Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

CHÍNH SÁCH THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO TỪ THỰC TIỄN
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số

: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS VĂN TẤT THU

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực.Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thúy Hằng


nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay
Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT

37

NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI BỆNH
VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
2.1.

Thực trạng về nguồn nhân lực tại Bệnh viện HN Việt Đức

37

2.2.

Thực trạng thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất

42

lượng cao tại Bệnh viện HN Việt Đức
2.3.

Đánh giá chung về chính sách thu hút nguồn nhân lực chất

53

lượng cao (ưu điểm, hạn chế, bất cập, nguyên nhân của các
hạn chế bất cập và giải pháp) tại Bệnh viện HN Việt Đức
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN


KẾT LUẬN

74

TÀI LIỆU THAM KHẢO

76


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Ngay từ khi thành lập, Đảng và
Nhà nước ta đã quan tâm đến việc thu hút và trọng dụng nhân tài. Hồ Chí
Minh đã xác định tìm người tài để xây dựng đất nước và Người chính là tấm
gương sáng cho việc tìm người tài và trọng dụng nhân tài.
Trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, chủ trương,
đường lối, hướng đi của mọi quốc gia trong đó có Việt Nam là phát triển kinh
tế - xã hội. Để làm được việc đó cần phải huy động mọi nguồn lực cần thiết cả
trong nước và nước ngoài bao gồm nguồn lực con người, nguồn lực tài chính,
nguồn lực công nghệ, nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên với các ưu thế về
điều kiện địa lý, thể chế chính trị... Và trong tất cả các nguồn lực, nguồn lực
con người là nguồn lực cơ bản và chủ yếu cho sự phát triển, có tính chất quyết
định đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.
Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia trong đó có Việt Nam đều đề cao
đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao và có hàng loạt chiến lược để cạnh
tranh, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
Từ nhận thức đầy đủ vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng
cao trong thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng
ta đặc biệt quan tâm đến xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng

hưng đất nước trong thời kỳ mới.
- Chu Văn Cấp (2012): Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần
phát triển bền vững Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, (9/839), tr 54 - 58 đã trực
tiếp bàn về các vấn đề lý luận, thực tiễn cơ bản của việc phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao góp phần phát triển bền vững, đồng thời đưa ra những kiến
nghị và giải pháp.
- Nguyễn Duy Tuấn, Dương Thùy Linh (2014): Một số kinh nghiệm về thu
hút nguồn nhân lực trong khu vực công. Bài viết đưa ra cái nhìn thực tế về

2


việc thu hút nhân lực trong khu vực công ở Việt Nam và kinh nghiệm của thế
giới trong lĩnh vực này.
- Văn Tất Thu: Chính sách sử dụng, trọng dụng nhân tài, trí thức của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân và kháng chiến
kiến quốc - Tạp chí Quản lý nhà nước, số tháng 8/2015.
- Văn Tất Thu: Quan điểm về nghệ thuật trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong xây dựng chính quyền cách mạng và kháng chiến kiến quốc Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 5/2010.
- Văn Tất Thu: Vấn đề chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 6/2016.
- Văn Tất Thu: Giải pháp chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
hiện nay - Tạp chí quản lý Nhà nước số 746/7/2016.
- Trần Văn Ngợi: Thu hút và trọng dụng người có tài năng trong các cơ quan
hành chính nhà nước ở Việt Nam” - Luận án tiến sỹ Quản lý hành chính công,
Học viện Hành chính quốc gia năm 2015.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn này
cho thấy một cái nhìn khá đầy đủ và toàn diện cả về lý luận và thực tiễn về
nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao qua các thời kỳ. Nhiều công
trình nghiên cứu khẳng định nguồn nhân lực chất lượng cao có tầm quan
trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển của quốc gia, là động lực phát triển

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng cách tiếp cận những lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê
Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội học,
thống kê và vận dụng triệt để phương pháp nghiên cứu của chính sách công.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về chính sách công nói chung,
chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng. Các kết luận,

4


kiến nghị, đề xuất rút ra từ việc nghiên cứu đề tài luận văn giúp bổ sung hoàn
thiện chính sách thu hút nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đề xuất các giải pháp cụ thể có thể để quy hoạch, thu hút,
tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng và đánh giá sử dụng, trọng dụng nguồn nhân
lực chất lượng cao của bệnh viện HN Việt Đức trong những năm tới.
Luận văn cũng là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu,
giảng dạy về chính sách công nói chung, chính sách thu hút, phát triển nguồn
nhân lực nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách thu hút nguồn nhân lực chất
lượng cao
Chương 2: Thực trạng chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tại
bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất
lượng cao ở Việt Nam hiện nay


6


đức, lối sống. Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
đưa ra các khái niệm nguồn nhân lực theo các khía cạnh khác nhau.
Theo Liên hiệp quốc “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến
thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm
năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”.
Theo Tổ chức lao động quốc tế “Nguồn nhân lực của một quốc gia là
toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”.
Theo GS.TS Phạm Minh Hạc “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm
năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được
chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động
nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung)
bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao
động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Theo tác giả Nguyễn Đăng Thành “Nguồn nhân lực là một khái niệm
tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người
lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai tiềm năng của mỗi
tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới”.
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức,
một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội
(thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các
nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn
con người đáp ứng yêu cầu phát triển.
Nguồn nhân lực theo cách tiếp cận mới có nội hàm rộng bao gồm các
yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến
thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hóa.
Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so


8


1.1.3. Nguồn nhân lực chất lượng cao; Chính sách thu hút nguồn nhân lực
chất lượng cao
1.1.3.1. Nguồn nhân lực chất lượng cao
Theo cách hiểu mang tính định tính, nguồn nhân lực chất lượng cao
được xem là một bộ phận của lực lượng lao động, có khả năng đáp ứng những
yêu cầu phức tạp của công việc tử đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong
công việc, có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trường và phát triển của
cộng đồng cũng như toàn xã hội.
Nếu tiếp cận theotính định lượng thì nguồn nhân lực chất lượng cao
được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Nguồn nhân lực chất lượng cao là
những người lao động đã qua đào tạo, có bằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ
thuật. Tuy nhiên, khái niệm “lao động qua đào tạo” khá phức tạp vì hiện nay
có rất nhiều hình thức đào tạo khác nhau.Học nghề ngắn hạn hay học cao
đẳng, đại học đều có thể gom vào khái niệm “lao động qua đào tạo”.Như vậy,
nếu coi nguồn nhân lực chất lượng cao là lao động qua đào tạo thì sẽ có một
sự phân hóa khá lớn về trình độ nguồn nhân lực này. Cách hiểu định lượng
hẹp hơn, coi nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực có trình độ đại
học trở lên, nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách,
nguồn nhân lực khoa học công nghệ, đội ngũ giảng viên các trường đại học,
cao đẳng, các nhà khoa học… Còn có một cách hiểu hẹp hơn nữa chỉ xem
những người có trình độ thạc sỹ, tiến sỹ là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Như vậy, có thể thấy chưa có sự thống nhất về khái niệm nguồn nhân
lực chất lượng cao và cả hai cách hiểu định tính và định lượng đều có những
nhược điểm nhất định.Cách hiểu định tính gây khó khăn cho việc xác định
nguồn nhân lực chất lượng cao về mặt thống kê, quản lý và xây dựng chính
sách đặc thù riêng đối với họ.Hơn nữa,cách hiểu định lượng sẽ loại những

Đối với nước ta hiện nay, nguồn nhân lực chất lượng cao được Đảng
xác định rõ trong Đại hội XI đó là bộ phận chất lượng cao của nguồn nhân
lực, bao gồm những người không chỉ có tài năng, chuyên môn giỏi theo lĩnh
vực hoạt động và chuyên môn của mình mà còn có đầy đủ đạo đức của người

10


cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, thật sự “vừa
hồng, vừa chuyên” như Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo. Đó là những người
“giỏi”, “đầu đàn” trên tất cả các mặt, các lĩnh vực hoạt động, nòng cốt trong
nguồn nhân lực quốc gia. Từ các phân tích trên có thể định nghĩa: Nguồn
nhân lực chất lượng cao là khái niệm chỉ lực lượng lao động tinh túy, có trình
độ, năng lực, kinh nghiệm, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp cao bao gồm những
công nhân, nông dân, thợ thủ công lành nghề, các kỹ sư, bác sỹ, thầy giáo, tri
thức, thương gia, các nhà hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội xuất sắc, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo quản lý cao cấp, đội ngũ cán bộ
công chức tham mưu hoạch định chính sách ở tầm chiến lược… Họ là những
người lao động có đóng góp to lớn và tích cực cho sự nghiệp xây dựng và
phát triển đất nước./
1.1.3.2. Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao
Trước khi hiểu chính sách thu hút nguồn nhân lực thì khái niệm “thu
hút nguồn nhân lực” cũng phải được hiểu rõ. “Thu hút có nghĩa là lôi cuối,
làm dồn mọi sự chú ý vào”.Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ
là một khâu của quy trình quản lý nguồn nhân lực. Nó phải là tổng thể các cơ
chế, chính sách tạo sức hấp dẫn nhằm kêu gọi, khuyến khích, tạo điều kiện
thuận lợi về mọi mặt (cả điểu kiện vật chất và tinh thần) để người có năng lực,
trình độ cao và phẩm chất tốt vào làm việc tại một tổ chức. Thu hút nguồn
nhân lực chất lượng cao luôn kết hợp chặt chẽ với việc bồi dưỡng, thăng tiến,
đãi ngộ… và như vậy có thể hiểu “Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao là
tạo sức hấp dẫn và sự lôi cuốn thông qua tổng thể các cơ chế, chính sách về

nghiệm, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp cao có đóng góp to lớn vào sự nghiệp
xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Họ là những người làm
việc cho Nhà nước, có quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý và sử dụng họ, Nhà nước có bổn
phận và nghĩa vụ pháp lý đối với họ, cụ thể là Nhà nước phải có chính sách
thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, sử dụng và trọng dụng họ.

12


Thứ hai, do vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế - xã hội
và mở cửa hội nhập quốc tế. Hiệu lực hiệu quả của hoạt động bộ máy Nhà
nước nói chung, của hệ thống chính trị nói riêng xét cho cùng được quyết
định bởi nguồn nhân lực có năng lực, phẩm chất, hiệu quả công tác của nguồn
nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính nguồn nhân lực chất
lượng cao là lực lượng tham mưu cho Đảng và Chính phủ trong hoạch định
chiến lược, kế hoạch, chủ trương, chính sách, bước đi, giải pháp thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đồng thời chính họ là lực lượng lãnh
đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nội dung, nhiệm vụ của sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Không một lĩnh vực, một nội dung, nhiệm vụ nào
của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế -xã hội và mở
cửa hội nhập quốc tế lại không cần đến nguồn lực con người nhất là nguồn
nhân lực chất lượng cao.
Thứ ba, để có được nguồn nhân lực có chất lượng cao, có đủ trình độ,
năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng
và phát triển đất nước Nhà nước phải đặc biệt quan tâm đến đầu tư đào tạo,
bồi dưỡng, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đồng thời
cần phải có thái độ, quan điểm đúng về thu hút, bồi dưỡng, sử dụng, trọng
dụng nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công

học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là
lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và
bền vững”. Đây là khâu đột phá quan trọng nhằm tập trung nâng cao sức
mạnh nội sinh: tri thức - trí tuệ của dân tộc Việt Nam để thích ứng và đột phá
phát triển trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Như vậy, có thể nói phát triển nguồn
nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao là khâu đột phá, có vai trò
chi phối việc thực hiện các khâu khác bởi chính nguồn nhân lực chất lượng
cao tạo ra và thực thi thể chế, chính sách, xây dựng bộ máy và kết cấu hạ
tầng. Thực hiện tốt khâu đột phá phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng
cao sẽ làm tăng tiềm lực và sức mạnh quốc gia. Để có nguồn nhân lực chất

14


lượng cao cần phải có chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao đúng và đủ
mạnh.
Thứ sáu, chúng ta đang sống trong một thời đại khoa học công nghệ
phát triển rất nhanh và mạnh.Chính từ sự phát triển đó tạo ra một làn sóng
công nghiệp hóa lần thứ ba và hình thành nền kinh tế tri thức. Toàn cầu hóa
ngày càng sâu rộng, các liên kết kinh tế xuất hiện ngày càng ảnh hưởng nhiều,
thúc đẩy sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và hình thành các chuỗi giá
trị toàn cầu, cạnh trạnh kinh tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ quyết liệt và mỗi
quốc gia phải dành được ưu thế trong cuộc cạnh tranh đó. Ngoài ra tình trạng
khan khiếm các loại nguyên liệu, năng lượng do sự cạn kiệt của các nguồn tài
nguyên không tái tạo được đòi hỏi con người phải tìm kiếm các dạng nguồn
tài nguyên khác nhằm đảm bảo phát triển bền vừng. Từ đó có thể thấy vai trò
ngày càng lớn của nguồn lực con người đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng
cao. Nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành lợi thế cạnh trạnh, năng động
trong quá trình phát triển và là nhân tố làm chuyển dịch lợi thế so sánh giữa
các quốc gia. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần đi đôi

Để chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đạt được mục tiêu
đề ra cần phải có các giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất,giải pháp xây dựng quy hoạch, kế hoạch thu hút nguồn nhân
lực chất lượng cao. Quy hoạch, kế hoạch thu hút nguồn nhân lực chất lượng
cao là nội dung, nhiệm vụ quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực nhằm thu
hút, tuyển chọn được nguồn nhân lực có chất lượng cao có khả năng tiếp thu
và vận dụng sáng tạo các thành tựu khoa học kỹ thuật trong nước và thế giới,
có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc đáp ứng được các nhiệm vụ của
của tổ chức. Quy hoạch thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phải đảm bảo
cơ cấu trình độ, tuổi tác, giới tính, sắc tộc, vùng miền, bảo đảm số lượng hợp
lý. Đặc biệt trong quy hoạch cần phải chú ý đến đội ngũ lãnh đạo quản lý, cán
bộ công chức, chuyên gia hoạch định chính sách ở tầm chiến lược, cán bộ trẻ,
cán bộ nữ, người dân tộc. Và điều quan trọng nhất là quy hoạch phải bảo đảm
chất lượng sát với thực tế và nhu cầu mở rộng, tránh quy hoạch treo. Đồng

16


thời phải thường xuyên sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm sửa đổi, bổ sung hoàn
thiện quy hoạch thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao
là nhiệm vụ quan trọng và lâu dài.Để đảm bảo chất lượng, hiệu quả của quy
hoạch, kế hoạch cần phải đầu tư công sức, trí tuệ và các nguồn lực mới đáp
ứng được yêu cầu đặt ra.
Thứ hai,giải pháp tuyển chọn, tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng
cao theo quy hoạch, kế hoạch thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.Cần
phải có cơ chế, giải pháp, tuyển chọn, tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng
cao theo quy hoạch, kế hoạch thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Hệ
thống cơ chế, giải pháp tuyển chọn, tuyển dụng hợp lý, chặt chẽ và khoa học
có vai trò quan trọng trong việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Đó là

trí lực và tâm lực để họ có thể giải quyết thành công các nhiệm vụ khó khăn,
phức tạp của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển
kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.
Thứ tư, trọng dụng, sử dụng, tôn vinh đúng nguồn nhân lực chất lượng
cao là giải pháp cực kỳ quan trọng trong chính sách thu hút nguồn nhân lực
chất lượng cao. Để giữ được nguồn nhân lực chất lượng cao được thu hút cần
phải sử dụng, trọng dụng, tôn vinh họ một cách hợp lý và đúng đắn. Kinh
nghiệm phát triển, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao của cha ông trong
lịch sử và kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới đã chỉ ra rằng
trọng dụng, tôn vinh nguồn nhân lực chất lượng cao có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng quyết định sự thành bại của chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao. Con người và chính sách trọng dụng, sử dụng con người quyết
định sự thành bại của mọi sự nghiệp. Có nhiều phương thức trọng dụng, sử
dụng, tôn vinh nguồn nhân lực chất lượng cao nhưng phổ biến nhất có ba
phương thức chủ yếu: Đánh giá, sử dụng đúng tài năng của nhân lực chất
lượng cao; Tôn vinh nguồn nhân lực chất lượng cao; Tin cậy và hậu đãi
nguồn nhân lực chất lượng cao. Có trọng dụng, sử dụng, tôn vinh nguồn nhân
lực chất lượng cao thì nguồn nhân lực chất lượng cao mới phát triển và đáp

18


ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát
triển kinh tế - xã hội và mở cửa hội nhập quốc tế. Đểthu hút được nguồn nhân
lực chất lượng cao cần phải trọng dụng, sử dụng, tôn vinh họ một cách đúng
mực và cần:
- Thực sự tin cậy nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Đánh giá sử dụng đúng nguồn nhân lực chất lượng cao, cất nhắc, bổ
nhiệm họ vào vị trí lãnh đạo, quản lý và tạo mọi điều kiện cho nhân lực chất
lượng cao phát huy tài năng của mình.

mặc, chỗ ở sau đó mới có thể lao động và sáng tạo. Do đó để thu hút được
nguồn nhân lực chất lượng cao trước hết phải đáp ứng được đầy đủ nhu cầu
về vật chất, tinh thần cần thiết cho họ. Phải có chế độ tiền lương và các chế độ
đãi ngộ thỏa đáng, tương thích với năng lực, thành tích, cống hiến của nhân
lực chất lượng cao để họ an tâm làm việc, cống hiến không phải lo lắng đến
đời sống vất chất hàng ngày.
Thứ sáu, tạo môi trường và điều kiện làm việc tốt cho nguồn nhân lực
chất lượng cao là giải pháp quan trọng không thể thiếu trong chính sách thu
hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Có thể nói, đây là một trong những giải
pháp có ý nghĩa quan trọng để thu hút và giữ được nguồn nhân lực chất lượng
cao. Cần phải tạo điều kiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện
và công cụ làm việc đầy đủ và hiện đại để trên cơ sở này cùng với trình độ,
năng lực, kiến thức, kỹ năng, tư duy sáng tạo họ có thể cống hiến nhiều hơn
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc biệt, đối với
nguồn nhân lực chất lượng cao (nhà khoa học, nhà giáo, giáo sư, tiến sỹ, bác
sỹ, chuyên gia đầu nghành trong các lĩnh vực ngành, nghề…) cần phải đặc
biệt quan tâm tạo môi trường làm việc dân chủ, tự do, tự chủ, tự chịu trách
nhiệm cao để họ phát huy hết khả năng tư duy và hành động sáng tạo cho sự
nghiệp xây dựng, bảo vệ và chấn hưng đất nước. Ý tưởng, phát kiến và sản
phẩm lao động của họ phải được đánh giá một cách khách quan, chính xác,

20


không nên quy chụp. không được coi ý kiến trái chiều là chống đối, phải cho
họ quyền bảo lưu ý kiến của mình. Nhà nước phải có giải pháp bảo hộ, bảo
hiểm rủi ro cho lao động sáng tạo và phức tạp của họ. Tạo ra môi trường dân
chủ, tự do, thông thoáng trong tranh luận học thuật, trong tư duy sáng tạo đối
với nhân lực chất lượng cao là vô cùng quan trọng, là sự trọng dụng đầu tiên
thậm chí hơn cả chính sách đãi ngộ vật chất đối với họ. Tự do nghiên cứu, tự

+ Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chính sách đối với thu hút nhân lực nói
chung và thu hút nhân lực chất lượng cao nói riêng để đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
- Công cụ tài chính (công cụ dựa vào tài chính): ngân sách nhà nước là
nguồn lực chủ yếu để thu hút, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho
đất nước.
Tuy nhiên cũng cần phải thực hiện cơ chế tự chủ tài chính cho các cơ
quan, tổ chức sử dụng nguồn nhân lực để họ có thể chủ động xây dựng kế
hoạch, quy hoạch thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho cơ quan, tổ chức
của họ. Đồng thời Nhà nước cần tìm cách tăng cường vốn cho việc thu hút và
trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao bằng cách huy động các nguồn vốn
đầu tư khác: vốn vay ODA, viện trợ không hoàn lại….
- Công cụ dựa vào thông tin, tuyên truyền: các Bộ ngành, cơ quan
truyền thông có trách nhiệm phổ biến, tuyên truyền chủ trương của Đảng,
chính sách của Nhà nước về thu hút nhân lực nói chung và thu hút nguồn
nhân lực chất lượng cao nói riêng, làm cho cán bộ, công chức của toàn bộ hệ
thống chính trị các cấp, các tầng lớp nhân dân, các nhà trường, các doanh
nghiệp, tổ chức… biết và hiểu rõ hơn về chính sách này. Nhà nước cần có
những việc làm thiết thực, cụ thể để thúc đẩy, vun đắp, nuôi dưỡng lòng tự
tôn dân tộc để biến thách thức về nhân lực chất lượng cao thành lợi thế để
phát triển đất nước, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
- Công cụ thanh tra, kiểm tra: thanh tra, kiểm tra cũng là công cụ quan
trọng của chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Kiểm tra về trình

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status