Địa vị pháp lý của thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRƢƠNG THỊ HẠNH

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc

Hµ néi - 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


KHOA LUẬT

TRƢƠNG THỊ HẠNH

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số

: 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Võ Khánh Vinh

Hµ néi - 2009

liên quan đến địa vị pháp lý của Thẩm phán và thực tiễn áp dụng. Bên cạnh


đó luận văn cũng có tìm hiểu, so sánh với pháp luật của một số nước trên
thế giới.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và Nhà nước.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa
học như: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống
kê, tổng hợp…
6. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho cơ quan lập pháp lựa chọn
giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán,
các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa và các quy định liên quan đến
quá trình giải quyết vụ án hình sự để phán quyết của Tòa án được khách quan,
không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm… đảm bảo nguyên tắc
hoạt động Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tạo ra
hành lang pháp lý vững chắc cho Thẩm phán khi thực hiện nhiệm vụ xét xử.
Bên cạnh đó, luận văn còn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn cho những
người làm công tác thực tiễn mà cụ thể ở đây là Thẩm phán. Giúp cho Thẩm
phán có nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của họ
được pháp luật quy định để từ đó áp dụng cho thống nhất, chính xác, tránh áp
dụng tùy tiện.
Tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân giám sát hoạt động xét xử của
Thẩm phán qua kết quả giải quyết án. Giúp cho những người tham gia tố tụng
có những nhận thức hiểu biết đúng đắn về địa vị pháp lý của Thẩm phán để
khi ra phiên tòa có sự tôn trọng pháp luật, tôn trọng người tiến hành tố tụng và
biết cách để bảo vệ quyền lợi của mình.
7. Những đóng góp mới của luận văn

Trong bộ máy nhà nước, Tòa án nhân dân có một vị trí đặc biệt quan
trọng - là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự,
hôn nhân gia đình, lao động, kinh tế, hành chính, kinh doanh thương mại và
giải quyết các công việc khác theo quy định của pháp luật như thi hành án,
giải thích pháp luật… Bằng hoạt động của mình, Tòa án bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa, quyền dân chủ của công dân, của tập thể, bảo vệ tính mạng,
sức khỏe, tài sản, tự do, nhân phẩm danh dự của công dân và bảo vệ tài sản
của Nhà nước. Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án góp phần giáo dục công
dân ý thức pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống, tham gia cuộc
đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.
Trong hoạt động xét xử của Tòa án, Thẩm phán được coi là nhân tố,
hạt nhân rất quan trọng, nhân vật trung tâm. Xét xử được hiểu là "hoạt động
do Tòa án thực hiện để xem xét và giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành
chính, lao động, kinh tế với việc tuân thủ nghiêm ngặt các đòi hỏi của pháp
luật và trật tự pháp luật, có tính lập luận công bằng và có ý nghĩa bắt buộc
chung" [44, tr. 45]. Xét xử đã có từ rất lâu đời nhưng sự ra đời của Thẩm phán
lại khá muộn màng. Dưới thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến hình thức
nhà nước chủ yếu là quân chủ lập hiến, hoạt động xét xử cũng như hoạt động
lập pháp, hoạt động hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong
kiến mà đại diện là nhà vua. Nhà vua là người nắm toàn bộ quyền hành, đứng
đầu Nhà nước ban hành các đạo luật, quyết định tổ chức thực hiện và là người
có quyền lực cao nhất. Đến mãi sau này vào khoảng thế kỷ 17 - 18, giai cấp tư


sản phát triển mạnh mẽ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến đã hạn chế
dần quyền lực của nhà vua, tiến tới xóa bỏ Nhà nước phong kiến lỗi thời.
Trong thời gian này, các học giả tư sản mà tiêu biểu nhất là Montesquieu đã
đưa ra luận điểm: phải tách các hoạt động ban hành pháp luật, hoạt động thực
hiện pháp luật và hoạt động xét xử, chia quyền lực nhà nước thành 3 loại
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau tạo cơ chế kiềm chế

Bài giảng cho học viên cao học luật, Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01
của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của
Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020, Hà Nội.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của
Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
7. Nguyễn Văn Hiển, Dương Bạch Long (2005), Những điều cần biết về
quyền, nghĩa vụ của Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. Nguyễn Quốc Hoàn (2008), Giáo trình Luật so sánh, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội.
9. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (1999), Giáo trình Luật Hiến pháp
Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
10. "Luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa" (2007),
Thông tin khoa học Kiểm sát, (3+4).


11. Nhà Pháp luật Việt - Pháp (1998), Bộ luật Tố tụng hình sự của nước cộng
hòa Pháp (bản dịch), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. Ngô Hồng Phúc (2003), "Vấn đề nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên
tòa hình sự", Tòa án nhân dân, (2).
13. Quốc hội (1946), Hiến pháp, Hà Nội.
14. Quốc hội (1959), Hiến pháp, Hà Nội.
15. Quốc hội (1960), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội.
16. Quốc hội (1980), Hiến pháp, Hà Nội.
17. Quốc hội (1981), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội.

dân, Hà Nội.
34. Tòa án nhân dân tối cao (2007), Báo cáo Tổng kết công tác năm 2007 và
phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2008 của ngành Tòa án nhân
dân, Hà Nội.
35. Tòa án nhân dân tối cao (2008), Báo cáo Tổng kết công tác năm 2008 và
phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2009 của ngành Tòa án nhân
dân, Hà Nội.
36. Tòa án nhân dân tối cao (2008), Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao năm 2005, Hà Nội.
37. Thu Trang (2004), "Những quy định mới về người tiến hành tố tụng trong
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003", Tòa án nhân dân, (8).
38. Trần Văn Tú (2004) "Đổi mới nội dung, phương thức quản lý", trong kỷ
yếu: Đổi mới công tác quản lý, đào tạo bồi dưỡng Thẩm phán Tòa
án nhân dân địa phương, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Tòa án
nhân dân tối cao.
39. Đào Trí Úc (2002), "Các Tòa án nhân dân", Trong sách: Hệ thống tư pháp
và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội.


40. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1993), Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân, Hà Nội.
41. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2002), Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân, Hà Nội.
42. Viện Khoa học Kiểm sát (2002), "Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga",
Phụ trương Thông tin khoa học pháp lý.
43. Viện Khoa học xét xử (2007), Công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong
hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
44. Võ Khánh Vinh (2008), Giáo trình Các cơ quan bảo vệ pháp luật, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status