MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quận Hà Đông có vị trí địa lý rất quan trọng của thành phố Hà Nội,
nằm giữa giao điểm của Quốc lộ 6 từ Hà Nội đi Hòa Bình và quốc lộ 70A. Hà
Đông cũng là nơi khởi đầu của quốc lộ 21B, nối trung tâm Hà Nội với các
huyện phía nam của Thủ đô và tỉnh Hà Nam, tỉnh Ninh Bình. Quận Hà Đông
có diện tích tự nhiên 4.833,7 ha và 17 đơn vị hành chính phường. Ranh giới
tiếp giáp: Phía Bắc giáp huyện Từ Liêm và huyện Hoài Đức; Phía Nam giáp
huyện Thanh Oai và huyện Chương Mỹ; Phía Đông giáp huyện Thanh Trì và
quận Thanh Xuân; Phía Tây giáp huyện Hoài Đức và huyện Quốc Oai. Hà
Đông là một trong những Quận được ưu tiên phát triển trong những năm gần
đây của Thành phố Hà Nội.
Để xứng đáng với vị thế và tầm vóc phát triển của mình trong hiện tại
và tương lai, trong thời gian qua Quận Hà Đông đã có nhiều chủ trương giải
pháp để phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có phát triển dịch vụ môi trường.
Dịch vụ môi trường trên địa bàn Hà Đông ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Quận nói riêng và của Thành phố
Hà Nội nói chung. Sự phát triển dịch vụ môi trường của Quận đã góp phần
tích cực ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tạo môi trường xanh,
sạch đẹp cho xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên địa
bàn. Nhận thức được vai trò to lớn của dịch vụ môi trường, trong những năm
gần đây Quận Hà Đông đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp khuyến
khích phát triển dịch vụ môi trường, đầu tư ngày càng lớn hơn cho công tác
bảo vệ môi trường, nhiều loại hình dịch vụ môi trường đã đi vào hoạt động có
hiệu quả thiết thực như: dịch vụ xử lý rác thải, khí thải, nước thải, cảnh quan
môi trường, vệ sinh môi trường, tư vấn môi trường..., các thành phần kinh tế
tham gia ngày càng nhiều hơn vào lĩnh vực bảo vệ môi trường. Dịch vụ môi
trường trên địa bàn Quận Hà Đông từng bước trở thành lĩnh vực kinh doanh;
thị trường dịch vụ môi trường đang hình thành và phát triển, khung khổ pháp
lý cho phát triển lĩnh vực này ngày càng hoàn thiện.
3
4
cam kết quốc tế trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” của Viện nghiên
cứu Thương mại, Bộ Công thương [44]. Dự án đã hệ thống các quan niệm và
cách phân loại khác nhau về dịch vụ môi trường trên thế giới; nghiên cứu
kinh nghiệm phát triển dịch vụ môi trường và thực hiện các cam kết mở cửa
thị trường dịch vụ môi trường của một số nước trên thế giới (Liên minh châu
Âu, Trung Quốc, Thái Lan) và rút ra bài học đối với Việt Nam; khảo sát, đánh
giá thực trạng phát triển dịch vụ môi trường của Việt Nam và mức độ đáp ứng
yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế và đề xuất các giải pháp phát triển dịch
vụ môi trường.
Vũ Bảo Dương (1999), Dự án chiến lược phát triển khoa học công
nghệ và bảo vệ môi trường tỉnh Hải Dương đến năm 2010, tầm nhìn đến năm
2020, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Hải Dương. Trong dự án
đề cập nội dung chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và bảo vệ môi
trường tỉnh Hải Dương đến năm 2010; tầm nhìn phát triển khoa học, công
nghệ và bảo vệ môi trường tỉnh Hải Dương đến năm 2020 [8].
UBND Thành phố Hà Nội (2006), Đề án phát triển Khu công nghiệp
và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường Thành phố Hà Nội giai đoạn 20062015, Hà Nội [32]. Đề án đề cập những vấn đề liên quan đến môi trường:
thực hiện tốt việc lựa chọn, chấp thuận các dự án đầu tư có đủ các điều kiện
cần thiết về sản xuất, môi trường. Thường xuyên tiến hành việc đánh giá hiện
trạng môi trường đối với các khu, cụm công nghiệp, các cơ sở sản xuất hiện
có. Phát triển nông nghiệp nông thôn, làng nghề phải gắn với công tác bảo vệ
môi trường, cải thiện chất lượng môi trường, ngăn ngừa và giảm thiếu ô
nhiễm ở các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Có các chế tài đối với các
doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường và cần di dời nếu nằm trong khu dân
cư. Trong các KCN, cần xây dựng các xí nghiệp xử lý môi trường tập trung,
sau năm 2010 chỉ chấp thuận đầu tư cho các dự án sản xuất công nghiệp bảo
đảm môi trường vào các khu công nghiệp. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp
biệt đến Đại hội IX Đảng ta đã nêu thành một quan điểm phát triển hàng đầu là
6
phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Kể từ khi luật bảo vệ môi
trường có hiệu lực thi hành, hệ thống pháp luật nước ta về môi trường ngày càng
được hoàn thiện. Bộ Chính trị đã có chỉ thị số 36 ngày 25/6/1998 về tăng cường
công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước trên cơ sở đó,
Chính phủ đã giao cho các Bộ, ngành liên quan chủ trì xây dựng và tổ chức thực
hiện nhiều đề án để thực hiện chỉ thị số 36 của Bộ Chính trị.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010), Dự án xây dựng chiến lược phát
triển dịch vụ môi trường đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 [4] về
Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, dự án nêu
rõ các quan điểm chỉ đạo đối với công tác bảo vệ môi trường; trong đó nhấn
mạnh nhiệm vụ công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường. Dự án cho rằng, để
giải quyết các vấn đề đang tồn tại về môi trường và hạn chế mức gia tăng ô
nhiễm trong thời gian tới, đòi hỏi phải có nguồn lực đầu tư rất lớn cho môi
trường; đồng thời định hướng công tác bảo vệ môi trường ở nước ta giai đoạn
đến năm 2020 nhấn mạnh quan điểm: “Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của
toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và mọi người
dân; bảo vệ môi trường mang tính quốc gia, khu vực và toàn cầu, cho nên
phải kết hợp giữa phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế”[4]. Dự án
chiến lược cũng đưa ra các mục tiêu cụ thể về tỉ lệ các cơ sở sản xuất xử lý
chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường, tỉ lệ hộ gia đình và doanh nghiệp có dụng
cụ phân loại rác tại nguồn, tỉ lệ các khu công cộng có thùng gom rác, tỉ lệ các
khu công nghiệp tập trung có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu
chuẩn, tỉ lệ thu gom chất thải các loại... trong lộ trình từ nay đến năm 2020.
Văn Thông (2011), Hợp tác xã dịch vụ vệ sinh môi trường Minh Tân:
Tạo việc làm cho nhiều lao động nữ, Tạp chí Văn hóa, thể thao và du lịch Hải
của thị trấn ngày một Xanh - Sạch - Đẹp [19].
Sơn Tùng (2013), Hợp tác xã dịch vụ vệ sinh môi trường, mô hình cần
nhân rộng, Báo Hà Nội mới ngày 29.4.2013, tr.1. Bài báo đã phản ánh trong
8
thời gian qua, nhiều hợp tác xã dịch vụ môi trường đã được thành lập, không
ít mô hình thí điểm về quản lý và xử lý môi trường đã thành công. Các hợp
tác xã góp phần đáng kể vào việc đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi
trường, huy động sức mạnh và ý thức của người dân trong bảo vệ môi trường
sống. Hiện cả nước có 19.500 hợp tác xã trong đó có 274 hợp tác xã dịch vụ
môi trường bao gồm 154 hợp tác xã chuyên về môi trường (cung cấp nước
sạch, thu gom và xử lý rác thải) và 120 hợp tác xã tham gia hoạt động bảo vệ
môi trường. Nhiều mô hình hợp tác xã hoạt động rất hiệu quả như hợp tác xã
Môi trường Thành Công (Hà Nội), hợp tác xã Nước sạch Bình Tây (Tiền
Giang), hợp tác xã Môi trường Hiệp Hòa, hợp tác xã Môi trường Đồng Lợi
(Bắc Giang), HTX Chí Linh (Hải Dương)... Những hợp tác xã này đã góp
phần quan trọng vào giảm thiểu ô nhiễm môi trường và phát triển kinh tế - xã
hội bền vững trên địa bàn [29].
Đặng Văn Sánh (2013), “Vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam
trong hoạt động dịch vụ môi trường” Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện chính
trị. Tác giả đã luận giải cơ sở lý luận thực tiễn về vai trò của Quân đội nhân
dân trong hoạt động dịch vụ môi trường, trên cơ sở đó đã đề xuất các quan
điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy lực lượng có nhiều ưu thế
này tham gia phát triển dịch vụ môi trường, góp phần bảo đảm cho phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước một cách bền vững [26].
Vũ Văn Tự (2013), “Dịch vụ môi trường trên địa bàn tỉnh Hải
Dương” Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị, Học viện chính trị. Tác giả đã luận
giải làm rõ các quan niệm Quan niệm, phân ngành và vai trò dịch vụ môi
trường trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Đánh giá thực trạng về thực trạng dịch vụ
dân cư rộng, phân bố không tập trung cũng gây trở ngại cho việc triển khai
thu gom; bên cạnh đó, ý thức tự giác của người dân về bảo vệ môi trường
chưa cao, mọi người vứt rác bất cứ đâu có thể. Trong lúc nhiều địa phương
đang lúng túng xử lý rác thải thì giải quyết vấn đề này, nhiều địa phương đã
lựa chọn, phát triển mô hình hợp tác xã làm dịch vụ vệ sinh môi trường. Đây
là mô hình dựa vào cộng đồng, phục vụ cộng đồng, phát huy sức mạnh của
10
cộng đồng xã hội, sử dụng lao động tại chỗ, được đông đảo nhân dân ủng hộ,
hiệu quả đem lại rất to lớn đáng ghi nhận [17].
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận
văn, song cho đến nay vấn đề phát triển dịch vụ môi trường trên địa bàn Quận
Hà Đông, Thành phố Hà Nội chưa có công trình nghiên cứu nào được công
bố. Do đó, đề tài không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào khác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ môi trường
trên địa bàn Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội và đề xuất quan điểm, giải
pháp phát triển dịch vụ môi trường trên địa bàn Quận Hà Đông, thành phố Hà
Nội trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển dịch vụ môi
trường trên địa bàn Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
Đánh giá đúng thành tựu và hạn chế phát triển dịch vụ môi trường trên
địa bàn Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xác định nguyên nhân thành tựu,
hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết.
Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển dịch vụ môi trường trên địa
bàn Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện thành công góp phần cung cấp cơ sở khoa học
cho việc phát triển dịch vụ môi trường trên địa bàn Quận Hà Đông và các
Quận, Huyện thuộc Thành phố Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo
nghiên cứu khoa học, giảng dạy môn Kinh tế chính trị Mác - Lênin ở các nhà
trường trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
đề tài kết cấu thành 3 chương, (6 tiết).
12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA
BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Những vấn đề chung về dịch vụ môi trường
1.1.1. Quan niệm, đặc điểm về dịch vụ môi trường
* Quan niệm về dịch vụ môi trường
Ngành DVMT đã xuất hiện từ lâu ở nhiều quốc gia cũng như ở Việt
Nam, song đến nay quan niệm về DVMT chưa có sự thống nhất. Tổ chức
Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) quan niệm về DVMT như sau: “Dịch
vụ môi trường là những dịch vụ được cung cấp nhằm quản lý, phòng ngừa,
hạn chế, giảm thiểu hoặc khắc phục những thiệt hại về môi trường nước,
không khí, đất, cũng như giải quyết những vấn đề liên quan đến chất thải,
tiếng ồn và hệ sinh thái” [4, tr.20].
Cộng đồng châu Âu (EU) quan niệm DVMT bao gồm toàn bộ vòng đời
sử dụng nước và bảo vệ nguồn nước, bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái và đa
dạng sinh học.
Diễn đàn Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD)
quan niệm DVMT bao hàm 4 nhóm ngành chính: Dịch vụ hạ tầng môi trường
Trên cơ sở quan niệm trên và căn cứ vào các văn bản pháp quy:
Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường về “hướng dẫn điều kiện hành nghề về thủ tục lập
hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại”[2].
Căn cứ vào hoạt động thực tiễn của ngành dịch vụ môi trường ở nước ta trong
thời gian qua có thể xác định dịch vụ môi trường bao gồm các hoạt động dịch
vụ chủ yếu sau:
Dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải: Đây là các dịch vụ xử lý nước
thải, nước bị ô nhiễm nhằm đưa nước ra môi trường ở một mức độ chấp nhận.
Dịch vụ này không bao gồm việc thu gom, làm sạch và phân phối nước,
không bao gồm việc xây dựng, sửa chữa và điều chỉnh các loại cống thoát.
14
Dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu: là các
dịch vụ về rác thải, như vận chuyển, xử lý, tái chế… dịch vụ này không bao
gồm việc buôn bán các loại chất thải và phế liệu hoặc các hoạt động nghiên
cứu có liên quan.
Dịch vụ quan trắc và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án
phát triển kinh tế - xã hội: dịch vụ này cung cấp kết quả quan trắc tài nguyên
môi trường (đất, nước, không khí, chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại)
nhằm cung cấp có hệ thống, đầy đủ các thông tin về hiện trạng các thành phần
môi trường trên địa bàn tỉnh, thành và các quận, huyện để giúp các cơ quan
quản lý kịp thời đưa ra các hành động, chính sách nhằm ngăn ngừa suy thoái
môi trường và tác động đến các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
và của quốc gia.
* Đặc điểm về dịch vụ môi trường
Thứ nhất, dịch vụ môi trường có đầy đủ các đặc điểm của các ngành
dịch vụ nói chung: sản phẩm là hàng hóa phi vật chất, không có chất lượng
đồng nhất, không lập kho để lưu trữ như những hàng hóa vật chất thông
của đời sống xã hội.
1.1.2. Vai trò dịch vụ môi trường đối với phát triển kinh tế - xã hội
Dịch vụ môi trường ngày càng trở nên quan trọng đối với phát triển
kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước và đối với các địa phương được biểu
hiện ở các vai trò cụ thể sau:
Một là, phát triển dịch vụ môi trường góp phần to lớn trong việc thực
hiện mục tiêu bảo vệ môi trường của quốc gia và của từng địa phương.
Phát triển dịch vụ môi trường sẽ giúp cho chúng ta ngăn ngừa và giảm
thiểu ô nhiễm môi trường do tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
16
hóa đất nước thông qua các hoạt động như xử lý khí thải, nước thải, các dịch
vụ tư vấn môi trường…, những lợi ích mà các dịch vụ môi trường thực hiện
giúp ngăn ngừa, cắt giảm hay khắc phục sự suy thoái môi trường, thay đổi khí
hậu ngày càng được coi trọng trong việc đảm bảo giải quyết các vấn đề môi
trường. Đây là một cách giải quyết đúng đắn góp phần ngăn ngừa và hạn chế
những hiểm hoạ trong tương lai của đất nước và của từng địa phương.
Đối với môi trường đất, đặc biệt là đất khu vực các khu công nghiệp
trong thời gian dài, dưới ảnh hưởng của dầu mỡ tích tụ, bãi rác thải, xỉ thải,
nước thải, bụi đất, các hóa chất… sẽ làm cho đất bị thoái hóa, suy giảm chất
lượng, chứa chất ô nhiễm, hậu quả lâu dài là cuộc sống, sức khỏe của con
người và sinh vật bị đe dọa. Như vậy, sẽ gây ra chi phí trong tương lai cho xã
hội trong việc cải tạo đất nông nghiệp, chi phí khám chữa bệnh và chi phí xã
hội khác cho những người bị bệnh mất khả năng lao động. Sự phát triển của
dịch vụ môi trường sẽ giúp cho ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm đất bằng
những biện pháp quản lý chặt chẽ, thu gom tập trung và xử lý theo giây
chuyền bằng công nghệ hiện đại.
Đối với môi trường không khí, dưới tác động của bụi đất, bụi cát trong
quá trình vận chuyển, thi công, xây dựng các công trình trên các địa bàn thuộc
các sản phẩm hàng hóa của các ngành kinh tế khi xuất khẩu vấn đề quan trọng
nhất là phải tuân thủ các tiêu chuẩn về môi trường của các nước nhập khẩu, như
là thực phẩm và thuỷ sản của ngành nông nghiệp; hàng dệt may, giày dép của
ngành công nghiệp; lâm sản và một vài sản phẩm công nghiệp và thủ công.
Do đó, Các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp luôn luôn đề cao sản
phẩm từ dịch vụ môi trường cung cấp và lợi ích kinh tế mà chúng mang lại
tác động đến các ngành, các lĩnh vực khác trong đời sống văn hóa - xã hội.
Các sản phẩm công nghệ thân thiện với môi trường cũng ngày càng trở nên đa
dạng không chỉ công nghệ trực tiếp có lợi cho môi trường mà còn có sự tham
gia của công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ phần mềm
quản lý và tổ chức, và hầu hết tất cả các thành tựu khoa học các ngành và lĩnh
vực công nghiệp, những cố gắng đó đã xuất hiện một thị trường sản phẩm
công nghệ môi trường với quy mô rộng mở và khả năng đáp ứng ngày càng
18
gia tăng. Điều này sẽ tác động mạnh mẽ đến việc thu hút một nguồn lực lao
động mới tham gia bên cạnh lực lượng lao động sẵn có hiện nay.
Ba là, dịch vụ môi trường góp phần hiện thực hóa chủ trương “xã hội
hóa công tác bảo vệ môi trường”của Đảng và Nhà nước.
Phát triển dịch vụ môi trường của quốc gia và của từng địa phương sẽ
huy động sự tham gia của toàn xã hội trên các địa bàn, trên các vùng miền
vào công tác bảo vệ môi trường, hiện thực hóa chủ trương “xã hội hóa” công
tác bảo vệ môi trường của Đảng và Nhà nước; đồng thời góp phần giảm gánh
nặng cho ngân sách Nhà nước, tạo nguồn thu tài chính đáng kể trong xã hội
cho các hoạt động bảo vệ môi trường. Các ngành, các địa phương thực hiện
xã hội hóa dịch vụ môi trường như là một “giải pháp” cho cải cách việc cung
ứng các dịch vụ công ích gắn liền với bảo vệ môi trường. Như vậy, vai trò
cung ứng dịch vụ của các đối tượng sẽ có sự thay đổi: chuyển từ sự độc quyền
1.2. Quan niệm, nội dung và các nhân tố tác động
đến phát triển dịch vụ môi trường trên địa bàn Quận
Hà Đông
1.2.1. Quan niệm, nội dung phát triển dịch vụ môi trường trên địa
bàn Quận Hà Đông
* Quan niệm về phát triển dịch vụ môi trường trên địa bàn quận Hà Đông
Tiếp cận theo quan niệm chung nhất thì phát triển là quá trình vận động
biến đổi, tiến lên từ thấp đến cao, từ giản đơn giản đến phức tạp, từ ít thành
nhiều, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật, hiện tượng.
Tiếp cận dưới góc độ kinh tế: Thì phát triển kinh tế là sự gia tăng về
quy mô, chất lượng và thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý. Tuy nhiên,
tùy theo phạm vi phát triển kinh tế của các ngành kinh tế ở từng địa phương
hoặc trên phạm vi quốc gia, có những nội hàm cụ thể về chủ thể lãnh đạo,
quản lý, lực lượng tham gia, cũng như về nội dung phát triển kinh tế trên từng
địa phương cũng có sự khác nhau.
20
Từ những quan niệm chung như trên, chúng ta có thể hiểu phát triển dịch
vụ môi trường là làm cho quy mô và chất lượng dịch vụ môi trường ngày càng
tăng lên với một cơ cấu dịch vụ môi trường hợp lý. Vì vậy, có thể quan niệm
phát triển dịch vụ môi trường trên địa bàn Quận Hà Đông như sau: Phát triển
dịch vụ môi trường trên địa bàn Quận Hà Đông là hoạt động có mục đích của
Đảng, Chính quyền, của các thành phần kinh tế, các lực lượng trên địa bàn
Quận nhằm làm tăng quy mô, chất lượng và xây dựng hợp lý về cơ cấu các loại
hình dịch vụ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững
của Quận Hà Đông.
Như vậy, mục đích của phát triển dịch vụ môi trường trên địa bàn Quận
Hà Đông hiện nay là: Nhằm làm tăng quy mô, chất lượng và xây dựng hợp lý
Quận Hà Đông, từ đó xác định nội dung phát triển dịch vụ môi trường trên địa
bàn Quận Hà Đông hiện nay bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Một là, mở rộng quy mô dịch vụ môi trường trên địa bàn quận Hà Đông.
Mở rộng quy mô dịch vụ môi trường trên địa bàn quận Hà Đông thực chất
là phát triển dịch vụ môi trường về chiều rộng, biểu hiện ở việc gia tăng các
hoạt động dịch vụ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên
địa bàn quận.
Việc mở rộng quy mô, tăng cường các dịch vụ môi trường trên địa bàn
quận Hà Đông bao gồm nội dung đầu tư, nâng cấp, mở rộng năng lực cung
cấp dịch vụ của các cơ sở, doanh nghiệp môi trường hiện có trên địa bàn quận
và đầu tư phát triển thêm các cơ sở, doanh nghiệp môi trường mới.
Hai là, nâng cao chất lượng dịch vụ môi trường trên địa bàn quận Hà
Đông.
Nâng cao chất lượng dịch vụ môi trường trên địa bàn quận Hà Đông được
hiểu đó là những hoạt động đầu tư nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ môi trường
lên mức cao hơn trước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của đối tượng phục vụ và đem
22
lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp và của địa phương. Thực chất của nâng cao
chất lượng dịch vụ môi trường trên địa bàn quận Hà Đông hiện nay là phát triển
dịch vụ môi trường của quận theo chiều sâu và ngày càng hiệu quả hơn.
Nâng cao chất lượng dịch vụ môi trường là nội dung rất quan trọng trong
quá trình phát triển dịch vụ môi trường trên địa bàn quận Hà Đông hiện nay. Bởi
vì: Thứ nhất, chất lượng phục vụ, dịch vụ luôn là nhân tố quan trọng bậc nhất
tạo nên uy tín, thương hiệu, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường; Thứ hai, nâng cao chất lượng
phục vụ, dịch vụ là biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả hoạt động của
các doanh nghiệp dịch vụ môi trường, kết hợp lợi ích của cơ sở, doanh nghiệp
- Xây dựng dịch vụ môi trường hợp lý về cơ cấu ngành: Xét trên phạm
vi quận Hà Đông, hoạt động dịch vụ môi trường bao gồm một số phân ngành chủ
yếu như: Dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải; Dịch vụ thu gom, xử lý và
tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu; Dịch vụ quan trắc và đánh giá tác động môi
trường đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận.
Các phân ngành dịch vụ môi trường trên địa bàn quận Hà Đông có quan hệ
rất chặt chẽ với các ngành khác, như: xây dựng, công nghiệp, giao thông vận tải, y
tế, quy hoạch đô thị, tài nguyên môi trường, khoa học và công nghệ v.v..Vì vậy,
đòi hỏi các ngành trên địa bàn Quận phải được phát triển đồng bộ, cân đối
nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng ngành và của toàn Quận trong
phát triển kinh tế - xã hội và đem lại hiệu quả cao. Nếu các ngành trên địa bàn
Quận không được phát triển một cách đồng bộ và cân đối thì việc hoạt động
của từng ngành sẽ không hiệu quả và gặp khó khăn. Như: khi triển khai phát
triển các dự án xây dựng đường giao thông, các khu, cụm công nghiệp, đô thị
mới, làng nghề, bệnh viện...phải đồng thời triển khai thực hiện có hiệu quả đề
án bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường; quản lý và xử lý tốt môi
trường không khí, nước sinh hoạt, nước thải, chất thải tại các công trình, các
khu công nghiệp, các khu đô thị, làng nghề...gây ra bảo đảm an toàn cho đời
24
sống dân cư trên địa bàn và bảo đảm cho quận Hà Đông phát triển kinh tế - xã
hội một cách bền vững.
Đối với phát triển dịch vụ môi trường trên địa bàn quận Hà Đông về cơ
cấu ngành cần tập trung vào phát triển một số phân ngành chủ yếu sau:
Quan trắc và đánh giá tác động môi trường: Tập trung phát triển các
dịch vụ theo dõi xây dựng dữ liệu về hiện trạng môi trường, dịch vụ dự báo
diễn biến các vấn đề môi trường phát sinh, cập nhật so sánh dữ liệu, tư vấn
các hướng giải quyết cải thiện môi trường trên địa bàn quận.
cũng như các viện trường trung tâm nghiên cứu, tuy nhiên cần có biện pháp
đảm bảo doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đó không gây ra ô nhiễm môi trường
sau khi thực hiện dịch vụ.
Xây dựng dịch vụ môi trường hợp lý về cơ cấu thành phần:
- Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay, hoạt động dịch vụ môi trường ở thành phố Hà Nội nói chung và ở
quận Hà Đông nói riêng sẽ có nhiều thành phần kinh tế tham gia. Xây dựng
dịch vụ môi trường trên địa bàn quận Hà Đông hiện nay hợp lý về thành phần
kinh tế, thực chất là xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp trong ngành
kinh tế dịch vụ môi trường.
- Xây dựng kinh tế dịch vụ môi trường trên địa bàn quận Hà Đông hợp lý
về cơ cấu thành phần còn biểu hiện ở việc huy động các thành phần kinh tế tham
gia vào lĩnh vực này một cách có hiệu quả, bao gồm cả kinh tế nhà nước, kinh tế
tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tham gia. Đồng thời,
phải phát huy vai trò của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể; xây dựng mối liên hệ,
liên kết chặt chẽ giữa các các tổ chức, doanh nghiệp trong phát triển kinh tế dịch
vụ môi trường trên địa bàn quận Hà Đông.
1.2.2. Các nhân tố tác động đến phát triển dịch vụ môi trường trên
địa bàn quận Hà Đông
Sự phát triển dịch vụ môi trường trên địa bàn quận Hà Đông hiện nay
chịu sự tác động của nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan, trong đó nổi lên là
các nhân tố sau:
26
Một là, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên trên địa bàn quận Hà Đông.
Quận Hà Đông có toạ độ địa lý 20 059” vĩ độ Bắc, 105045” kinh độ
Đông, nằm giữa giao điểm của Quốc lộ 6 từ Hà Nội đi Hòa Bình và quốc lộ
70A. Hà Đông cũng là nơi khởi đầu của quốc lộ 21B, nối trung tâm Hà Nội
với các huyện phía nam của Thủ đô và tỉnh Hà Nam, tỉnh Ninh Bình. Trên địa