LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ CHUYỂN DỊCH cơ cấu KINH tế NÔNG NGHIỆP ở TỈNH PHÚ THỌ - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH PHÚ THỌ
1.1. Những vấn đề chung về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.2. Quan niệm, nội dung và vai trò của chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ
Chương 2. THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH PHÚ THỌ
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của tỉnh Phú Thọ ảnh
hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
2.2. Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt
ra trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp ở tỉnh Phú Thọ
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH QUÁ
TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP TỈNH PHÚ THỌ TRONG THỜI
GIAN TỚI
3.1. Quan điểm cơ bản đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ
3.2. Giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang
3
11
11

nghiệp nói riêng ở tỉnh Phú Thọ đã đạt được những kết quả khá toàn diện trên tất
cả các lĩnh vực: cơ cấu ngành nông nghiệp đã có bước chuyển dịch theo hướng
tích cực; tốc độ tăng trưởng đạt được tương đối cao với tỷ trọng chăn nuôi, lâm
nghiệp và thủy sản trong cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, thủy hải sản ngày
càng tăng; bước đầu đã hình thành một số vùng sản xuất tập chung, chuyên canh,
cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; huy động được các thành phần
kinh tế tham gia đầu tư, phát triển nông nghiệp, nông thôn…
Tuy nhiên, nhìn tổng thể CDCCKT nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ vẫn còn
những hạn chế, tồn tại như: quá trình CDCCKT nông nghiệp nhất là các ngành
nông nghiệp chưa gắn với phát triển công nghiệp chế biến và tiểu thủ công
nghiệp; chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của các thành phần kinh tế trong
quá trình CDCCKT nông nghiệp; đất đai còn nhỏ lẻ phân tán, chưa có nhiều
3


vùng sản xuất chuyên canh tập trung; nguồn vốn đầu tư vừa thiếu, vừa yếu; cơ
sở hạ tầng và việc ứng dụng KH&CN vào sản xuất nông nghiệp chưa đáp ứng
được yêu cầu phát triển; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn
thấp… Đặc biệt là thiếu một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý để khai thác
hết các tiềm năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vốn có của Tỉnh.
Với ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn đề tài: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ", làm đối tượng nghiên cứu luận văn Thạc sỹ
của mình với mong muốn, có những đóng góp nhất định trong việc khái quát
lý luận, đánh giá đúng thực trạng từ đó đề ra được những quan điểm và giải
pháp "đúng, trúng" thúc đẩy CDCCKT nông nghiệp theo hướng tiến bộ ở tỉnh
Phú thọ trong những năm tới.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã có nhiều công trình được công bố
trên các góc độ tiếp cận khác nhau:
* Các công trình nghiên cứu về nông nghiệp

* Các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu ngành ngành kinh tế
Tạ Đình Thi, "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên quan điểm phát triển bền
vững của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ - Việt Nam", Luận án Tiến sĩ Kinh tế,
Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội 2007. Tác giả trình bày những vấn đề chủ yếu
về lý luận và thực tiễn CDCCKT trên quan điểm phát triển bền vững, hiện trạng
CDCCKT của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, định hướng và các giải pháp
bảo đảm CDCCKT của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ trên quan điểm phát
triển bền vững.
Đề tài: "Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam - Thông tin chung"
của PGS.TS Bùi Tất Thắng, Nxb Khoa học xã hội năm 2009. Trên cơ sở khái quát
vấn đề lý luận chung và những tiêu chí về CDCCKT ngành, tác giả đánh giá quá
trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam trong thời kỳ thực hiện
chính sách đổi mới kinh tế. Trong đó, bao gồm cả quá trình chuyển dịch cơ cấu
giữa các ngành và trong nội bộ ngành; phân tích, khái quát tác động của những

5


nhân tố mới cả trên thế giới và trong nước đối với xu hướng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới.
Bài báo “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế - thực trạng và những vấn đề đặt
ra” của TS Trần Anh Phương, Tạp chí Cộng sản, số 1(169), năm 2009. Bài báo
khẳng định CDCCKT là con đường nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi tình trạng
lạc hậu, kém phát triển. Khái quát nội dung, đánh giá lại toàn bộ kết quả
CDCCKT sau hơn 20 năm đổi mới. Đồng thời, tác giả chỉ rõ những mâu thuẫn
trong quá trình CDCCKT và kiến nghị năm giải pháp đẩy mạnh CDCCKT của
đất nước trong thời kỳ mới.
Luận văn thạc sỹ: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong công nghiệp
hóa, hiện đại hóa khu vực miền núi Thanh Hóa hiện nay" của tác giả Phạm Hữu
Hùng, Học viện Chính trị, năm 2012. Luận văn đã tập trung làm rõ phạm trù cơ

cầu và những giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả CDCCKT ngành nông
nghiệp ở tỉnh Thái Bình trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH thời gian tới.
Nguyễn Thị Thanh Tâm, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tỉnh Nam
Định trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học
viện Khoa học xã hội, Hà Nội. 2012. Tác giả đã khái quát những vấn đề lý luận về
cơ cấu kinh tế và CDCCKT nông thôn trong quá trình CNH, HĐH. Đánh giá thực
trạng CDCCKT nông thôn Nam Định về đặc điểm, tính chất, quy luật, xu hướng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế; những cơ sở, điều kiện và những nhân tố tác động đến
quá trình CDCCKT nông thôn Nam Định. Đề xuất quan điểm, phương hướng và
đưa ra những giải pháp chủ yếu thúc đẩy CDCCKT nông thôn Nam Định.
Nguyễn Khắc Hải, "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Hưng
Yên", Luận văn Thạc sỹ, Học viện Chính trị, Hà Nội 2015. Trên cơ sở khung ý
luận về cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp, tác giả tập trung đi sâu
vào phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc CDCCKT nông nghiệp
(chỉ bàn về nông nghiệp theo nghĩa hẹp, ngĩa là chỉ trong lĩnh vực trồng trọt và
chăn nuôi) trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Từ đó, đưa ra quan điểm và những giải
pháp đẩy nhanh quá trình CDCCKT nông nghiệp của tỉnh Hưng Yên.
7


Đề án: "Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia
tăng và phát triển bền vững" tỉnh Phú Thọ đến năm 2020. Trong đề án đã nêu
hiện trạng cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Phú Thọ, qua đó khái quát điểm mạnh,
điểm yếu, cơ hội và thách thức phát triển nông nghiệp, qua đó đưa ra quan điểm,
mục tiêu, nội dung tái cơ cấu ngành nông nghiệp Tỉnh đến năm 2020 với các
nhóm giải pháp chủ yếu.
Bài báo:"Cần đột phá khâu trước và sau nông dân trong chuỗi sản xuất
nông nghiệp" của đồng chí Nguyễn Thiện Nhân - Ủy viên BCT, Chủ tịch Ủy ban
TW MTTQ, http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Can-dot-pha-khau-truocva-sau-nong-dan-trong-chuoi-san-xuat-nong-nghiep/201437.vgp. Theo tác giả, tái
cơ cấu ngành nông nghiệp ở nước ta hiện nay là một đòi hỏi cấp thiết, nhằm tháo

Nghiên cứu CDCCKT ngành nông nghiệp dưới góc độ kinh tế chính trị học.
* Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu sự CDCCKT nông
nghiệp giới hạn trong phạm vi tỉnh Phú Thọ.
Về thời gian: dựa trên các nghiên cứu khảo sát, phân tích số liệu, tư liệu
chủ yếu từ năm 2010 đến nay.
Về nội dung: luận văn nghiên cứu CDCCKT ngành nông nghiệp theo
nghĩa rộng (bao gồm: nông, lâm nghiệp, thủy sản)
5. Cơ sở lí luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lí luận, thực tiễn
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn
và đề xuất quan điểm, giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
ở tỉnh Phú Thọ.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lô gíc
với lịch sử và sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã
hội như: phân tích, tổng hợp, thống kê so sánh và phương pháp chuyên gia...
để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
9


6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp tài liệu tham khảo cho
quá trình CDCCKT nông nghiệp của Tỉnh đi đúng hướng.
Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,
giảng dạy cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục

làm việc có hiệu quả.

11


Cơ cấu kinh tế của một nước xét trên tổng thể bao gồm những mối liên
hệ tổng thể giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế của nước đó, bao gồm các
yếu tố kinh tế, các lĩnh vực kinh tế (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng),
các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ …), các khu vực kinh tế
(nông thôn, thành thị…), các thành phần kinh tế (Nhà nước, tập thể, tư nhân,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài). Ở mỗi vùng, mỗi ngành, mỗi thành phần
kinh tế lại có cơ cấu riêng của mình tuỳ thuộc vào những điều kiện tự nhiên,
KT- XH cụ thể.
Để có một nền kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định
tất yếu phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý. Cơ cấu kinh tế đó phải phản ánh
được các yêu cầu của quy luật khách quan: quy luật tự nhiên, quy luật
KT- XH. Trong việc hình thành và vận động của cơ cấu kinh tế, nhân tố chủ
quan của con người cũng có vai trò rất quan trọng. Việc nhận thức đầy đủ và
ngày càng sâu sắc các quy luật khách quan, người ta phân tích, đánh giá hiện
trạng của cơ cấu kinh tế, biết được xu hướng biến đổi của cơ cấu kinh tế, trên
cơ sở đó tìm ra các phương án xác lập cơ cấu kinh tế cụ thể và lựa chọn
phương án tối ưu gắn với hiệu quả KT- XH cao nhất trong những điều kiện cụ
thể của đất nước. Đồng thời qua đó đề ra và thực hiện các giải pháp hữu hiệu
để đảm bảo cơ cấu kinh tế đó đi vào cuộc sống.
Lịch sử phát triển KT- XH của nhân loại đã cho thấy cơ cấu kinh tế
không phải là một hệ thống tĩnh, bất biến mà luôn ở trạng thái vận động,
không ngừng biến đổi, phát triển và có sự chuyển dịch cần thiết phù hợp với
những thay đổi biến động của các điều kiện tự nhiên, điều kiện KT- XH. Do
tác động của tiến bộ kỹ thuật và ứng dụng công nghệ mới, do sự phát triển
của khoa học quản lý và ứng dụng nó trong thực tiễn hoạt động KT- XH, cơ

nền kinh tế.
(3). Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ: được hình thành bởi việc bố trí
sản xuất theo không gian địa lý. Trong cơ cấu vùng lãnh thổ, có sự biểu hiện
của cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ. Tùy
theo tiềm năng phát triển kinh tế, gắn liền với sự hình thành phân bố dân cư
trên lãnh thổ để phát triển tổng hợp hay ưu tiên một vài ngành kinh tế nào đó.
13


Việc chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ phải đảm bảo sự hình thành, phát triển có
hiệu quả của các ngành kinh tế theo vùng lãnh thổ và trên phạm vi cả nước.
Về mặt KT- XH cơ cấu kinh tế bao gồm:
(1). Cơ cấu theo các thành phần kinh tế biểu hiện hệ thống tổ chức kinh
tế với các hình thức sở hữu khác nhau có khả năng thúc đẩy sự phát triển của
lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội. cơ cấu thành phần
kinh tế cũng là nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng,
lãnh thổ trong quá trình phát triển;
(2). Cơ cấu kinh tế theo trình độ phát triển của quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Nó phản ánh khả năng giải quyết mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các
ngành, lĩnh vực và các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất.
Thứ hai, cơ cấu kinh tế vừa mang tính khách quan vừa mang tính chất
lịch sử.
Tính khách quan của cơ cấu kinh tế. Nó được thể hiện khi nền kinh tế
có sự phân công lao động, có các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế và sự phát
triển của LLSX nhất định sẽ hình thành một cơ cấu kinh tế với tỉ lệ cân đối
tương ứng với các bộ phận, tỉ lệ đó được thay đổi thường xuyên và tự giác
theo quá trình diễn biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng
nhu cầu đó. Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt, cô đọng nội dung chiến lược
phát triển KT- XH của từng giai đoạn phát triển nhất định. Nhưng không vì
thế mà áp đặt chủ quan, tự đặt cho các ngành những tỉ lệ và vị trí trái ngược

thực, thực phẩm cho con người, gia súc, gia cầm và nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến. Chăn nuôi bao gồm: gia súc, gia cầm, nuôi ong, nuôi tằm… đáp ứng
nhu cầu dinh dưỡng trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người; nguyên liệu
cho công nghiệp và một phần làm dược liệu bào chế thuốc chữa bệnh… Giữa
chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trồng trọt cung cấp thức ăn cho chăn
nuôi, đảm bảo chăn nuôi phát triển, ngược lại chăn nuôi cung cấp phân bón, sức
kéo để tăng sức sản xuất.
Theo nghĩa rộng, nông nghiệp là tổ hợp các phân ngành sản xuất gắn liền
với các quá trình sinh học, bao gồm tất cả các ngành sản xuất có đối tượng tác
động là cây trồng, vật nuôi gắn liền với yếu tố tự nhiên. Như vậy, ngoài hai phân
15


ngành trồng trọt và chăn nuôi, nông nghiệp theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm
nghiệp và thủy sản.
Lâm nghiệp là ngành kinh tế được hình thành và hoạt động trên cơ sở
vai trò chức năng và tác dụng của rừng, đất lâm nghiệp đối với đời sống
KT - XH trên cơ sở những phương thức sản xuất và tổ chức kinh tế nhất định.
Bao gồm các ngành: trồng, chăm sóc bảo vệ rừng; khai thác rừng và dịch vụ
lâm nghiệp.
Thủy sản là ngành kinh tế hình thành trên cở sở các hoạt động khai thác
và nuôi trồng thuỷ, hải sản. Các ngành của thủy sản bao gồm: khai thác; nuôi
trồng và dịch vụ thủy sản.
Như vậy, quan niệm về nông nghiệp theo cách hiểu này có tác dụng làm
cho sản xuất nông nghiệp không bị phát triển một cách hạn hẹp, phiến diện. Nhờ
đó mà nhiều tiềm năng, lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới ở nước ta được
đầu tư sản xuất, khai thác, sử dụng có hiệu quả.
Dưới góc độ là một lĩnh vực sản xuất vật chất trong cơ cấu nền kinh tế
quốc dân, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất ra đời sớm nhất. Là một trong
hai ngành sản xuất cơ bản của nền kinh tế quốc dân (nông nghiệp và công

viết: Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy
canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông
mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân
ta giàu thì nước ta giàu, nông dân ta thịnh thì nước ta thịnh. Từ đó Hồ Chí
Minh khẳng định: Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói
chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính. Từ những
thành tựu cũng như những hạn chế của 30 năm đổi mới đất nước có thể
rút ra những những vấn đề sau đây: Thứ nhất, những tìm tòi và đột phá về
phát triển kinh tế ở Việt Nam trên thực tế phần lớn đều khởi phát từ nông
nghiệp; Thứ hai, muốn thoát nghèo đi lên không thể không bắt đầu từ
nông nghiệp, nông thôn; Thứ ba, người nông dân chủ thể của nông
nghiệp, cần được bảo vệ và thụ hưởng lợi ích từ sự phát triển chứ không
phải là đối tượng để ban phát từ thiện.
* Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới các góc độ khác nhau: cơ cấu ngành
kinh tế, cơ cấu kinh tế vùng, cơ cấu thành phần kinh tế. Trong đó, cơ cấu
ngành kinh tế giữ vai trò quan trọng nhất.

17


Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành kinh tế và mối quan hệ tỷ
lệ giữa các ngành thể hiện ở vị trí và tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng thể
nền kinh tế. Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã
hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển chung của LLSX. Cơ cấu
ngành phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu thể hiện sự chuyên môn hóa cao,
xã hội hóa cao trong lao động. Cơ cấu ngành của một quốc gia được chia ra
thành 3 nhóm ngành chính:
Ngành nông nghiệp bao gồm 3 ngành nhỏ: nông nghiệp, lâm nghiệp và
thủy sản.

xu thế kinh tế, chính trị của khu vực và thế giới.
1.2. Quan niệm, nội dung và vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp ở tỉnh Phú Thọ
1.2.1. Quan niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là sự phát triển không đều giữa
các ngành, các lĩnh vực, bộ phận… Nơi nào có tốc độ phát triển cao hơn tốc
độ phát triển chung của nền kinh tế thì sẽ tăng tỷ trọng. Ngược lại nơi nào có
tốc độ phát triển chậm hơn tốc độ phát triển chung của nền kinh tế thì sẽ giảm
tỷ trọng.
Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống phức tạp và năng động, bao gồm
nhiều yếu tố có bản chất khác nhau (tự nhiên, kinh tế, xã hội…), hoạt động
theo quy luật khác nhau, thường xuyên tác động qua lại với nhau và không
ngừng vận động, phát triển. Do vậy, các yếu tố tạo nên cơ cấu của nền kinh tế
cũng không ngừng vận động, thay đổi theo thời gian và không gian, phù hợp
với từng điều kiện hoàn cảnh lịch sử của xã hội. Quá trình thay đổi đó của cơ
cấu kinh tế được gọi là CDCCKT.
Nói một cách cụ thể hơn, CDCCKT là quá trình cơ cấu kinh tế chuyển
từ trạng thái này sang trạng thái khác, phù hợp với những điều kiện phát triển
nhất định của xã hội loài người. Quá trình này không chỉ đơn thuần là sự thay
đổi vị trí, mà là sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng các thành phần cấu
tạo nên cơ cấu kinh tế. CDCCKT phải dựa trên cơ sở cơ cấu kinh tế hiện có,
do đó nội dung của CDCCKT là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp
để xây dựng cơ cấu kinh tế mới hiện đại và phù hợp hơn.
19


Do đó, theo tác giả: CDCCKT nông nghiệp là sự vận động của các yếu
tố cấu thành của kinh tế nông nghiệp (nông - lâm - thủy sản) theo các quy luật
khách quan dưới sự tác động của con người vào các nhân tố ảnh hưởng đến

hơn nhu cầu của thị trường và khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế
mạnh của tỉnh Phú Thọ.
Mục đích của CDCCKT nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh là nhằm xây
dựng, phát triển nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần của người lao động và góp phần thực hiện thắng lợi mục
tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Chủ thể của quá trình CDCCKT nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ là cấp
ủy, chính quyền các cấp, các cơ quan, ban ngành liên quan, các thành
phần kinh tế và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn Tỉnh, trong đó giai cấp
nông dân giữ vai trò nòng cốt, quyết định đến thành công của quá trình
CDCCKT nông nghiệp.
CDCCKT nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ không chỉ là sự
thay đổi về số lượng, vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ giữa các ngành mà
còn là sự thay đổi giữa các phân ngành trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp,
thủy sản. Quá trình CDCCKT nông nghiệp đồng thời cũng là sự chuyển
dịch, thay đổi cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theo vùng lãnh thổ, cơ
cấu thành phần kinh tế và cả sự dịch chuyển mạnh mẽ lực lượng lao động
giữa các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và trong nội bộ từng
ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản.
Việc CDCCKT nông nghiệp phải dựa trên cơ sở của một cơ cấu
hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc
chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu
cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn.
CDCCKT là một quá trình phức tạp, lâu dài, thậm chí rất khó khăn
nhưng trong quá trình chuyển dịch đó các mối quan hệ cũ dần được cải
biến theo những tỷ lệ phù hợp trong tất cả các ngành kinh tế cũng như
trong nội bộ một ngành kinh tế. Thông thường CDCCKT chung diễn ra
trước, sau đó mới đòi hỏi sự chuyển dịch trong nội bộ từng ngành.
1.2.2. Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh

nông sản gắn với bảo quản, chế biến và thị trường tiêu thụ theo chuỗi giá
trị, nhằm tăng nhanh giá trị và hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích đất
22


nông nghiệp. Bên cạnh đó, chỉ đạo phát triển một số cây trồng có thế
mạnh phát triển hàng hóa, phục vụ công nghiệp chế biến, thúc đẩy tăng
trưởng nông nghiệp như: cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp và
các loại cây rau màu khác.
Với lĩnh vực chăn nuôi, tập trung khai thác tiềm năng thế mạnh,
phát triển chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất
lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, góp phần quan trọng vào tăng
trưởng kinh tế của tỉnh, đáp ứng nhu cầu cho tiêu dùng trong nước. Đẩy
mạnh cơ cấu lại ngành chăn nuôi theo hướng phát triển trang trại tập
trung, công nghệ cao, đồng bộ, theo chuỗi giá trị (từ giống, thức ăn, thú
y... đến giết mổ, tiêu thụ) gắn với thị trường trong tỉnh và khu vực lân
cận. Chú trọng phát triển đàn gia cầm, lợn, nâng cao chất lượng đàn trâu,
bò. Phát triển mạnh các hình thức chăn nuôi trang trại tập trung công
nghiệp quy mô lớn theo hướng sản xuất hàng hóa, chăn nuôi nông hộ an
toàn và bền vững. Bên cạnh đó, tập trung phát triển chăn nuôi bò thịt chất
lượng cao, hình thành vùng chăn nuôi tập trung tại các huyện: Cẩm Khê,
Thanh Sơn, Tân Sơn, Đoan Hùng, Thanh Ba, Yên Lập, Thanh Thủy, Hạ
Hòa, Tam Nông; phát triển chăn nuôi lợn ngoại, hướng nạc để nâng cao
giá trị ngành chăn nuôi tại các huyện Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông,
Thanh Ba, thị xã Phú Thọ.
Trong nội bộ ngành lâm nghiệp.
CDCCKT trong ngành này cần theo hướng: nâng cao giá trị kinh tế
và tăng năng lực, hiệu lực bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, ứng phó
hiệu qủa với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời
sống cho người dân miền núi, nhất là khu vực đồng bào dân tộc ít người,

thống có khả năng thâm canh và giá trị kinh tế cao như: trắm, trôi, chép lai,
vược, rô phi đơn tính)... Chú trọng nghiên cứu, ứng dụng nhân rộng mô hình
nuôi thương phẩm một số giống thủy sản đặc sản, đặc hữu có gía trị kinh tế cao
24


như: cá anh vũ, cá bống, cá chiên, cá lăng, cá nheo… Đa dạng hóa đối tượng và
phương pháp nuôi để khai thác cơ hội thị trường; khuyến khích nuôi công
nghiệp, áp dụng công nghệ cao, quy trình thực hành nuôi tốt (GAP) phù hợp với
các tiêu chuẩn hiện hành; ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vùng nuôi thâm
canh ở các huyện: Hạ Hòa, Lâm Thao, Cẩm Khê, Tam Nông… [42, tr.12].
Thứ hai, CDCCKT nông nghiệp theo lãnh thổ ở tỉnh Phú Thọ.
Là quá trình thay đổi tỷ trọng, vai trò của các hình thức tổ chức sản
xuất nông nghiệp theo lãnh thổ, phản ánh việc khai thác các yếu tố, điều
kiện cho phát triển kinh tế nông nghiệp trên các lãnh thổ nhất định. Trong xu
thế phát triển hiện nay, CDCCKT nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ cần gắn liền
với việc hình thành nên những vùng chuyên môn hóa, có sự ổn định về quy
mô, phương hướng sản xuất, bảo đảm chất lượng và hiệu quả KT- XH.
Theo đó, Tỉnh cần xây dựng và phát triển các vùng sản xuất hàng
hóa chuyên canh, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao để nâng cao năng
suất, chất lượng hàng nông sản gắn với bảo quản, chế biến và thị trường
tiêu thụ theo chuỗi giá trị, nhằm tăng nhanh giá trị và hiệu quả kinh tế trên
đơn vị diện tích đất nông nghiệp. Tiếp tục xây dựng và triển khai nhân
rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn có hiệu quả trên địa bàn toàn Tỉnh; triển
khai có hiệu quả chương trình nông nghiệp cận đô thị, tạo tiền đề xây
dựng các Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh trên
địa bàn như: Lâm Thao, Phù Ninh, Hạ Hòa, Thanh Thủy, Việt Trì, TX
Phú Thọ.
Thứ ba, CDCCKT nông nghiệp theo thành phần kinh tế.
Là quá trình thay đổi về vai trò, vị trí của các thành phần kinh tế tham gia

chuyển dịch cơ cấu lao động, khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh tại chỗ,
cung ứng lao động, nguyên liệu, thị trường và tạo ra nguồn vốn cho sự nghiệp
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn Tỉnh.
Thứ hai, góp phần hạn chế những khó khăn, thách thức đối với nền nông
nghiệp tỉnh Phú Thọ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là điều kiện hết sức thuận lợi cho nền
kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp của Phú Thọ nói riêng phát triển. Tuy
nhiên, trong quá trình hội nhập của kinh tế nông nghiệp Phú Thọ cũng đặt ra
những thách thức, đó là: hàng hóa nông sản sẽ khó cạnh tranh trên thị trường
trong nước cũng như vươn ra thị trường thế giới; vấn đề giải quyết việc làm cho
26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status