. Thực trạng nhu cầu của TKT

Biểu đồ 2.5: Mức độ nhu cầu của TKT
(Nguồn: kết quả khảo sát GĐTKT và Cán bộ của Tác giả)
Như vậy, TKT tại Trung tâm có rất nhiều nhu cầu (8 nhu cầu)
cần trợ giúp khác nhau và mức độ chung của các nhu cầu cần trợ giúp
này rất lớn. Trong đó, xếp ở vị trí cao nhất là nhu cầu can thiệp sớm

X = 3,22). Xếp thứ hai là nhu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng
với ( X = 2,71), còn nhu cầu được học nghề xếp thứ 8 với ( X =
với (

1,78).
Qua thứ bậc nhu cầu trên ta thấy rằng, các nhu cầu của TKT có
sự chênh lệch nhau. Nhưng những nhu cầu này cũng tuân theo bậc
thang nhu cầu Maslow nói chung, đó là càng những nhu cầu bậc cao
thì mức độ nhu cầu có giảm hơn. Tuy nhiên, qua thực trạng chúng ta
thấy giữa gia đình và cán bộ Trung tâm cần xem xét lại việc đánh giá
nhu cầu của trẻ, vì những nhu cầu mong muốn được đáp ứng đối với
TKT dưới con mắt của gia đình và cán bộ Trung tâm, của nhà chuyên
môn chưa có sự tương đồng nhiều nên dẫn đến các dịch vụ chưa đáp
ứng phù hợp với nhu cầu của TKT và gia đình. Ý kiến chênh lệch


X

= 4,71). Điều đáng chú ý trong thứ bậc đánh

giá là thái độ làm việc của cán bộ chăm sóc xếp cuối cùng với ( X =
3,25). Từ thực trạng trên cho thấy Trung tâm cần có giải pháp nhằm
nâng cao mọi mặt về chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng cho TKT tại
Trung tâm.
2.3.1.2. Dịch vụ Y tế, Phục hồi chức năng


Qua kết quả khảo sát,dịch vụ chăm sóc y tế - PHCN được đánh
giá khá cao về sự hài lòng với ( X chung = 3,61). Mức độ hài lòng
về từng nội dung trong dịch vụ được cụ thể như sau:
Xếp thứ bậc cao nhất đó là thái độ của cán bộ y tế PHCN với
( X = 3,83). Tuy có sự khác nhau về mức độ đánh giá nhưng theo cả
gia đình trẻ và cán bộ có điểm chung về đánh giá kết quả PHCN đối
với TKT đều xếp cuối cùng với (

X

= 3,32), tức là sự tiến bộ của trẻ
chưa cao. Đây là một câu hỏi đặt ra đối với việc nâng cao hiệu quả
PHCN tại Trung tâm.
2.3.1.3. Dịch vụ Giáo dục
Nhìn vào bảng 2.7 thấy được sự hài lòng về dịch vụ giáo dục đối
với TKT tại Trung tâm qua ý kiến của GĐTKT và cán bộ là chưa cao
thể hiện qua (

X

có con được tham gia dịch vụ hướng nghiệp – dạy nghề cho rằng TKT
và gia đình chưa nhận được sự tư vấn, kết nối về các hoạt động nghề
nghiệp hay cơ hội, khả năng lao động của con họ.
Mức độ hài lòng về nội dung khảo sát “TKT có khả năng làm
việc khi hoàn thành chương trình” được xếp thứ 4 với ( X = 1,76).
Tuy vậy, dịch vụ hướng nghiệp – dạy nghề cũng nhận được sự
hài lòng cao nhất về nội dung khảo sát “Thái độ của giáo viên nghề”
với (

X

= 2,47).
2.3.2.5. Dịch vụ về văn hóa, văn nghệ, thể thao, giải trí
Qua bảng khảo sát cho thấy, dịch vụ văn hóa, văn nghệ, thể thao
và giải trí được đánh giá cao nhất trong 5 dịch vụ hiện đang được
cung cấp cho TKT tại Trung tâm hiện nay với ( X chung = 4,15).
Như vậy, nhìn vào kết quả thấy được chất lượng dịch vụ này
được gia đình ghi nhận và cán bộ đánh giá cao, cụ thể đó là nội dung
các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, giải trí được tổ chức được
xếp thứ nhất với ( X = 6,81).
Hơn thế nữa hoạt động đã huy động được sự tham gia cả về vật
chất và tinh thần của các tổ chức đoàn thể và cá nhân trong việc trợ
giúp trẻ.
Tuy nhiên, ở nội dung về trang thiết bị, đồ chơi thì mức độ hài
lòng thấp, xếp bậc cuối cùng với (

X

= 2,34). Với lý do, mặc dù
Trung tâm đã có khu vui chơi cho trẻ nhưng thiết bị đồ chơi còn hạn

về chính sách và cơ chế quản lý nguồn lực với (

X

= 4,02).
Yếu tố được xếp thứ bậc thấp hơn đó là yếu tố về khả năng tiếp

cận dịch vụ của trẻ và gia đình TKT với ( X = 4) được xếp thứ ba.
Theo thứ bậc trong bảng thì yếu tố có ảnh hưởng ít nhất đó là yếu tố
hợp tác quốc tế với (

X

= 3,64).
2.5. Đánh giá dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật từ
thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng Việt – Hàn, thành phố
Hà Nội
2.5.1. Những kết quả đạt được của dịch vụ công tác xã hội đối
với trẻ khuyết tật tại Trung tâm
Thứ nhất, các dịch vụ được cung cấp đảm bảo việc thực hiện
quyền trẻ em theo Luật pháp quy định.


Thứ hai, các dịch vụ cung cấp tương đối đa dạng và toàn diện
cho TKT.
Thứ ba, các dịch vụ phần nào được tiếp cận theo độ tuổi, dạng tật
và mức độ khuyết tật.
Thứ tư, các dịch vụ đã huy động được một số nguồn lực tham gia.
Nguyên nhân: được sự quan tâm, chỉ đạo của Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội; sự phối kết hợp chặt chẽ của Phòng
LĐTBXH các quận, huyện, thị xã; sự giúp đỡ hiệu quả của tổ chức

nhân viên Trung tâm về các dịch vụ như: dịch vụ chăm sóc, nuôi
dưỡng và dịch vụ văn hóa, văn nghệ, thể thao và giải trí. Tuy nhiên,
thực tiễn DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm còn chưa thực sự
chuyên nghiệp, chưa toàn diện và chưa đạt hiệu quả cao với nhiều
vấn đề cần phải giải quyết như: sự thiếu hụt của một số dịch vụ, cơ
cấu tổ chức còn chưa hoàn thiện; cơ sở vật chất bị xuống cấp; thái độ,
kiến thức, kỹ năng của cán bộ cung cấp dịch vụ còn hạn chế; hiệu
quả của một số dịch vụ còn chưa đáp ứng được nhu cầu của trẻ và gia
đình, đặc biệt giữa Trung tâm và gia đình chưa có sự thống nhất
trong đánh giá về nhu cầu của trẻ; các dịch vụ cung cấp mới chỉ dừng
lại ở việc hỗ trợ TKT mà chưa có hoạt động trợ giúp cho gia đình hay
chưa huy động được sự tham gia của gia đình trẻ.
Chính vì vậy, cần thiết phải có sự định hướng và các giải pháp
trong việc cung cấp các DVCTXH đối với TKT tại Trung tâm trong
thời gian tới, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng các dịch vụ cho
TKT tại Trung tâm, góp phần hoàn thành tốt sứ mệnh, mục đích và
nhiệm vụ được giao.
Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ
KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM PHCN VIỆT – HÀN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Một số định hướng trong phát triển các dịch vụ công tác
xã hội đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm
Trên cơ sở lí luận về DVCTXH đối với TKT; cơ sở thực tiễn về
nhu cầu, đặc điểm của TKT đang được chăm sóc, PHCN tại Trung
tâm và thực trạng DVCTXH đang được cung cấp; để nâng cao hơn
nữa chất lượng các DVCTXH đối với TKT, trong thời gian tới Trung
tâm cần được thực hiện theo những định hướng sau:


cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí để tổ chức các hoạt động
các chương trình như ngoại khóa, thực hành các nội dung về giáo dục
kỹ năng sống cho TKT.


3.2.3. Mở rộng các loại hình dịch vụ công tác xã hội
Để đưa các dịch vụ của Trung tâm đáp ứng toàn diện các nhu cầu
của trẻ và gia đình. Trung tâm cần xem xét bổ sung thêm các dịch vụ
đảm bảo TKT được can thiệp sớm hơn nhằm nâng cao hiệu quả phục
hồi của các em, đồng thời thông qua các hoạt động tư vấn/ tham vấn,
trợ giúp pháp lý giúp TKT và gia đình được tiếp cận thông tin, có
thêm kiến thức, kỹ năng và sự phối hợp tốt đối với Trung tâm.
Đặc biệt là có thể mở thêm loại hình dịch vụ có thu phí đối với
những trường hợp có nhu cầu như dịch vụ can thiệp sớm hay trị liệu
PHCN nhằm đáp ứng nhu cầu DVCTXH của các đối tượng tại cộng
đồng.
3.2.4. Nâng cao nhận thức của gia đình, đảm bảo phối hợp
chặt chẽ giữa gia đình và trung tâm
Một mặt, Trung tâm cũng cần có các dịch vụ hỗ trợ đối với gia
đình nhằm nâng cao nhận thức của gia đình.
Mặt khác, điều mà Trung tâm cần phải làm là duy trì, khuyến
khích sự tham gia của gia đình một cách thường xuyên, liên tục.
Tiểu kết chương 3
Như vậy, để các DVCTXH cho trẻ tại Trung tâm đạt hiệu quả
hơn nữa, trong thời gian tới cần làm cho các DVCTXH tại Trung tâm
trở thành chuyên nghiệp. Các dịch vụ hiện có tại Trung tâm cần phải
phù hợp với khả năng và nhu cầu, đặc điểm cũng như đảm bảo các
quyền của trẻ. Đồng thời, cần có những dịch vụ trợ giúp cho gia đình
trẻ và khuyến khích sự tham gia của họ vào các dịch vụ một cách liên
tục và hiệu quả. Bên cạnh đó, cần huy động các nguồn lực tham gia

tâm còn chưa thực sự chuyên nghiệp, chưa toàn diện và tính hiệu quả
chưa cao. Điều đó đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, đặc biệt là
vấn đề chuyên nghiệp hóa các hoạt động CTXH tại Trung tâm, chính
sự thiếu chuyên nghiệp này đã làm cho một số dịch vụ của Trung tâm
chưa đến được với TKT và gia đình hoặc có nhiều dịch vụ TKT có
nhu cầu nhưng Trung tâm chưa đáp ứng được. DVCTXH còn thiếu
những dịch vụ hỗ trợ về pháp lý, các hoạt động tư vấn/ tham vấn.
Những dịch vụ về giáo dục, phục hồi chức năng hay hướng nghiệp –
dạy nghề tuy đã đi vào các hoạt động chuyên sâu nhưng chất lượng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status