MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Dân số Việt Nam đang bước vào thời kỳ già hóa với tốc độ nhanh trong thời gian tới. Tỷ lệ người
cao tuổi hiện chiếm khoảng 10,9% tổng dân số, với hơn 10 triệu người. Việt Nam có 10 % dân số là người
cao tuổi. Trong đó, khoảng 10.000 cụ đang được nuôi dưỡng tại các trung tâm chăm sóc. Tính đến tháng 82016, tỉnh Vĩnh Long có hơn 99.300 người cao tuổi. Làm sao để phát huy được truyền thống hiếu nghĩa,
kính lão đắc thọ là điều trân quý mà mỗi người đều phải luôn nhớ và khắc ghi.
Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm nhất quán về việc chăm sóc người cao tuổi và coi đây là một
chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước, được thể hiện thông qua các Văn kiện đại hội đảng và các Chỉ
thị như: Chỉ thị 59/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương “Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định: “Việc chăm
sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội...
Trước hết cần quan tâm chăm sóc những người cao tuổi có công, cô đơn không nơi nương tựa, tàn tật và bất
hạnh”; Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng cũng đã nêu: “Quan tâm chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện
để người cao tuổi hưởng thụ văn hoá, được tiếp cận thông tin, sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc…. giúp
đỡ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa”.
Nước ta được đánh giá là một nước có số người cao tuổi ngày càng gia tăng nhanh. Điều đó tạo áp lực
cho hệ thống hạ tầng cơ sở hiện có, hệ thống dịch vụ sức khỏe, giao thông, đi lại… cho người cao tuổi cũng
như quan hệ gia đình, tâm lý, lối sống, chăm sóc người cao tuổi và đảm bảo chất lượng chăm sóc người cao
tuổi…chắc chắn sẽ làm cho những vấn đề kinh tế - xã hội, môi trường thêm khó khăn và có nhiều biến động
không thể lường trước. Từ đó tạo ra các khó khăn, thách thức đối với nhà nước, xã hội, gia đình và người cao
tuổi.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn tại trung tâm công tác xã hội Tỉnh Vĩnh Long và quá trình học tập
nghiên cứu tại Học viện Khoa học xã hội Việt Nam chúng tôi chọn đề tài : “Dịch vụ công tác xã hội đối với
người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm công tác xã hội tỉnh Vĩnh Long” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu về người cao tuổi ở nước ngoài
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra cảnh báo cho biết, trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2050 trên
quy mô toàn cầu, số người già sẽ nhiều hơn số trẻ em dưới 14 tuổi. Già hoá dân số sẽ trở thành một vấn đề
lớn ở các nước đang phát triển, nơi mà dân số sẽ bị già hoá nhanh chóng trong nửa đầu của thế kỷ XXI. Các
nước đang phát triển sẽ là nơi có tỉ lệ người cao tuổi tăng cao nhất và nhanh nhất, theo dự báo số người cao
tuổi ở khu vực này sẽ tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới.
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về người cao tuổi, dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
- Phân tích thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại Trung tâm công tác xã hội
tỉnh Vĩnh Long hiện nay
- Áp dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với
người cao tuổi.
- Đề xuất các biện pháp thúc đẩy hiệu quả dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn
tỉnh Vĩnh Long
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội tỉnh Vĩnh
Long
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các dịch vụ công tác xã hội, bao
gồm: dịch vụ chăm sóc- nuôi dưỡng; dịch vụ hỗ trợ hỗ trợ y tế; dịch vụ tư vấn tâm lý- xã hội; dịch vụ phục
hồi chức năng…)
- Phạm vi khách thể nghiên cứu: điều tra 33 NCT đang được chăm sóc nuôi dưỡng tại Trung tâm,
phỏng vấn 10 cán bộ tại trung tâm (gồm giám đốc, các phó giám đốc phụ trách, trưởng các bộ phận chuyên
môn, nhân viên công tác xã hội, 05 người nhà NCT).
- Thời gian nghiên cứu: tháng 9 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng : từ những đánh giá thực trạng về người cao tuổi, thực trạng
của các dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi trong trung tâm công tác xã hội tỉnh Vĩnh Long, rút ra
được lý luận và đưa ra được đề xuất để nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
trong các trung tâm công tác xã hội trong cả nước và trung tâm công tác xã hội tỉnh Vĩnh Long.
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Đề tài này thuộc nhóm đề tài nghiên cứu ứng dụng lý thuyết, phương pháp công tác xã hội vào việc
giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể. Cụ thể là việc sử dụng hệ thống khái niệm, lý thuyết, phương pháp công
tác xã hội vào việc đánh giá, phân tích và đưa ra phương pháp hỗ trợ thích hợp.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Giúp cho nhân viên công tác xã hội nói riêng và các ngành có liên quan hiểu biết thêm về các chế độ
trợ cấp, các dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với người cao tuổi và những yêu cầu cần thiết để trở thành
nhân viên xã hội chuyên nghiệp trong lĩnh vực chăm sóc, trợ giúp người cao tuổi.
Bản thân sau khi nghiên cứu đề tài sẽ củng cố, mở rộng kiến thức về công tác xã hội nói chung và các dịch
vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi nói riêng, từ đó rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn
trong lĩnh vực này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, các phụ lục luận văn còn có 3 chương, gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi.
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại Trung tâm công tác xã hội
tỉnh Vĩnh Long
4
Chương 3: Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong cung cấp dịch vụ và đề xuất các
giải pháp thúc đẩy hiệu quả dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm công tác xã hội
tỉnh Vĩnh Long.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
1.1 Khái niệm, đặc điểm người cao tuổi
1.1.1 Khái niệm người cao tuổi
Người cao tuổi là một khái niệm thường được dùng để chỉ những người đã có nhiều tuổi trong xã hội.
1.1.2. Đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của người cao tuổi
1.1.2.1 Đặc điểm sinh lý
* Nhu cầu giải trí
1.2. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
Trên thế giới, công tác xã hội phát triển như một nghề nhằm giải quyết các vấn đề xã hội. Tuy nhiên,
đối với Việt Nam nghề công tác xã hội mới chỉ ở bước đầu hình thành, chưa được phát triển theo đúng ý
nghĩa của nó trên tất cả các khía cạnh.Việc tồn tại và phát triển CTXH ở Việt Nam đã trở thành một nhu cầu
xã hội.
1.2.1.Một số khái niệm
* Khái niệm dịch vụ
Dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm
bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội.
* Khái niệm công tác xã hội:
* Khái niệm dịch vụ công tác xã hội:
* Khái niệm dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
Từ khái niệm dịch vụ, dịch vụ công tác xã hội và khái niệm Công tác xã hội, Dịch vụ công tác xã
hội với người cao tuổi được hiểu đó là: các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa - hạn
chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hòa nhập cộng đồng,
xã hội cho người cao tuổi.
1.2.2. Các nguyên tắc trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
Ngoài những nguyên tắc tổng quát trong công tác xã hội như tôn trọng, không phán xét, bí mật, thu hút
sự tham gia, dành quyền tự quyết cho đối tượng. Trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người cao
tuổi nhấn mạnh một số nguyên tắc đặc trưng sau:
- Nguyên tắc chấp nhận đối tượng: Bất kể đối tượng là ai, đến từ những hoàn cảnh nào. Việc chấp
nhận đối tượng là việc chấp nhận những quan điểm, hành vi và giá trị của đối tượng để đối tượng hiểu, nhân
viên CTXH hiểu và không phán xét đối tượng. Việc này không đồng nhất với việc đồng tình với những quan
điểm, hành vi và giá trị sai lệch với xã hội.
6
- Dịch vụ toàn diện
Dịch vụ phục hồi chức năng bao gồm các dịch vụ nhằm cung cấp các biện pháp y học, kinh tế, xã
hội học, giáo dục và kỹ thuật phục hồi chức năng, làm giảm tối đa các hoạt động của giảm chức năng của
NCT.
1.2.4. Các lý thuyết ứng dụng trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
Trong phạm vi đề tài này, một số lý thuyết có thể sử dụng hiệu quả trong quá trình nghiên cứu, ứng
dụng vào thực tiễn đó là: thuyết nhu cầu con người, thuyết hệ thống
1.2.4.1. Lý thuyết nhu cầu
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý thuyết nhu cầu. Theo ông, hành vi
của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ. Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc
khác nhau theo thứ tự từ thấp đến cao về tầm quan trọng. Thang nhu cầu của ông chia làm hai cấp: cấp thấp
và cấp cao.
1.2.4.2. Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật học Lugwig von Bertalanffy (19011972). Về sau, các nhà khoa học khác nghiên cứu và phát triển như Hanson (1995), Mancoske (1981),
Siporin (1980).
Đây là một lý thuyết sinh học và từ lĩnh vực sinh học, các nguyên tắc của lý thuyết này được chuyển
sang việc giải quyết những vấn đề của chuyên ngành khác trong đó có khoa học xã hội, nghiên cứu về mối
quan hệ giữa con người với xã hội [16, tr.196].
Theo định nghĩa của CTXH hiện đại, “Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và
liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất”.
Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, chúng ta phải tìm hiểu cả hệ thống môi trường xung
quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và
ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó.
Bên cạnh đó, tìm hiểu hoạt động trợ giúp,chăm sóc NCT trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, đề
tài cũng phân tích mối quan hệ giữa NCT với các cá nhân, tổ chức, nhóm cộng đồng trong một hệ thống sinh
thái. Ở đó, các mối quan hệ có sự tác động qua lại với nhau. Để hiểu một yếu tố nào đó đều liên quan và ảnh
hưởng đến toàn bộ hệ thống đó. Lý thuyết hệ thống có ảnh hưởng rất nhiều đến các phương thức thực hiện
trong công tác xã hội như tư vấn, xử lý ca, tư vấn nhóm, tổ chức và phát triển cộng đồng.
1.2.5. Các phương pháp can thiệp trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
Trong việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho người cao tuổi, có thể tiến hành thực hiện theo nhiều
phương pháp công tác xã hội khác nhau. Tuy nhiên, đề tài đề cập đến 2 phương pháp sau
nhất của họ là muốn gắn bó với gia đình, hòa nhập với xã hội để sống cho mình và sống vì con cháu. Điều
này khẳng định rằng: truyền thống đạo đức xã hội, gia đình Việt Nam, lẽ sống của con người Việt Nam,
thuần phong mĩ tục của con người Việt Nam vẫn được bảo tồn và trụ vững. Tuy vậy, không phải không có
những xao xuyến, một số người cao tuổi có sự khủng hoảng về tâm lý. Họ bị con cháu đối xử tệ bạc, cuộc
sống của họ bị quẫn bách cả về vật chất và tinh thần, các chuẩn mực về đạo đức, lối sống với gia đình của họ
bị đảo lộn.Sự phát triển của nền kinh tế thị trường cùng với quá trình đô thị hóa đang làm nới lỏng dần các
mối liên hệ có tính truyền thống giữa gia đình, họ hàng, làng xóm… làm xuất hiện những mâu thuẫn mới
9
trong đời sống xã hội tác động xấu đến đời sống tâm lý của lớp người cao tuổi. Đặc biệt là về chỗ dựa tinh
thần truyền thống “Trẻ cậy cha, già cậy con”, “gia đình là chỗ dựa đầu tiên và là cứu cánh cuối cùng”, “Kính
lão trọng thọ”
1.3.2. Yếu tố tài chính
Theo dự báo của Bộ Lao động - thương binh - xã hội, 50 năm nữa, Việt Nam sẽ có thêm hơn 10 triệu
người cao tuổi. Số lượng người cao tuổi tăng đồng nghĩa với các nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, những dịch
vụ dành cho người già ngày càng lớn. Trong khi đó, bài toán tài chính dành cho đối tượng người cao tuổi
luôn là một vấn đề trăn trở. Phân tích từ nhiều chuyên gia cho thấy, nhóm người trung và cao tuổi ở Việt
Nam, đặc biệt là tại các khu vực thành thị có một tỷ lệ không nhỏ NCT đã có thời gian lao động đủ dài và
đạt được các vị trí trong công việc và địa vị trong xã hội, mức thu nhập ổn định, có tài chính tích lũy nên
yếu tố tài chính không ảnh hưởng đến đời sống của NCT. Tuy nhiên cũng không ít NCT do lúc trẻ không có
sức khỏe, không có tích lũy, con cái không thành đạt, hiếu thuận thì họ cũng rơi vào những bi kịch của tuổi
già và rất cần sự hỗ trợ của các dịch vụ CTXH.
1.3.3. Tính chuyên nghiệp của nghề công tác xã hội
Các nhân viên công tác xã hội có vai trò chính thức là những nhà sư phạm. Họ phải có đạo đức nghề
nghiệp,kiến thức chuyên môn các kỹ năng trong tham vấn tư vấn và cả kinh nghiệm cuộc sống.Họ có kiến
thức và kỹ năng để thực hiện các nguyên tắc lý thuyết được học trong các chương trình giáo dục, các hoạt
động và nguồn lực. Họ truyền đạt và cộng tác với các phòng ban và các nhân viên khác để trợ giúp NCT.
Khi nhân viên CTXH ở những vị trí khác nhau thì vai trò và các hoạt động của họ cũng rất khác nhau, tùy
Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng
bảo trợ xã hội;
Quyết định số 32/2010/QĐ – TTg, ngày 25/02/2010 về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội
giai đoạn 2010 – 2020, gọi tắt là “đề án 32”;
Quan điểm trên của Đảng và Bác Hồ được thể hiện trong Hiến pháp năm 1946,Điều14 quy định: “Những
công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ”. Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi rõ:
“Giúp đỡ người già, người đau yếu và tàn tật.Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khoẻ và cứu trợ xã
hội…”. Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “…Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái. Con cái có
trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ… ”. Và Điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người
tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”.
Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 36 quy định:“Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng
cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật…Và khoản 2 Điều 47 Luật này quy định: “Cháu có bổn
phận… chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ngoại”
Luật Bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chương riêng: Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi …
trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này quy định: “Người cao tuổi … được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh,
được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình”.
11
Luật Lao động quy định tại Điều 124: “Người sử dụng lao động có trách nhiệmquan tâm chăm sóc sức khoẻ
người lao động cao tuổi, không được sử dụng người lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm… ảnh
hưởng sức khoẻ”.
Bộ luật Hình sự quy định tại Điều 151 của: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con,
cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp
dưỡng”. Bên cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội là người già”.
Chương 2
THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM CÔNG
TÁC XÃ HỘI TỈNH VĨNH LONG
2.1. Khái quát đặc điểm trung tâm và khách thể nghiên cứu
nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà người cao tuổi trên địa bàn tỉnh vẫn chưa có đủ điều kiện để
quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe cho bản thân đúng mức cần thiết.
Theo thống kế các đối tượng cần sự chăm sóc, trợ giúp tỉnh Vĩnh Long hiện có: 9.490 người khuyết
tật và 2.974 trẻ em
2.2. Thực trạng thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi
2.2.1. Dịch vụ chăm sóc- nuôi dưỡng
Theo quy định hiện hành của nhà nước, điều kiện để người cao tuổi được vào chăm sóc, nuôi dưỡng
tại các trung tâm theo diện được ngân sách hỗ trợ là người cao tuổi phải thuộc hộ nghèo, không có người
phụng dưỡng. Hiện nay Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Vĩnh Long đang nuôi dưỡng, chăm sóc 33 trường
hợp người cao tuổi chủ yếu là thuộc diện được ngân sách hỗ trợ.
Vì vậy thu thập thông tin NCT về vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng chỉ là phương pháp điều tra thì
cũng chứ thực sự có kết quả đúng
2.2.2. Dịch vụ hỗ trợ hỗ trợ y tế
Người cao tuổi tại trung tâm được cấp thẻ bảo hiểm y tế, lập hồ sơ theo dõi sức khỏe và được kiểm tra
sức khỏe định kỳ. Khi người cao tuổi ốm đau sẽ được các nhân viên y tế tại đơn vị kiểm tra và chăm sóc
hàng ngày, trường hợp ốm nặng sẽ được đi khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Long và các cơ
sở y tế khác theo chỉ định của bác sỹ.
2.2.3. Dịch vụ tư vấn tâm lý- xã hội
Mỗi người cao tuổi khi phải tìm đến các dịch vụ CTXH thì bên cạnh những khó khăn về các điều kiện
vật chất thì họ cũng có nhiều khó khăn về đời sống tâm lý, tình cảm, người cao tuổi được đưa vào hoặc được
trợ giúp khẩn cấp thường có suy nghĩ buồn bã, tủi thân xuất phát từ sự thất vọng về sự thiếu quan tâm của gia
đình, người thân hoặc sự kém may mắn của số phận. Việc hỗ trợ về tâm lý, tình cảm đối với người cao tuổi
được hỗ trợ thông qua các dịch vụ CTXH còn rất ít. Phần lớn chỉ là mang tính động viên, an ủi chung chung
chứ chưa có các hoạt động đánh giá và hỗ trợ tâm lý một cách chuyên nghiệp, bài bản. Việc phát huy vai trò
của người cao tuổi thông qua việc tổ chức các hoạt động lao động phù hợp cũng chưa được quan tâm thực
hiện. Việc lập kế hoạch trợ cho người cao tuổi còn có ít sự tham gia của người cao tuổi và các cá nhân, tổ
chức có liên quan khi khám chữa bệnh ở Bệnh viện
Luôn chú ý tới tình trạng tâm lý của NCT (lo, buồn nản, hoạt bát, quyết tâm…).
2.3.2. Yếu tố tài chính
CTXH là một lĩnh vực còn mới mẻ ở nước ta nói chung, trình độ dân trí của người dân trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Long còn chưa đồng đều và thấp hơn so với mặt bằng trung của cả nước. Nhận thức về của các cấp chính
quyền, các tổ chức đoàn thể và xã hội trong đó có người cao tuổi, đặc biệt là nhóm người cao tuổi cư trú tại các
địa bàn dân tộc thiểu số về CTXH còn chưa đầy đủ, chưa thấy hết được vai trò của các dịch vụ CTXH trong
công tác chăm sóc, phát huy người cao tuổi.
2.3.3. Tính chuyên nghiệp của nghề công tác xã hội
14
Tính phối hợp giữa cơ sở cung cấp các dịch vụ CTXH và các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh còn
mờ nhạt và chưa có hiệu quả cao. Chưa có các cơ chế phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các bên có liên quan
trong việc cung cấp các dịch vụ CTXH cho người cao tuổi. Sự phối hợp, kết nối giữa Trung tâm với các địa
phương vẫn phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và sự quan tâm của lãnh đạo các đơn vị cơ sở, do đó cơ hội
tiếp cận các dịch vụ CTXH của người cao tuổi tại các địa phương trong tỉnh cũng rất khác nhau, tạo ra sự
thiếu bình đẳng về cơ hội tiếp cận các dịch vụ công tác xã hội của Người cao tuổi
2.3.4. Những văn bản pháp lý
Nội dung trợ giúp đối với người cao tuổi còn chưa đa dạng, chủ yếu tập trung vào việc trợ cấp cho
các đối tượng là người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo và người cao tuổi trên 80 tuổi không lương hưu và trợ
cấp BHXH hàng tháng.
Để đảm bảo hoạt động cung cấp các dịch vụ CTXH được phát triển thuận lợi thì ngoài các chính
sách chung của Trung ương thì địa phương theo thẩm quyền của mình cũng cần có các chính sách đặc thù
trong các lĩnh vực trợ giúp người cao tuổi và phát triển nghề CTXH. Tuy nhiên cho đến nay tỉnh Vĩnh Long
vẫn chưa xây dựng và ban hành được các chính sách đặc thù trong các lĩnh vực này
2.4. Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối
với người cao tuổi
2.4.1. Lý do ứng dụng
Việc chia sẻ thông tin của thân chủ về vấn đề sẽ dễ dàng hơn; Khích lệ được sự tham gia của
thân chủ vào tiến trình can thiệp, thực hiện kế hoạch; Tìm kiếm và kết nối nguồn lực sẽ được tập
- Theo cán bộ điều dưỡng: khi bà B vào trung tâm vì cụ có một người con gái, là quan tâm nhất đến
cụ nhưng chị đi lấy chồng nhưng chồng gia trưởng, mỗi lần về thăm là mặt nặng mày nhẹ nên cụ bảo đưa cụ
về đây để chẳng phiền ai. “Khổ lắm cháu ạ, con gái là con người ta, có về ăn cơm với mẹ mà cũng phải lén
lút, sợ chồng biết nó lại tưởng giấu gì đem về cho mẹ’’. Nói đến đây cụ rưng rưng, hẳn nhiên là xót đứa con
gái của mình.
Chúng tôi áp dụng lý thuyết hệ thống trong tiến trình này để thu thập thông tin về thân chủ nhằm tác
động một cách hiệu quả vào hệ thống. Bản thân bà B sống lang thang nhưng được tồn tại trong một hệ thống
ổn định, vững chắc. Từ yếu tố môi trường xung quanh gia đình đến xã hội....Khi làm việc với con gái và các
hàng xóm, các cơ quan chức năng của địa phương thì bà B lúc khỏe mạnh ông bà là người tần tảo chịu khó làm
ăn và chăm lo cho con . Nhân viên CTXH của Trung tâm tìm hiểu đánh giá môi trường nơi bà B sống, những
người hàng xóm của gia đình bà Nhân viên CTXH tìm ra yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống
xung quanh thân chủ đó là chính là bà B và người con gái lấy chồng xa của bà . Chị luôn che giấu những vấn đề
của gia đình sợ ảnh hưởng đến uy tín, sợ xấu hổ mang tiếng la bất hiếu không nuôi dưỡng chăm sóc được mẹ
già. Bản thân bà B thì mặc cảm về số phận và cho rằng bị trời đầy do nghiệp chướng để lại từ kiếp trước. Nuôi
con mà tuổi già không được hưởng hạnh phúc . Bà lặng lẽ một mình bỏ đi lang thang và không báo lại cho
con cái đến khi người hàng xóm gặp bà và báo cho người con gái lấy chông xa về. Lúc đó bà mới được đón về
và đưa vào Trung tâm . Khi chúng tôi tìm ra điểm mấu chốt trong hệ thống đó việc tư vấn của nhân viên CTXH
đã nhận được sự hợp tác từ phía con gái bà và toàn bộ hệ thống xung quanh cộng đồng xung quang bà B.
Bước 3, 4 Đánh giá và chẩn đoán :
Thông tin cá nhân
- Họ và tên: Châu Thị B
16
- Giới tính: Nữ
- Tuổi: 82 tuổi
- Nơi sinh: Vĩnh Long
- Hiện cư trú tại: Khóm 4 phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, Tỉnh Vĩnh Long
Các thông tin khác về thân chủ
tị nạnh là bà cho cậu con trai thứ 5 nhiều hơn thì bà phải sống ở đó và vợ chồng anh đó phải có trách
nhiệm nuôi bà.
Thông tin về môi trường sống xung quanh thân chủ
- Tiền chi tiêu và sinh hoạt của gia đình chủ yếu dựa vào tiền lương của người con dâu. Hàng xóm,
láng giềng của thân chủ đều hiểu và thương cho hoàn cảnh của bà, người giúp đỡ bữa ăn, có lúc bà
ốm đau phải nhờ hàng xóm mua thuốc và nấu cho bát cháo.
Bước 5.Lập kế hoạch cung cấp dịch vụ trợ giúp: Đội ngũ nhân viên CTXH, chuyên gia Tâm lý của Trung
Tâm lên kế hoạch cung cấp dịch vụ tư vấn hộ trợ bà B
Trong 1 tháng đầu tiên chúng tôi xây dựng kế hoạch cung cấp dịch vụ hỗ trợ cá nhân cho thân chủ.
Bảng 3. Một ngày chăm sóc của Ba tại trung tâm
Nội dung hoạt động tại Trung tâm
Thời gian
6h- 6h30
Ngủ dậy, vệ sinh cá nhân và phòng ngủ
6h30 – 7h00
Tập thể dục dưỡng sinh
7h00 – 8h00
Ăn sáng tại nhà ăn tập thể
8h00- 10h00
Các hoạt động nhóm của người cao tuổi tại Trung tâm
Ăn tối
18h00 – 20h00
Xem ti vi với nhóm người cao tuổi
20h00-21h30
21h30
Nghe đài
Chuẩn bị phòng ngủ , ngủ
18
Khi bà B vào Trung tâm được lập hồ sơ theo dõi, kiểm tra các chỉ số thể trạng hàng ngày, đánh giá các nguy
cơ ngã, nguy cơ tai biến, nguy cơ dinh dưỡng. Được khám sức khỏe hàng tuần và khám theo chuyên đề theo
các chương trình liên kết với các bệnh viện đảm bảo phát hiện và xử lý kịp thời các nguy cơ phát sinh bệnh
tật có thể xảy ra.
Phục hồi chức năng: Do bà bị suy nhược cơ thể nên được tăng cường chế độ dinh dường và định
luyện tập phục hồi về tinh thần, về thể chất nâng cao thể trạng với các hoạt động như: xoa bóp bấm huyệt,
châm cứu, ngâm chân, luyện tập hỗ trợ trí nhớ . Tập luyện giảm thiểu thoái hóa khớp, co cứng khớp tuổi già.
Chăm sóc cá nhân hàng ngày: Lúc mới vào Trung tâm bà được sinh hoạt và được chăm sóc vệ sinh
đảm bảo sạch sẽ, gọn gàng và đúng nhịp sinh học theo lịch sinh hoạt cụ thể xây dựng thói quen ăn ngủ đúng
giờ, từ bỏ các thói quen ngủ thất thường...
Sinh hoạt cộng đồng: Ngoài việc được chăm sóc và quản lý sức khỏe bà được tham gia vào các hoạt
động sinh hoạt tập thể và xã hội như: tổ chức các ngày lễ kỉ niệm sinh nhật, mừng thọ, tham gia các câu lạc
bộ thơ, cờ, vẽ tranh và các hoạt đông khác của Trung tâm
Thân chủ được cung cấp các dịch công tác xã hội mà Trung tâm đang thực hiên: dịch vụ chăm sóc nuôi
đặc biệt là NVCTXH ở đây đã quan tâm, tư vấn, kịp thời đáp ứng nhu cầu, tâm tư nguyên vọng của gia đình,
lên kế hoạch dịch vụ phù hợp với khả năng của mẹ tôi và gia đình tôi. Tôi mong muốn Trung tâm ngày càng
phát triển hơn để cung cấp nhiều loại hình dịch vụ CTXH để trợ giúp những người cao tuổi như mẹ tôi.
Chương 3
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
THÚC ĐẨY HIỆU QUẢ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC
TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH VĨNH LONG
3.1. Biện pháp nâng cao năng lực, trình độ cho nhân viên công tác xã hội
CTXH là hoạt động chịu ảnh hưởng rất nhiều của mối quan hệ tương tác với con người, do vậy hoạt động
của nghề nghiệp này mang tính chất khá phức tạp. Chất lượng và hiệu quả của hoạt động CTXH được quyết
định một phần không nhỏ bởi năng lực, trình độ của nhân viên CTXH là một việc làm hết sức cần thiết và
quan trọng.
Trước hết, cần phải tiếp tục đào tạo, nâng cao kiến thức, kỹ năng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cho
nhân viên CTXH để có thể đáp ứng các yêu cầu đặt ra. Tác giả phỏng vấn sâu đại diện ban giám đôc
Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Vĩnh Long, 42 tuổi. Theo ông chia sẻ: “Hiện nay Trung tâm Công tác xã
hội có 66 người trong biên chế và 12 người hợp đồng 61 các bộ Trung tâm đa số còn rất trẻ nên chúng tôi
cũng liên tục cử các bạn ấy đi học tập từ chuyên môn sâu về các lĩnh vực liên quan đến học các khóa học
ngắn hạn chúng tôi tận dụng tối đa nguồn nhân lực và thay phiên nhau. Về chuyên môn thì ở Trung tâm
mỗi người một chuyên môn khác nhau: Y tế, công tác xã hội, kế toán, quản trị nhân sự…. Trong công tác
quản lý và giao viêc chúng tôi cũng gặp rất nhiều khó khăn. Người có chuyên môn CTXH thì lại có quá
nhiều việc, người không đúng chuyên môn thì công việc đỡ áp lực hơn. Vậy nên chúng tôi thường chia thời
gian làm việc để nhân viên có thể thay đổi nhau tham gia học tập nâng cao năng lực. Hàng năm Trung tâm
chúng tôi cũng trích một phần ngân sách theo quy định cho các hoạt động đào tạo. Tuy nhiên trong lĩnh
vực công tác xã hội do nhu cầu công việc đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn mới đáp ứng được nên có
rất nhiều nhân viên cũng tự túc chi trả kinh phí để đi học Chúng tôi mong muốn được nhân viên của mình
được đào tạo tập huấn chuyên sâu hơn nữa các kiến thức về tâm lý, về công tác xã hội đối với người cao
tuổi. Thực sự những trường hợp quản lý ca phức tạp chúng tôi cảm thấy rất lúng túng. Có rất nhiều trường
hợp gia đình không chịu hợp tác trong việc phối hợp để trợ giúp NCT tại đây, họ cho rằng khi người nhà
Thứ tư tổ chức khảo sát nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ,
nhân viên tại các cơ sở bảo trợ, trung tâm y tế huyện, thành thị, các bệnh viện làm việc trong lĩnh vực công
tác xã hội đối với NCT.
Thứ năm xây dựng kế hoạch, tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về tâm lý học,
xã hội học, y tế, công tác xã hội trong lĩnh vực tâm bệnh của tuổi già cho đội ngũ cán bộ nhân viên, cộng
tác viên.
Cuối cùng để có thể nâng cao được năng lực, trình độ thì chính bản thân người nhân viên CTXH phải luôn
trau dồi những phẩm chất đạo đức, cố gắng tìm hiểu học hỏi và trang bị cho mình những kỹ năng, kiến thức
về CTXH để có thể trợ giúp một cách tốt nhất và đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao của ngành nghề.
3.2. Biện pháp tăng cường công tác vận động hỗ trợ nguồn lực
21
Hàng năm Ủy ban nhân dân tỉnh khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị cung cấp dịch
vụ xã hội cấp tỉnh còn huy động được các nguồn lực từ tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp trên địa bàn
tỉnh phát động phong trào xây dựng quỹ hỗ trợ cho người cao tuổi và cũng là các điều kiện thuận lợi cho
việc kết nối nguồn lực hỗ trợ .
Ủy ban nhân dân tỉnh hỗ trợ thường xuyên đối với người cao tuổi có hoàn cảnh đặc thù và hỗ trợ đột
xuất cho người cao tuổi khi gặp các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát, thông qua
các khoản tiền mặt và hiện vật do ngân sách của tỉnh bảo đảm.
Với những chính sách thiết thực và cụ thể, sự vận động linh hoạt của địa phương, sẽ giúp nhiều người
cao tuổi có hoàn cảnh éo le có được nơi nương tựa lúc tuổi già.
Tăng cường vận động nguồn lực xã hội thực hiện công tác trợ giúp xã hội, góp phần ổn định cuộc sống
người dân, đồng thời, khuyến khích, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức thành lập cơ sở bảo trợ xã hội
ngoài công lập. Cung cấp các dịch vụ tư vấn, can thiệp, kết nối và hỗ trợ kịp thời cho người cao tuổi không
có người phụng dưỡng, người lang thang kiếm sống được hỗ trợ, chăm sóc, tư vấn, giúp đỡ từ các cơ sở trợ
giúp xã hội và tại cộng đồng.
Tập trung vận động nguồn lực để hỗ trợ các hộ gia đình có người già yếu neo đơn, bệnh tật không có
khả năng lao động, đồng thời, kết nối, vận động các tổ chức, cá nhân nhận hỗ trợ, đỡ đầu tạo điều kiện cho
điều kiện kinh tế tại địa phương cho thấy hoạt động công tác xã hội đối với người cao tuổi được chăm sóc
tại nhà. Đây là một mô hình dễ thực hiện, ít tốn kém và phù hợp với điều kiện gia đình, cộng đồng nhằm
chăm sóc người cao tuổi bị ốm đau, bệnh tật; người già cô đơn gặp khó khăn, khi mà toàn tỉnh chỉ có một
Trung tâm chăm sóc và phụng dưỡng người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa và người cao tuổi hầu như
được chăm sóc tại các gia đình. Cách làm này vừa phát huy được truyền thống “Tương thân tương ái”; “Kính
lão đắc thọ”; “Uống nước nhớ nguồn”, vừa phù hợp với tâm lý, nguyện vọng của người cao tuổi là muốn
được sống tại chính ngôi nhà thân yêu của mình cho đến cuối đời. Và trên thế giới cũng đang có xu hướng
đưa người cao tuổi về chăm sóc tại gia đình đang gia tăng để hạn chế những áp lực đối với hệ thống an sinh
xã hội cũng như việc đảm bảo tốt hơn trong các nhu cầu về tinh thần và vật chất cho người cao tuổi. Với
công tác xã hội thì người cao tuổi là một trong những đối tượng đặc thù bởi những đặc điểm tâm sinh lý
riêng biệt. Từ những hoạt động công tác xã hội với người cao tuổi tại các gia đình đang có hiện nay, thiết
nghĩ cần có các giải pháp khả thi hơn để từng bước đưa công tác xã hội vào thực tiễn có hiệu quả cao hơn.
Mô hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại bệnh viện
Sức khỏe luôn là vấn đề mà người cao tuổi thường xuyên phải đối mặt. Người cao tuổi có đặc điểm là sức
khỏe sa sút, các phản xạ đã chậm chạp, khả năng nghe nhìn có nhiều hạn chế, vận động khó khăn trong khi
khả năng tài chính eo hẹp. Chính vì thế khi phải đến khám chữa bệnh tại các bệnh viện họ có nhu cầu trợ
giúp rất lớn. Hiện nay ở các bệnh viện lớn đã có nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp việc khám chữa
bệnh, chăm sóc NCT tại cộng đồng nhưng cũng chưa thực sự đáp ứng được đúng nhu cầu của NCT và
người nhà người cao tuổi.
Cần khảo sát trên địa bàn Tỉnh Vĩnh Long và xây dựng lộ trình cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi
tại các bệnh viện.
Kết luận chương 3
Việc đảm bảo quyền, nhu cầu, nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
cũng như việc nâng cao nhận thức, thái độ và hành vi của cộng đồng trong chăm sóc NCT là vấn đề được
các cấp, các ngành quan tâm và rất cần sự chia sẻ trách nhiệm từ cộng đồng xã hội, sự tự ý thức của chúng ta.
Những giải pháp trên đây chỉ phát huy hiệu quả và thực hiện triệt để khi có sự phối hợp đồng bộ giữa các
cấp, ngành và chính nhân viên CTXH khi làm việc với NCT cũng như từ nhận thức cao của gia đình NCT
23