VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ PHƢƠNG THẢO
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƢỜI NGHIỆN MA TÚY TẠI CỘNG ĐỒNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH KHÁNH HÒA
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
Công trình này được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: Ts. Lê Hải Thanh
Phản biện 1 : GS.TS. Bùi Thế Cường
Phản biện 2 : PGS.TS. Bùi Anh Thuỷ
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội: ………….giờ……..
ngày…… tháng ……... năm ………
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Mary Ellen Richmond (1861- 1928), người thường được mệnh danh là “mẹ
1
đẻ của công tác xã hội”. Theo bà, công tác xã hội đóng vai trò quan trọng
đáng kể trong việc điều trị những cá nhân bị nghiện cùng với các thành viên
trong gia đình họ, công tác xã hội như là một dịch vụ chăm sóc cộng đồng.
Tại phiên họp đặc biệt lần thứ 30 của Đại hội đồng Liên hiệp quốc
vào ngày 19/4 – 21/4/2016 với nội dung xem xét tiến độ thực hiện Tuyên
bố chính trị và Kế hoạch hành động về hợp tác quốc tế hướng tới một Chiến
lược toàn diện và cân bằng để đối phó với vấn đề ma túy thế giới. Sự tham
gia phiên họp của Đoàn Việt Nam như để khẳng định quan điểm hội nhập
quốc tế trong công tác điều trị nghiện ma túy ở Việt Nam. Rằng công tác
cai nghiện ma túy cần phải xã hội hóa trên cơ sở quyền con người; việc điều
trị nghiện ma túy cần phải trên cơ sở khoa học và có sự tự nguyện góp sức
của cá nhân, gia đình và cộng đồng. Các tác phẩm và quan điểm nói trên
như là những hướng dẫn mang tính kinh điển của ngành công tác xã hội đã
cho tôi niềm tin và định hướng vào đề tài nghiên cứu này.
2.2. Tại Việt Nam
Tác giả Bùi Thị Xuân Mai với nghiên cứu “Thực trạng mạng lưới
dịch vụ xã hội ở Việt Nam – Những khuyến nghị giải pháp” thực hiện năm
2014 cho rằng ước tính ở Việt Nam hiện nay có khoảng 28% dân số có nhu
cầu sử dụng dịch vụ công tác xã hội. Tính chất các dịch vụ công tác xã hội
cần phong phú hơn, không chỉ là chế độ chính sách mà bao gồm quản lý ca,
tham vấn, tư vấn,… Tác giả khuyến nghị cần phát triển các loại hình dịch
vụ chăm sóc y tế, chăm sóc tâm lý, tinh thần và hòa nhập cộng đồng; phát
triển dịch vụ ở quy mô toàn quốc, … Đồng thời, tiếp tục đổi mới cơ chế
chính sách nhằm phát triển dịch vụ công tác xã hội, khuyến khích thành lập
các cơ sở cung cấp dịch vụ ngoài công lập.
Báo cáo nghiên cứu “Vấn đề xâm hại tình dục, lạm dụng chất gây
4.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về đối tượng: Nghiên cứu lý luận và thực trạng về dịch
vụ công tác xã hội, cụ thể đó là hoạt động tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ, kết nối
cho người nghiện ma túy tại cộng đồng.
* Phạm vi về khách thể: Nghiên cứu trên tổng số 210 khách thể,
trong đó:
- Đối với người nghiện ma túy: nghiên cứu 200 khách thể với cơ
cấu tuổi bao gồm những người nghiện trong độ tuổi lao động (nam từ 15
đến 40 tuổi, nữ từ 15 đến 30 tuổi). Về mức độ bao gồm người nghiện đã cai
3
nghiện một lần, nhiều lần và người nghiện đã tham gia điều trị đang sống
hòa nhập cộng đồng.
- Đối với cán bộ làm việc liên quan đến người nghiện ma túy gồm
10 người bao gồm cán bộ làm việc trong lĩnh vực người nghiện, một số lãnh
đạo tại các địa phương.
* Phạm vi về địa bàn: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp luận
Khi xem xét vấn đề dịch vụ công tác xã hội với người nghiện ma túy
tại cộng đồng cần xem xét, chú ý đến bối cảnh xã hội, bối cảnh nghề công
tác xã hội tại Việt Nam và nhiều yếu tố khác mà nó có liên hệ. Mặt khác
chủ nghĩa duy vật biện chứng còn cho rằng các sự vật hiện tượng quá trình
cũng như sự phản ánh của chúng luôn biến đổi phát triển không ngừng. Vì
thế phải đánh giá vấn đề dịch vụ công tác xã hội với người nghiện ma túy
theo quá trình vận động và phát triển của nó tại quốc gia Việt Nam nói
chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
5.2.5. Phương pháp thống kê toán học.
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để phân tích các số liệu
điều tra, số liệu thống kê.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu
ích tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về công tác xã hội.
Các phát hiện của nghiên cứu cũng như thực trạng về vấn đề này sẽ là
nguồn tài liệu tham khảo cho các chuyên đề, khóa luận trong lĩnh vực người
nghiện ma túy.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Đối với người nghiện ma túy và gia đình họ: có được sự chia sẻ,
thông cảm của cộng đồng; được tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ dễ dàng, kịp
thời; người nghiện sẽ cảm thấy luôn được đón nhận khi có nhu cầu được hỗ
trợ tại các cơ sở cung cấp dịch vụ, từ đó sẽ có quyết tâm cao hơn, tự nguyện
quyết định cho quá trình điều trị của bản thân.
5
- Đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức cung cấp dịch: giúp những
người làm công tác cai nghiện ma túy tại cộng đồng không còn phân biệt,
kỳ thị với người nghiện; xóa bỏ mặc cảm của người làm công tác cai nghiện
ma túy; được nâng cao kiến thức chuyên môn và kỹ năng; từ đó, làm việc
khoa học và tâm huyết hơn.
- Đối với các cơ quan quản lý: có những chính sách hoạch định hiệu
quả về vấn đề triển khai công tác cai nghiện ma túy tại cộng đồng.
- Đối với xã hội: tạo mối quan hệ qua lại tích cực của xã hội với
nhóm người nghiện ma túy; so với mô hình cai nghiện tập trung tại các cơ
sở cai nghiện: giảm chi phí, kết quả đạt được bền vững hơn.
người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ
thuộc vào các chất này”.
* Các yếu tố nguy cơ và nghiện ma túy
Nghiện ma túy là một căn bệnh chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Đó
là các yếu tố về mặt sinh học, tâm lý học, các yếu tố về xã hội và môi
trường. Các yếu tố này tương tác với nhau và ảnh hưởng tới nguy cơ nghiện
ma túy, tình trạng nghiện ma túy của mỗi người.
* Các lý thuyết về nghiện ma túy
Các học thuyết về sinh học, tâm lý và xã hội đã có những lập luận,
giải thích lý do việc sử dụng và nghiện ma túy. Nó góp phần cho việc hoàn
thiện những lý luận về nghiện ma túy.
Ta có thể nhận định rằng người nghiện ma túy là một nạn nhân.
Chúng ta có thể nhìn nhận dưới gốc độ chấp nhận việc nghiện ma túy trong
xã hội và kiểm soát nó trong mức độ giảm tối đa những tác hại không mong
muốn cho xã hội.
1.1.2. Các dạng nghiện ma túy và các mức độ nghiện ma túy
1.1.2.1. Các dạng nghiện ma túy
1.1.2.2. Các mức độ nghiện ma túy
1.1.3. Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của người nghiện ma túy
1.1.3.1. Một số đặc điểm tâm lý của người nghiện ma túy
Người nghiện ma túy thường thiếu ý chí, thiếu quyết tâm, tính khí
thất thường; luôn muốn lẫn tránh mọi người, tự cô lập; mặc cảm tội lỗi với
gia đình với xã hội về hành vi lệch chuẩn của mình.
1.1.3.2. Nhu cầu của người nghiện ma túy
7
Cũng như mọi người, người nghiện ma túy cần cuộc sống vật chất,
tinh thần đầy đủ và hạnh phúc bên gia đình. Họ rất cần được mọi người
1.2.2.1. Hoạt động tư vấn
Tư vấn là một quá trình trao đổi tương tác giữa tư vấn viên và
khách hàng nhằm giúp khách hàng tự tìm hiểu về những khó khăn của họ
một cách bảo mật và nâng cao năng lực cho khách hàng để họ có thể tự giải
quyết những khó khăn đó.
Các nội dung tư vấn cụ thể có thể là: tư vấn cho cá nhân người
nghiện và gia đình về chăm sóc sức khỏe, tư vấn hỗ trợ tâm lý để đi đến vấn
đề tham gia điều trị, tư vấn chọn hình thức điều trị phù hợp, tư vấn tiếp cận
các dịch vụ hòa nhập cộng đồng, tư vấn điều trị và tư vấn dự phòng tái
nghiện . . . Theo các chuyên gia, hoạt động tư vấn chiếm 90% quá trình điều
trị nghiện.
1.2.2.2. Hoạt động chăm sóc sức khỏe
Tư vấn và chăm sóc sức khỏe cho người nghiện là hai hoạt động chủ
yếu trong quá trình cai nghiện. Tuy giai đoạn cắt cơn giải độc chỉ là một
phần nhỏ trong chu trình điều trị nhưng nó là yếu tố tác động rất lớn đến
quá trình điều trị của người nghiện. Chăm sóc sức khỏe cũng mang tính
thường xuyên trong quá trình điều trị của người nghiện.
Công tác chăm sóc sức khỏe nhất định phải có sự tham gia của ngành
Y tế. Tuy nhiên, từ lâu nay công tác cai nghiện ma túy được mặc nhiên cho
là nhiệm vụ của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội.
1.2.2.3. Hoạt động hỗ trợ
Người nghiện ma túy tại cộng đồng sẽ được hỗ trợ các loại dịch vụ
như: hỗ trợ pháp lý, hỗ trợ tiền thuốc, tiền ăn, các dịch vụ chăm sóc y tế, hỗ
trợ tâm lý, hỗ trợ vay vốn, dạy nghề, việc làm.
Các hoạt động hỗ trợ có ý nghĩa giúp người nghiện cảm nhận được
sự chia sẻ về vật chất và tinh thần; góp phần động viên, khuyến khích, tạo
cơ hội cho họ trong quá trình chữa bệnh và hòa nhập cộng đồng.
1.2.2.4. Hoạt động kết nối
tự nguyện cai nghiện và tổ chức, hỗ trợ cho công tác cai nghiện tại gia đình,
cộng đồng.
1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến dịch vụ công tác xã hội với ngƣời
nghiện ma túy
1.4.1. Các yếu tố chủ quan
* Tự ti, mặc cảm
10
Người nghiện ma túy thường ngại hòa nhập với cộng đồng xã hội,
ngại tiếp cận các dịch vụ xã hội. Tuy nhiên, khi tham gia tiếp nhận dịch vụ
một yêu cầu quan trọng là sự quyết tâm của người nghiện.
* Sức khỏe
Vấn đề sức khỏe yếu là hệ lụy tất yếu của người nghiện ma túy. Do
vậy, người nghiện sẽ ít có cơ hội tiếp cận thành công các dịch vụ hỗ trợ
như: hỗ trợ việc làm, dạy nghề, cho vay vốn
* Thiếu những kỹ năng xã hội cần thiết, thiếu thông tin, thiếu tay
nghề
Nhóm người nghiện ma túy phần lớn là trình độ văn hóa thấp, môi
trường sinh hoạt thiếu thông tin, các kỹ năng sống yếu.
1.4.2. Các yếu tố khách quan
* Định kiến xã hội
Mọi người thường cho rằng phần lớn người nghiện ma túy đều có
những hành vi xấu như lười học tập, lao động, trộm cắp, ăn chơi lêu lỏng;
người nghiện ma túy rất khó từ bỏ sự nghiện ngập, khó trở thành “người
tốt”. Tất cả những thành kiến trên đã cô lập nhóm người nghiện ma túy, làm
cho họ không được đón nhận sự giúp đỡ, chia sẻ của cộng đồng, rất khó
khăn để tiếp cận những hoạt động hỗ trợ của các tổ chức.
* Môi trường sinh hoạt
Chương 1 đã phân tích một số vấn đề lý luận về nghiện ma túy,
người nghiện ma túy và các dịch vụ công tác xã hội với người nghiện ma
túy tại cộng đồng để làm cơ sở cho việc triển khai điều tra nghiên cứu ở
chương 2.
Kết quả phân tích ở chương 1 cho thấy nghiện ma túy là bệnh xã
hội, vấn đề dịch vụ công tác xã hội với người nghiện ma túy tại cộng đồng
hầu như chưa được nghiên cứu. Để làm sáng tỏ vấn đề này, từ đó đưa ra
giải pháp nâng cao hiệu quả của dịch vụ công tác xã hội với người nghiện
ma túy tại cộng đồng, đề tài tập trung phân tích phần thực trạng với 4 hoạt
động dịch vụ công tác xã hội với người nghiện ma túy tại cộng đồng là
chăm sóc sức khỏe, tư vấn, hỗ trợ và kết nối.
Ngoài ra, các yếu tố tác động tới hiệu quả của hoạt động cung cấp
dịch vụ công tác xã hội với người nghiện ma túy tại cộng đồng cũng được
phân tích chi tiết, để trên cơ sở đó phát hiện ra những khó khăn và vướng
12
mắc nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động này trên địa bàn tỉnh Khánh
Hòa.
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƢỜI
NGHIỆN MA TÚY TẠI CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH KHÁNH HÒA
2.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, với tổng
diện tích 5.217,6 km², dân số 1.282.551 người, mật độ dân số toàn tỉnh là
225 người/km².
Tỉnh Khánh Hòa có 09 huyện, thị xã, thành phố, trong đó: thành phố
thuốc phiện. Tính đến ngày 15/5/2016, số người nghiện ma túy có hồ sơ
quản lý trên toàn tỉnh là 1.136 người, cụ thể như sau:
Về địa bàn: tại cộng đồng: 1.093 người, gồm: thành phố Nha Trang
464, thành phố Cam Ranh 160, huyện Diên Khánh 86, huyện Vạn Ninh
223, thị xã Ninh Hòa 123, huyện Cam Lâm 33 và huyện Khánh Vĩnh 04; và
tại Trung tâm Giáo dục –Lao động xã hội 43 người.
Phân tích cụ thể: Nam: 1.104, nữ: 32, dưới 18 tuổi: 26, từ 18 đến 30
tuổi: 672, trên 30 tuổi: 438; có việc làm: 417; không có việc làm: 719; sử
dụng heroin: 850 (chiếm tỉ lệ 74,82%), ma túy tổng hợp 147 (chiếm tỉ lệ
12,94%), cần sa: 139 (chiếm tỉ lệ (12,24%).
Toàn tỉnh có 7/9 huyện, thị xã, thành phố với 92/140 xã, phường,
thị trấn có người nghiện ma túy.
2.2. Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với ngƣời nghiện ma
túy tại cộng đồng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
2.2.1. Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người nghiện
ma túy tại cộng đồng ở Việt Nam
Hiện nay, việc tổ chức cai nghiện tại cộng đồng còn hạn chế do
thiếu những hỗ trợ về kinh phí, cơ sở vật chất và nhân lực nên nhiều địa
phương chưa tổ chức được, chỉ thực hiện được ở một số tỉnh, thành phố
được lãnh đạo quan tâm, chỉ đạo. Việc huy động các nguồn lực để thực hiện
công tác cai nghiện chưa đáp ứng yêu cầu, nguồn kinh phí hỗ trợ địa
phương bị cắt giảm, nguồn lực đầu tư cho công tác cai nghiện tự nguyện
chưa được quan tâm và hỗ trợ đúng mức. Chưa có chế độ, chính sách hỗ trợ
14
chung cho người nghiện ma túy cai nghiện tự nguyện, dẫn đến chưa khuyến
khích được người nghiện tự đăng ký cai nghiện tự nguyện. Các dịch vụ hỗ
trợ cai nghiện ma túy chậm đổi mới theo quan điểm và khoa học điều trị,
cai nghiện ma túy hiện nay.
Ý kiến của người nghiện về các mức độ cần thiết của dịch vụ tư vấn:
38,5% cho rằng dịch vụ tư vấn rất cần thiết, 51% cần thiết, 3% ít cần thiết
và 7,5% không cần thiết.
Cảm nhận của người nghiện sau khi tham gia dịch vụ tư vấn: 49,59%
rất tin tưởng, 45,53% tin tưởng, 4,88% tin tưởng rất ít và 0% không tin
tưởng.
Dịch vụ tư vấn cho người nghiện ma túy của tỉnh đã có những kết
quả nhất định, đã đáp ứng phần nào nhu cầu rất lớn của người nghiện. Song,
bên cạnh đó vẫn còn chưa chuyên sâu, chưa mang tính liên tục. Do vậy,
khoảng cách giữa nhu cầu của người nghiện và khả năng đáp ứng của dịch
vụ tư vấn cần quan tâm về cả số lượng và chất lượng.
2.2.2.2. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Kết quả khảo sát: có 29,5% người nghiện được tiếp cận và 70,5%
không được tiếp cận.
Ý kiến của người nghiện về mức độ cần thiết của dịch vụ chăm sóc
sức khỏe: 37% người nghiện cho r8a2ng rất cần thiết, 50% cần thiết, 6% ít
cần thiết và 7% không cần thiết.
Cảm nhận sau khi tham gia dịch vụ: 40,68% rất tin tưởng, 59,32% tin
tưởng, 0% nghi ngờ và 0% hoàn toàn không tin tưởng.
Trong thời gian qua, dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng của
tỉnh có những hoạt động mang tính tiên phong trong cả nước. Tuy nhiên,
chưa có sự tham gia tích cực của ngành y tế nên kết quả còn rất khiêm tốn.
2.2.2.3. Dịch vụ hỗ trợ
Kết quả khảo sát của nghiên cứu: 20% được tiếp cận và 80% chưa
được tiếp cận dịch vụ hỗ trợ điều trị nghiện tại cộng đồng.
Ý kiến về các mức độ cần thiết của dịch vụ: 38,5% cho rằng rất cần
thiết, 50,5% cần thiết, 2% ít cần thiết và 9% không cần thiết.
Cảm nhận sau khi tham gia dịch vụ: 15% hoàn toàn phù hợp, 80%
phù hợp, 5% ít phù hợp và 0% không phù hợp.
là rõ nét nhất.
2.3.2. Yếu tố môi trường bên ngoài
Kết quả khảo sát: Yếu tồ từ gia đình: 57% cho rằng rất ảnh hưởng,
35,5% ảnh hưởng vừa, 4% ảnh hưởng ít và 3,5% không ảnh hưởng.
17
Yếu tồ từ cộng đồng: 441 cho rằng rất ảnh hưởng, 36% ảnh hưởng
vừa, 15,5% ảnh hưởng ít và 7,5% không ảnh hưởng.
Yếu tố môi trường tiếp cận: 50% cho rằng rất ảnh hưởng, 30% ảnh
hưởng vừa, 10% ảnh hưởng ít và 10% không ảnh hưởng.
Gia đình thiếu sự quan tâm, môi trường tiếp cận có nguy cơ cao, cộng
đồng kỳ thị là bức tranh mô tả cơ bản nhất về thực trạng không thuận lợi
cho việc điều trị của người nghiện hiện nay. Xuất phát từ thực trạng trên,
các chính sách hỗ trợ cũng như các hoạt động cần hướng tới nâng cao nhận
thức không chỉ các tổ chức, đơn vị, người dân trong cộng đồng mà cần có
những can thiệp chuyên sâu tới từng gia đình.
2.3.3. Yếu tố cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội
Kết quả khảo sát: Yếu tố từ cơ sở vật chất: 37,5% cho rằng rất ảnh
hưởng, 40,5% ảnh hưởng vừa, 15% ảnh hưởng ít và 7% không ảnh hưởng.
Yếu tố địa điểm cơ sở dịch vụ: 33% cho rằng rất ảnh hưởng, 41,5%
ảnh hưởng vừa, 17% ảnh hưởng ít và 8,5% không ảnh hưởng.
Yếu tố thủ tục giao dịch: 28,5% cho rằng rất ảnh hưởng, 39% ảnh
hưởng vừa, 17,5% ảnh hưởng ít và 15% không ảnh hưởng.
Các yếu tố cơ sở vật chất, địa điểm và thủ tục trong giao dịch điều trị
của các cơ sở cung cấp dịch vụ của tỉnh đã có ảnh hưởng nhiều đến dịch vụ
công tác xã hội với người nghiện. Vấn đề này vẫn cần phải được quan tâm
nhiều hơn trong thời gian tới.
2.3.4. Yếu tố năng lực của đội ngũ nhân viên công tác cai nghiện
ma túy tại cộng đồng
cùng tác động lên NNMT, ảnh hưởng đến dịch vụ CTXH với người nghiện
tại cộng đồng. Các nhà quản lý cần phải quan tâm đồng bộ khi hoạch định
chính sách về công tác cai nghiện ma túy tại cộng đồng.
Kết luận chƣơng 2
Thông qua nghiên cứu cho thấy thực trạng người nghiện ma túy tại
cộng đồng có nhu cầu về các dịch vụ công tác xã hội trong điều trị nghiện
nhưng thực tế ít người được tiếp cận là do tâm lý tự ti mặc cảm, thiếu thông
tin về các dịch vụ.
Nghiên cứu cũng cho thấy các hoạt động dịch vụ tư vấn, chăm sóc
sức khỏe, hỗ trợ và kết nối có tỉ lệ người nghiện ma túy tham gia chưa cao;
những người nghiện ma túy được tiếp cận dịch vụ thì hiệu quả hoạt động
này là khá tốt.
19
Cũng thông qua tìm hiểu, cho thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng đến dịch
vụ công tác xã hội cho người nghiện ma túy tại cộng đồng, các yếu tố năng
lực đội ngũ nhân viên, đặc điểm riêng của người nghiện và môi trường gia
đình và là những yếu tố tác động mạnh nhất tới vấn đề dịch vụ công tác xã
hội với người nghiện ma túy tại cộng đồng.
Chƣơng 3
MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY HIỆU QUẢ
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI NGHIỆN MA TÚY
TẠI CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH KHÁNH HÒA
3.1. Biện pháp nâng cao năng lực của nhân viên công tác xã hội
với ngƣời nghiện ma túy tại cộng đồng
Cần phải đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ nghề CTXH; phải trang bị
kiến thức, kỹ năng trong thực hành công tác xã hội, có những biện pháp
kiểm tra, giám sát, nêu cao tinh thần trách nhiệm của nhân viên công tác xã
hội; cần tăng cường các mối quan hệ hợp tác với các tổ chức phi chính phủ
công tác xã hội: công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm hoặc quản lý
trường hợp hoặc tham vấn trực tiếp với từng người nghiện ma túy.
Cần có những chính sách nhằm tăng cường hỗ trợ về tài chính cho
người nghiện
3.4. Biện pháp nâng cao nhận thức gia đình ngƣời nghiện ma túy,
cộng đồng về vấn đề công tác xã hội với ngƣời nghiện ma túy
Cần thêm nhiều giải pháp từ các cơ quan và ban ngành đoàn thể để
cung cấp thông tin, đưa ra các tác động nhằm thay đổi nhận thức của gia
đình về vấn đề này. Tổ chức những hoạt động đa dạng trong việc nâng cao
nhận thức cho gia đình.
Cần phải có những can thiệp chuyên sâu từ phía nhân viên CTXH
như tham vấn, can thiệp công tác xã hội cá nhân để có những tác động hiệu
quả hơn.
Cần tuyên truyền để gia đình người nghiện nhận thức được rằng:
người nghiện ma túy là thành viên của từng gia đình, gia đình phải có trách
nhiệm giáo dục, chăm sóc để góp phần cùng cộng đồng trong công tác cai
nghiện ma túy.
Các cấp, các ngành liên quan đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền nâng
cao nhận thức của cộng đồng, xã hội về những khó khăn của người nghiện
21
ma túy phải đối mặt, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng về khả
năng và sự đóng góp của người nghiện ma túy cho xã hội.
Đẩy mạnh tuyên truyền các quan điểm tư duy đổi mới với người
nghiện ma tuý: coi người nghiện là người bệnh, chính thức xóa bỏ quan
điểm coi nghiện ma túy là sự tha hóa về nhân cách.
Tăng cường tổ chức các hội thảo về những kiến thức đổi mới về cai
nghiện ma túy, những kinh nghiệm, mô hình tiến bộ và phù hợp với thực
tăng cường hỗ trợ người nghiện ma túy; nâng cao nhận thức gia đình người
nghiện, cộng đồng và các tổ chức, đơn vị; cơ chế, chính sách.
KẾT LUẬN
Người nghiện ma túy có những tâm lý rất không bình thường nên
đã bị hạn chế một số hoạt động trong cuộc sống. Nếu được tạo điều kiện và
bản thân biết nỗ lực vươn lên thì họ sẽ có khả năng tự quyết định tham gia
các dịch vụ cai nghiện tại cộng đồng. Do vậy, cùng với việc đảm bảo những
nhu cầu tối thiểu cần có sự quan tâm cả về chính sách đặc thù, những dịch
vụ hỗ trợ để tạo điều kiện tối đa cho người nghiện ổn định về sức khỏe và
tâm lý tham gia với vai trò là một công dân có ích cho xã hội.
Đề tài luận văn đã nêu ra các khái niệm về người nghiện ma túy và
dịch vụ công tác xã hội với người nghiện ma túy. Trình bày những vấn đề
về các dịch vụ công tác xã hội với người nghiện ma túy như: tư vấn, chăm
sóc sức khỏe, hỗ trợ và kết nối và vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong các hoạt động này. Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội
với người nghiện ma túy: các yếu tố thuộc về bản thân người nghiện, gia
đình, cộng đồng, cơ sở cung cấp dịch vụ, năng lực nhân viên công tác xã
hội đến cơ chế, chính sách cũng được phân tích rõ.
Nghiên cứu từ thực tiễn tỉnh Khánh Hòa, Đề tài luận văn cho thấy
rõ thực trạng: nhu cầu và tiếp cận dịch vụ công tác xã hội với người nghiện
ma túy, các hoạt động của dịch vụ và các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ.
Thực tế có ít người tiếp cận được dịch vụ. Tuy nhiên, những người đã tiếp
cận đã có những chuyển biến tích cực. Thực trạng có nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến dịch vụ công tác xã: đặc điểm riêng của người nghiện, môi
trường bên ngoài, cơ sở cung cấp dịch vụ, năng lực nhân viên công tác xã
hội và cơ chế, chính sách. Trong đó, các yếu tố từ năng lực nhân viên là yếu
23