TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUYÊN đề KINH tế CHÍNH TRỊ QUÁ TRÌNH sản XUẤT tư bản CHỦ NGHĨA là QUÁ TRÌNH sản XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG dư - Pdf 42

2
QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA LÀ QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT GIÁ
TRỊ THẶNG DƯ
LỜI NÓI ĐẦU

Học thuyết giá trị thặng dư là một trong hai phát kiến vĩ đại của Mác. Trên
cơ sở lý luận giá trị, Mác đã phân tích một cách khách quan khoa học, dưới chế độ
chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, quá trình sản xuất hàng hoá
là quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư và tích lũy tư bản. Nguồn gốc duy nhất của
giá trị thặng dư là do lao động làm thuê của người công nhân làm ra, việc thu được
ngày càng nhiều giá trị thặng dư là mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nên
giai cấp tư sản đã tìm mọi cách, mọi thủ đoạn, mọi phương tiện để đạt mục đích ấy.
Khi mục đích đạt được thì càng có điều kiện để sử dụng thủ đoạn, phương tiện,
cách thức tốt hơn và do đó khả năng tích lũy tư bản ngày càng tăng, đời sống của
người lao động ngày càng bị giảm sút, bần cùng hoá giai cấp công nhân ngày càng
trở nên phổ biến.
Hiểu rõ vấn đề này nhằm giúp người học củng cố, nâng cao kiến thức,
xây dựng lập trường bản chất giai cấp công nhân và xây dựng niềm tin vào sự
nghiệp đổi mới của Đảng ta.
1. SỰ CHUYỂN HOÁ CỦA TIỀN THÀNH TƯ BẢN VÀ SỨC LAO ĐỘNG
TRỞ THÀNH HÀNG HOÁ

1.1. Sự chuyển hoá của tiền thành tư bản

- Công thức chung của tư bản
Tiền là sản phẩm của lưu thông hàng hoá, đồng thời cũng là hình thức
biểu hiện đầu tiên của tư bản. Trên thị trường, tư bản lúc đầu đều biểu hiện
bằng một số tiền nhất định. Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản.
Sự vận động của tiền trong lưu thông hàng hoá giản đơn được xác định
theo công thức H-T-H (1). Tức là người sản xuất hàng hoá mang hàng hoá sản
xuất được ra thị trường bán thu tiền về và dùng tiền đó để mua những hàng

Công thức (2)
Bắt đầu bằng hành vi mua, kết
thúc bằng hành vi bán. Tiền tệ
vừa là điểm bắt đầu, vừa là điểm
kết thúc. Còn Hàng hoá là môi
gới trung gian.
Mục đích không phải là giá trị sử
dụng mà lá giá trị và là giá trị lớn
hơn giá trị ban đầu. Phần giá trị lớn
hơn đó, Mác gọi là giá trị thặng dư.
Tiền lúc này trở thành tư bản.
Như vậy, tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư
Giới hạn của sự Có giới hạn, tức là khi mua Không có giới hạn, bởi vì mục
vận động
được hàng hoá cần sử dụng đích của nhà tư bản là giá trị
thi sự vận động sẽ kết thúc
thặng dư và là giá trị thặng dư
ngày càng nhiều.

Với tính cách là tư bản, công thức vận động T-H-T’; trong đó T’=T+t;
với t là lượng tiền dôi ra so với T ban đầu, gọi là giá trị thặng dư và ký hiệu
bằng m.
- Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản
Nhìn vào công thức chung của tư bản (T-H-T’), dường như giá trị
không chỉ được tạo ra trong lao động sản xuất mà cả trong lưu thông, đây
chính là mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản. Vậy, lưu thông có tạo
ra giá trị và làm tăng thêm giá trị hay không?
C.Mác viết: “Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không
thể xuất hiện ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời
không phải trong lưu thông”1

A là người bán thịt và B là người mua thịt. Giả sử giá trị 1kg thịt
là 30.000đ, nhưng khi bán chỉ là 28.000đ thì A mất 2000đ, còn B
được 2000đ. Được và mất là như nhau nên tổng giá trị không
thay đổi.
Trong trường hợp với người chuyên mua rẻ bán đắt thì tổng giá trị toàn
xã hội cũng không hề tăng lên, bởi vì số giá trị mà những người này thu được
chẳng qua chỉ là sự ăn chặn, đánh cắp số giá trị của người khác.
Ví dụ:
Giá trị 1 tấn thóc là 4.000.000đ
Khi họ mua của A thấp hơn giá trị với giá 3.900.000đ
Khi họ bán cho B cao hơn giá trị với giá 4.100.000đ
Như vậy, họ được 200.000đ. Còn A và B mất 200.000đ.
Được và mất là như nhau, tổng giá trị không có gì thay đổi.


5

Tóm lại, lưu thông hay trao đổi không hề tạo ra giá trị và do đó không
tạo ra giá trị thặng dư. Nhưng mặt khác, nếu không có lưu thông thì cũng
không thu được giá trị thặng dư. Bởi vì nhờ lưu thông mà nhà tư bản mua
được thứ hàng hoá đặc biệt, mà khi sử dụng nó thì nó tạo ra giá trị lớn hơn giá
trị chính bản thân nó. Phần giá trị lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư. Và
hàng hoá đặc biệt đó chính là hàng hoá sức lao động.
Như vậy, giá trị thặng dư vừa sinh ra trong quá trình lưu thông, lại vừa
không thể sinh ra trong quá trình ấy. Đó chính là mâu thuẫn trong công thức
chung của tư bản. C.Mác là người đầu tiên phân tích và giải quyết mâu thuẫn
đó bằng lý luận về hàng hoá sức lao động.
1.2. Hàng hoá Sức lao động

- Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá

động để sản xuất ra hàng hoá.
Tính chất đặc biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động ở chỗ
khi sử dụng thì nó tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó. Phần giá trị
lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư bị nhà tư bản chiếm đoạt.
Giá trị của hàng hoá sức lao động là thời gian lao động xã hội cần thiết
để sản xuất và tái sản xuất sức lao động. Sản xuất và tái sản xuất ra sức lao
động được thực hiện thông qua tiêu dùng của công nhân. Bởi vậy, giá trị hàng
hoá sức lao động là toàn bộ các tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái
sản xuất ra sức lao động, để duy trì đời sống của công nhân làm thuê, gia đình
họ và những chi phí đào tạo cần thiết theo yêu cầu sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Là hàng hoá đặc biệt, giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá
thông thường ở chỗ là nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử. Nhu
cầu của công nhân không chỉ có những nhu cầu về vật chất mà còn gồm cả nhu
cầu về tinh thần (giải trí, sách báo, đào tạo …). Nhu cầu đó còn phụ thuộc vào
hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, trình độ văn minh, vào điều kiện
lịch sử hình thành giai cấp công nhân và cả điều kiện địa lý, khí hậu.
Nền sản xuất xã hội ngày càng phát triển thì một mặt nhu cầu về lao
động phức tạp ngày càng tăng, chi phí đào tạo càng lớn; mặt khác, nhu cầu về
hàng hoá và dịch vụ mới cũng sẽ tăng theo sự tiến bộ của sản xuất, do đó bản
thân giá trị sức lao động cũng tăng theo. Nhưng theo đà phát triển của năng
suất lao động, giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ lại có xu hướng giảm.
Như vậy giá trị hàng hoá sức lao động vận động theo hai xu hướng đối lập
nhau. Để xác định giá trị sức lao động ở một thời điểm nào đó cần phân tích
cụ thể sự vận động của hai xu hướng này.
Tóm lại, tư bản xuất hiện trong lưu thông để mua được hàng hoá sức
lao động, nhưng tiêu dùng sức lao động lại ở trong quá trình sản xuất, chính
trong lĩnh vực này giá trị và giá trị thặng dư được tạo ra đồng thời với việc tạo
ra những giá trị sử dụng.



60.000đ
130.000đ

Nhà tư bản mua sức lao động của người công nhân là để làm việc trong
thời gian 10 giờ chứ không phải làm trong 5 giờ. Nên người công nhân phải
tiếp tục làm việc trong 5 giờ còn lại và cũng kéo được 1kg bông thành 1kg sợi
và giá trị của 1kg sợi lúc này là 130.000đ. Giá trị 2kg sợi mà nhà tư bản thu
về là: 2 × 130.000đ = 260.000đ
Nhưng số tiến mà nhà tư bản chi ra để sản xuất được 2 kg sợi là:


8

Tiền mua 2 kg bông
Tiền hao mòn máy móc để sản xuất 2 kg sợi

2 × 60.000đ = 120.000đ
2 × 10.000đ = 20.000đ

Tiền mua sức lao động để sản xuất 2 kg sợi
Tổng

60.000đ
200.000đ

So sánh giữa thu (260.000đ) và chi (200.000đ) thì nhà tư bản thu về
được một khoản dôi ra là 60.000đ. Sở dĩ có khoản dôi ra này là do giá trị sử
dụng sức lao động của người công nhân tạo ra không được trả công mà bị nhà
tư bản chiếm đoạt bỏ túi. Phần giá trị đó gọi là giá trị thặng dư.
Giá trị thặng dư là giá trị mới do lao động của người công nhân tạo ra

trình sản xuất. Sự biến đổi về lượng đó do tính đặc biệt của giá trị sử dụng hàng
hoá sức lao động. Sức lao động là hàng hoá nên nó có 2 thuộc tính giá trị và giá
trị sử dụng. Tức là khi sử dụng sức lao động, giá trị sử dụng hàng hoá sức lao
động đã tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó. Từ đây, công thức giá trị
của hàng hoá được viết như sau:
G=c+v+m
Trong đời sống hiện thực, các xí nghiệp sử dụng máy móc và công
nghệ hiện đại thì năng suất lao động cao hơn và nhờ đó thu được lợi nhuận
nhiều hơn. Điều đó gây ra cảm tưởng sai lầm là máy móc cũng tạo ra giá trị
thặng dư. Cũng như mọi bộ phận cấu thành khác của tư bản bất biến, máy
móc không tạo ra giá trị mặc dù đó là một yếu tố không thể thiếu của bất cứ
quá trình sản xuất hiện đại nào, yếu tố đó có vai trò ngày càng quan trọng đối
với sự tiến bộ của loài người. Mấu chốt để nhận thức đúng vấn đề này là học
thuyết về tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là lao động cụ thể
và lao động trừu tượng. Về phương diện lao động cụ thể, máy móc, công nghệ
mới là phương tiện để nâng cao sức sản xuất của lao động. Khi sức sản xuất
của lao động được nâng cao thì một mặt, giá trị cá biệt của một sản phẩm
được tạo ra sẽ thấp hơn giá trị xã hội của sản phẩm đó, và nhờ vậy, khi máy
móc chưa được áp dụng phổ biến, nhà tư bản thu được lợi nhuận siêu ngạch;
mặt khác, số lượng sản phẩm sản xuất ra sẽ nhiều hơn, do đó, tổng khối lượng
lợi nhuận mà nhà tư bản thu được cũng lớn hơn trước. Máy móc dù hiện đại
như thế nào cũng chỉ là lao động chết. Nó phải được lao động sống “cải tử
hoàn sinh” để biến thành yếu tố của quá trình lao động. Nó chỉ là phương tiện
– nhờ đó sức sản xuất của lao động tăng lên.
Sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến giúp ta
hiểu sâu hơn về vai trò của từng bộ phận trong qúa trình sản xuất tư bản chủ
nghĩa. Giá trị của tư liệu sản xuất và sức lao động là những bộ phận cấu thành
nên giá trị của hàng hoá. Chỉ có sức lao động của người công nhân mới tạo ra
giá trị thặng dư cho nhà tư bản.
- Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư

Nếu chỉ xét dưới góc độ kinh tế thì (m’) chỉ là một chỉ tiêu nói lên hiệu
qủa sử dụng lao động sống. Sản xuất tư bản chủ nghĩa càng phát triển, tiến bộ
khoa học, kỹ thuật càng được ứng dụng thì tỷ suất giá trị thặng dư càng tăng.
Nhưng, tỷ suất giá trị thặng dư chỉ mới phản ánh mức độ bóc lột chứ
chưa nói lên được quy mô bóc lột. Phạm trù khối lượng giá trị thặng dư phản
ánh quy mô của sự bóc lột.
Khối lượng giá trị thặng dư (M) là số lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản
thu được trong một thời gian sản xuất nhất định và được tính bằng công thức:
M =

m
× 100% × V = m'.V
v

Trong đó, V là tổng tư bản khả biến được sử dụng trong thời gian đó.
Khối lượng giá trị thặng dư tùy thuộc vào hai yếu tố (m’) và V. Điều đó
có nghĩa là khối lượng giá trị thặng dư phụ thuộc vào thời gian, cường độ lao
động của mỗi công nhân và số lượng công nhân mà nhà tư bản sử dụng.
- Giá trị thặng dư tuyệt đối, tương đối và siêu ngạch


11

Để có được khối lượng giá trị thặng dư ngày càng lớn, nhà tư bản sử
dụng nhiều phương pháp khác nhau tuỳ theo điều kiện kinh tế - kỹ thuật trong
từng giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Có hai phương pháp cơ bản để
sản xuất giá trị thặng dư là tuyệt đối và tương đối.
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày
lao động, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao
động tất yếu không thay đổi.

v
5
Nhà tư bản nào cũng muốn kéo dài ngày lao động của người công nhân,
nhưng việc kéo dài đó không thể vượt qúa giới hạn sinh lý của người công
nhân. Vì họ còn phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức
khỏe. Việc kéo dài thời gian ngày lao động sẽ gặp còn bị sự phản kháng của
giai cấp công nhân.
Giai cấp tư sản muốn kéo dài ngày lao động, còn giai cấp công nhân lại
muốn rút ngắn thời gian lao động. Do đó, độ dài ngày lao động có thể co giãn


12

và việc xác định độ dài ấy tùy thuộc vào so sánh lực lượng trong cuộc đấu
tranh giữa hai giai cấp nói trên. Điểm dừng của độ dài ngày lao động là điểm
mà ở đó lợi ích kinh tế của nhà tư bản và lợi ích kinh tế của người lao động
được thực hiện theo một thoả hiệp tạm thời.
Khi độ dài ngày lao động đã được xác định, nhà tư bản lại tìm cách
tăng cường độ lao động của công nhân. Tăng cường độ lao động có nghĩa là
chi phí nhiều sức lao động hơn trong một khoảng thời gian nhất định, nên về
thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động. Vì vậy, kéo dài thời gian
lao động và tăng cường độ lao động là hai biện pháp để sản xuất giá trị thặng
dư tuyệt đối.
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời
gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời
gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi.
Lấy qúa trình kéo bông thành sợi ở mục 2.1 làm ví dụ.
Khi nhà tư bản sử dụng phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối
thì ngày lao động vẫn là 10 giờ, giả sử thời gian lao động tất yếu là 2 giờ. Thì
thời gian lao động thặng dư tăng lên tương ứng là 8 giờ.



13

Khi năng suất lao động ở khu vực sản xuất tư liệu sinh hoạt tăng thì giá
trị các tư liệu sinh hoạt giảm xuống, thời gian để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt
cho một công nhân được rút ngắn. Hay nói cách khác, thời gian lao động tất
yếu giảm.
Còn với khu vực sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra tư liệu sinh
hoạt, nếu tăng năng suất thì giá trị mỗi tư liệu sản xuất giảm xuống, nên giá trị
các tư liệu sinh hoạt do các tư liệu sản xuất đó sản xuất ra cũng giảm theo.
Nên thời gian để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt cho công nhân được rút ngắn.
Muốn tăng năng suất lao động phải tiến hành cải tiến sản xuất, đổi mới
công nghệ, mà điều này trước tiên thường chỉ có thể diễn ra ở một số xí
nghiệp nào đó, còn số đông các xí nghiệp khác thì chưa có điều kiện để tiến
hành. Từ đó xuất hiện giá trị thặng dư siêu ngạch.
Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do áp
dụng công nghệ mới làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị
trường của nó. Khi số đông các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật và công nghệ
thì giá trị thặng dư siêu ngạch không còn nữa. C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu
ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối; vì giá trị thặng
dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên cơ sở tăng năng suất
lao động, chỉ khác nhau ở chỗ một bên là tăng năng suất lao động cá biệt và
một bên là tăng năng suất lao động xã hội.
Trong từng xí nghiệp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm
thời, nhưng trong phạm vi xã hội thì nó lại thường xuyên tồn tại. Giá trị thặng dư
siêu ngạch là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản đổi mới công nghệ để
tăng năng suất lao động cá biệt, đánh bại đối thủ của mình trong cạnh tranh.
2.2. Sản xuất giá trị thặng dư – quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa
tư bản

hình thức bóc lột tinh vi; giá trị thặng dư trở thành nguồn thu nhập duy nhất
của giai cấp tư sản, là mục đích tối cao mà chủ nghĩa tư bản vươn tới nên nó
tìm mọi cách để đạt được mục đích đó. Cũng vì mục đích giá trị thặng dư mà
làm cho mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, cách mạng xã
hội sẽ là tất yếu để xoá bỏ chủ nghĩa tư bản nhằm hướng loài người vào xây
dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp hơn.
Với nước ta hiện nay đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội,
Đảng ta xác định nền kinh tế mà ta xây dựng là “Nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa”, trong đó có kinh tế tư bản tư nhân – điều đó có
nghĩa là ta tạm thời chấp nhận có sự bóc lột. Nhưng điểm khác cơ bản so với
chủ nghĩa tư bản là quá trình bóc lột của các nhà tư bản phải đặt dưới sự kiểm
tra, kiểm soát của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hướng tới mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Do vậy, bên
cạnh chính sách kinh tế, còn có chính sách xã hội để thu hẹp khoảng cách thu
nhập giữa người nghèo và người giàu.


15
3. TÍCH LŨY TƯ BẢN

3.1. Giá trị thặng dư – nguồn gốc của tích lũy tư bản

Sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện tồn tại và phát
triển của xã hội loài người. Đặc trưng của chủ nghĩa tư bản là tái sản xuất mở
rộng do quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản và sự cạnh tranh quyết
liệt giữa các nhà tư bản quyết định. Muốn tái sản xuất mở rộng, cần phải tăng
thêm số tư bản ứng trước để mua thêm tư liệu sản xuất và sức lao động.
Trong tái sản xuất mở rộng, giá trị thặng dư được chia làm hai phần:
một phần dành vào mục đích tiêu dùng của nhà tư bản, một phần vào mục
đích tăng thêm tư bản ứng trước. Sự chuyển hoá một phần giá trị thặng dư trở


cách tăng thời gian lao động và cường độ lao động; đồng thời, tận dụng một
cách triệt để công suất của số máy móc hiện có, chỉ tăng thêm nguyên liệu
tương ứng. Cái lợi của nhà tư bản ở đây là không cần ứng thêm tư bản để thuê
thêm công nhân, mua thêm máy móc, thiết bị và máy móc được khấu hao
nhanh hơn, hao mòn vô hình và chi phí bảo quản giảm được nhiều hơn.
Hai là, năng suất lao động.
Năng suất lao động xã hội tăng làm cho giá trị tư liệu sản xuất và tư
liệu tiêu dùng giảm. Sự giảm này đem lại hai hệ qủa cho tích lũy: một là, với
khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần giành cho tích lũy có thể lấn sang
phần tiêu dùng, trong khi sự tiêu dùng của nhà tư bản không giảm mà vẫn có
thể bằng hoặc cao hơn trước; hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành
cho tích lũy cũng có thể chuyển hoá thành một khối lượng tư liệu sản xuất và
sức lao động phụ thêm nhiều hơn trước.
Như vậy, quy mô tích lũy không chỉ phụ thuộc vào khối lượng giá trị
thặng dư tích lũy được, mà còn phụ thuộc vào khối lượng hiện vật do khối lượng
giá trị thặng dư đó chuyển hoá thành. Cho nên, sự giàu có của xã hội và khả
năng không ngừng tái sản xuất mở rộng sự giàu có đó không phải chủ yếu do độ
dài lao động thặng dư mà chủ yếu do năng suất lao động thặng dư quyết định.
Ba là, chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động đều hoạt
động trong quá trình sản xuất như máy móc, nhà xưởng và những công cụ lao
động khác. Tư bản tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu lao động ấy được
chuyển vào sản phẩm dưới dạng khấu hao. Do đó, tồn tại sự chênh lệch giữa
tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Sự chênh lệch này là thước đo sự tiến bộ
của lực lượng sản xuất. Sau khi trừ đi những tổn phí hàng ngày trong việc sử
dụng máy móc và công cụ lao động (nghĩa là sau khi trừ đi giá trị hao mòn
của chúng đã chuyển vào sản phẩm) nhà tư bản sử dụng những máy móc và
công cụ lao động đó mà không đòi hỏi một chút chi phí nào khác.
Tư liệu lao động là những thứ được dùng để tạo ra sản phẩm, tuy được

sản xuất
(mét)

Chênh lệch
Khấu hao giữa tư bản sử
của 1 mét dụng và tư bản
vải(VNĐ)
tiêu dùng
(VNĐ)

Khả năng tích luỹ tăng so
với thế hệ máy I (VNĐ)

1.000.000

10

9.999.990

2.000.000

7

13.999.993 2.000.000(10-7)= 6.000.000

3.000.000

6

17.999.994 3000.000(10-6)=12.000.000

Cấu tạo giá trị của tư bản là tỷ lệ theo đó tư bản phân thành tư bản bất
biến và tư bản khả biến cần thiết để tiến hành sản xuất. Cách tính theo công
thức:

c
v

Ví dụ: 1000K được phân thành 800 c và 200 v
Cấu tạo hữu cơ của tư bản lúc này sẽ là:

c 800 4
=
=
v 200 1

Cấu tạo kỹ thuật thay đổi sẽ làm cho cấu tạo giá trị thay đổi. C.Mác
dùng phạm trù cấu tạo hữu cơ để phán ánh mối quan hệ đó. Cấu tạo hữu cơ
của tư bản là cấu tạo giá trị của tư bản, do cấu tạo kỹ thuật quyết định và
phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản.
Do tác động thường xuyên của tiến bộ khoa học và công nghệ, cấu tạo
hữu cơ của tư bản cũng không ngừng biến đổi theo hướng ngày càng tăng. Sự
tăng lên đó biểu hiện ở chỗ: Bộ phận tư bản bất biến tăng nhanh hơn bộ phận
tư bản khả biến.
Sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ của tư bản làm cho khối lượng tư liệu
sản xuất tăng lên, trong đó sự tăng lên của máy móc, thiết bị là điều kiện để
tăng năng suất lao động, còn nguyên liệu tăng theo năng suất lao động. Điều
đó phản ánh quá trình tích lũy tư bản sử dụng nhiều máy móc để thay thế lao
động sống làm cho nhu cầu về lao động giảm hình thành nạn thất nghiệp
trong xã hội tư bản.
- Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày

Từ quy mô các tư bản cá
Từ giá trị thặng dư
biệt
Làm tăng quy mô tư bản Chỉ tăng quy mô tư bản cá
cá biệt và tư bản xã hội
biệt
Phụ thuộc vào khối lượng
Trên phạm vi toàn xã hội
giá trị thặng dư
Giữa các nhà tư bản với
Giữa tư bản và lao động
nhau

Quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng, do đó nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa cũng ngày càng trở thành nền sản xuất xã hội hoá cao độ,
làm cho mâu thuẫn kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản càng sâu sắc thêm.
- Quá trình tích lũy tư bản là quá trình bần cùng hoá giai cấp vô sản
Chính sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ của tư bản làm cho số cầu tương
đối về sức lao động cũng có xu hướng giảm, làm xuất hiện nạn nhân khẩu
thừa gây ra tình trạng thất nghiệp.
Thất nghiệp là hiện tượng thường xuyên trong xã hội tư bản chủ nghĩa và
không sao khắc phục được. Và dẫn đến sự bần cùng hoá của giai cấp công nhân.
Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tích lũy sự giàu có về phía giai
cấp tư sản, là quá trình tích lũy sự nghèo khó, bần cùng về phía những người
lao động. Hai mặt này là tiền đề cho nhau. Tư bản càng có thêm của cải thì
càng có điều kiện để tăng cường bóc lột, cuộc sống càng xa hoa. Giai cấp
công nhân càng bần cùng thì càng phải chấp nhận bị bóc lột, cống nạp lao
động không công nhiều hơn cho nhà tư bản.
Bần cùng hoá giai cấp vô sản biểu hiện dưới hai dạng: bần cùng hoá
tuyệt đối và bần cùng hoá tương đối.

ngăn cách người giàu và người nghèo trong xã hội ngày càng rộng hơn.
Cũng cần chú ý rằng, sự bần cùng hoá tuyệt đối của giai cấp vô sản chỉ
là một xu hướng, tuy là tất yếu nảy sinh, nhưng vẫn chỉ là một xu hướng.
Điều đó có nghĩa là, bên cạnh xu hướng đó còn có những xu hướng khác cũng
có tính tất yếu, như xu hướng chống lại sự bần cùng hoá tuyệt đối. Chính điều
này làm cho những biểu hiện của sự bần cùng hoá của giai cấp vô sản diễn ra
trong hiện thực cụ thể không đơn giản chút nào. Ở nơi này, lúc này, bộ phận
này sự bần cùng hoá biểu hiện ra một cách rõ rệt; trong khi đó, ở nơi khác, lúc
khác, bộ phận khác, sự bần cùng hoá lại không rõ nét lắm. Chính cuộc đấu


21

tranh của giai cấp công nhân đã “đặt giới hạn cho sự chiếm đoạt bạo ngược
của tư bản”1.

1

C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.16, tr.199


22
KẾT LUẬN

Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là nền sản xuất ra giá trị thặng dư và giá trị
thặng dư ngày càng nhiều là mục đích, là nguồn thu nhập duy nhất cho giai cấp
tư sản. Điều đó nói lên giai cấp tư sản càng giàu có bao nhiêu thì giai cấp vô sản
càng bị bóc lột nặng nề bấy nhiêu và mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản
ngày càng gay gắt. Vì lẽ đó, ngày nay nhằm xoa dịu mâu thuẫn, giai cấp tư sản
đã tìm mọi cách để biến đổi, thích nghi trên mọi yếu tố của hình thái kinh tế - xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status