Thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh bình định - Pdf 42

NGUYỄN THỊ THẾ VY

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CÔNG TÁC XÃ HỘI (CHƯƠNG TRÌNH LIÊN KẾT VỚI PHI-LÍP-PIN)

NGUYỄN THỊ THẾ VY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

KHÓA II (2015-2017)

HÀ NỘI, 2017

1


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THẾ VY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN


Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp, bản thân tôi
đã gặp một số khó khăn nhất định về thời gian, thu thập, xử lý và phân tích tài liệu
nghiên cứu,... Tuy nhiên, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, cũng như
sự khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi của thầy cô, gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp trong suốt quá trình nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám đốc, các khoa, phòng và
quý thầy, cô trong Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội
Việt Nam, Học viện Châu Á (Philippin) đã tận tình truyền đạt kiến thức và tạo điều
kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập. Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết
ơn chân thành và sâu sắc nhất tới người hướng dẫn khoa học TS. Nguyễn Ngọc
Toản, người đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn tới Ban Lãnh đạo, đồng nghiệp ngành Lao động –
Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Định đã tạo điều kiện hợp tác, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu. Dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn không thể tránh
khỏi thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô
giáo, bạn bè và đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 03 năm 2017
Tác giả

Nguyễn Thị Thế Vy

4


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 10

Bảo trợ xã hội

CSXH

Chính sách xã hội

CTXH

Công tác xã hội

DVCTXH

Dịch vụ công tác xã hội

DVXH

Dịch vụ xã hội

LĐTBXH

Lao động - Thương binh và Xã hội

NKT

Người khuyết tật

Nxb

Nhà xuất bản


Hộp 2.2. Kết quả thảo luận nhóm cán bộ về hạn chế truyền thông về CTXH trên địa
bàn Bình Định............................................................................................................ 49
Hộp 2.3. Tổng hợp kết quả thảo luận nhóm cán bộ về chính sách phát triển nguồn
nhân lực làm CTXH của tỉnh Bình Định................................................................... 68
Hộp 2.4. Kết quả thảo luận nhóm cán bộ về chính sách phát triển hệ thống cung cấp
dịch vụ CTXH đối với NKT trên địa bàn Bình Định................................................ 71
Hộp 2.5. Tổng hợp kết quả thảo luận nhóm về huy động nguồn lực thực hiện chính
sách CTXH đối với NKT............................................................................................73

MỞ ĐẦU

9


1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật (NKT), chiếm 7,8%
dân số. Trong đó, có khoảng 28,9% NKT đặc biệt nặng và nặng, 58% NKT là nữ,
28,3% NKT là trẻ em, 10,2% NKT là người cao tuổi, 61,5% NKT trong độ tuổi lao
động và khoảng 10% NKT thuộc hộ nghèo [2]. Đây là bộ phận dân cư luôn gặp khó
khăn, cần sự trợ giúp về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, hòa nhập cộng
đồng. Luật Người khuyết tật và hệ thống luật pháp chính sách quy định về quyền
của người khuyết tật và trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan tổ chức và gia đình
trong việc bảo đảm quyền của người khuyết tật. Cụ thể hóa luật pháp, Chính phủ đã
ban hành và thực hiện hệ thống chính sách chăm sóc, trợ giúp người khuyết tật trên
các lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, việc làm, văn hóa
thể thao, đời sống và hỗ trợ hòa nhập. Song song cùng với luật pháp, Chính phủ đã
phê duyệt và thực hiện Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020, Việt
Nam đã ký tham gia Công ước của Liên hiệp quốc về quyền của NKT vào tháng
10/2007 và Quốc hội phê chuẩn Công ước vào tháng 11/2014. Việt Nam cam kết
tham gia Chiến lược Incheon nhằm hiện thực hóa quyền cho NKT giai đoạn 20132022 được Liên Chính phủ cùng các tổ chức NKT các nước Châu Á – Thái Bình

trợ cấp xã hội, có 704 người khuyết tật được nuôi dưỡng trong 03 cơ sở bảo trợ xã
hội. Công tác xã hội (CTXH) với người khuyết tật là lĩnh vực mới, đã và đang phát
huy vai trò hỗ trợ trong cung cấp dịch vụ chăm sóc trực tiếp và hỗ trợ triển khai chế
độ chính sách đối với người khuyết tật. Tỉnh đã và đang tổ chức thực hiện chính
sách CTXH đối với NKT. Kết quả các chính sách đã tác động làm thay đổi đời sống
vật chất và tinh thần của NKT. Tuy nhiên, mới chỉ là kết quả ban đầu và còn hạn
chế nhất định, đặc biệt là trong thực hiện chính sách CTXH đối với người khuyết
tật. Để từng bước nâng cao hiệu quả thực hiện CTXH đối với người khuyết tật thì
yếu tố thực hiện chính sách công tác xã hội đóng vai trò then chốt, đặc biệt trong
bối cảnh ở Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng.
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài luận văn về “Thực hiện chính sách công
tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Bình Định” là cần thiết, vừa
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vừa có ý nghĩa đóng góp vào sự phát triển chung,
nâng cao hiệu quả về CTXH đối với người khuyết tật tại tỉnh Bình Định.
11


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề người khuyết
tật và thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật như:
Viện nghiên cứu phát triển xã hội (2008) đã công bố báo cáo nghiên cứu
Người khuyết tật ở Việt Nam từ kết quả điều tra xã hội tại Thái Bình, Quảng Nam,
Đà Nẵng và Đồng Nai. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích giúp chúng ta
hiểu sâu hơn những khó khăn đa dạng và nhiều mặt mà người khuyết tật hiện đang
gặp phải. Nghiên cứu cũng cung cấp cơ sở thông tin giúp cho việc hoàn thiện chính
sách cũng như thiết kế các chương trình hỗ trợ hiệu quả [34].
Đỗ Thị Liên (2014), Công tác xã hội đối với NKT từ thực tiễn thành phố
Thanh Hóa. Tác giả đã đánh giá thực trạng hỗ trợ NKT tại thành phố Thanh Hóa và
đưa những dịch vụ trợ giúp cho NKT tại đây, đồng thời tác giả cũng đã đưa ra
những đề xuất những giải pháp phù hợp để thực hiện quá trình trợ giúp cho NKT

quyền của người khuyết tật ở Việt Nam, bên cạnh những mặt tích cực cũng đã bộc
lộ những hạn chế cản trở người khuyết tật hoà nhập vào cộng đồng. Việc nghiên
cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn đảm bảo tính pháp lý lâu dài, ổn định có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong bối cảnh thay đổi mạnh mẽ về kinh tế-xã hội đất
nước, hướng tới để bảo vệ, chăm sóc và tạo điều kiện tốt hơn cho người khuyết tật,
góp phần phát triển và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội toàn diện, làm cơ sở cho
phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2015), Báo cáo kết quả thực hiện
Luật người khuyết tật và đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2010 - 2015 [3].
Báo cáo được xây dựng dựa trên quá trình khảo sát, phân tích, đánh giá một cách kỹ
lưỡng, đồng thời lấy ý kiến tham gia của các tổ chức, cá nhân có liên quan. Từ thực
tiễn thi hành Luật người khuyết tật cho thấy đã có thay đổi nhận thức xã hội về vấn
đề người khuyết tật, phương thức, cách thức trợ giúp, hỗ trợ NKT. Đời sống vật
chất và tinh thần của NKT đã được thay đổi và có điều kiện tham gia các hoạt động
xã hội, hòa nhập với cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, khó khăn,
vướng mắc, bất cập cũng đã bộc lộ, ảnh hưởng tới hiệu quả của công tác trợ giúp
người khuyết tật, trong đó có những vấn đề xuất phát từ những quy định của Luật
còn bất cập so với điều kiện thực tế của đất nước.
13


Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) “Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và Việc
làm cho người khuyết tật Việt Nam”, năm 2010 đã cung cấp một cách nhìn tổng thể
về các tổ chức của NKT, các tổ chức vì NKT và các dịch vụ dạy nghề, việc làm và
phát triển cơ sở sản xuất kinh doanh của NKT, cơ sở sản xuất kinh doanh có tuyển
dụng NKT vào làm việc. Trong đó tập trung đối với các cơ sở của phụ nữ khuyết
tật, dịch vụ dành riêng cho phụ nữ khuyết tật. Cùng với những thành công đã đạt
được trong quá trình thực hiện Bộ Luật lao động, Pháp lệnh về người tàn tật năm
1998, Báo cáo đã chỉ ra giai đoạn từ năm 2010 trở về trước ở Việt Nam NKT rất ít
được đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm, cũng như thành lập và phát triển các cơ

mô hình hỗ trợ sinh kế cho NKT, cùng với hệ thống các giải pháp vĩ mô và vi mô
để đưa ra mô hình áp dụng để các địa phương trong phạm vi cả nước. Trong đó có
đề cập đến một số lĩnh vực liên quan đến các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ
sinh kế cho NKT [10].
Những nghiên cứu, đề tài, báo cáo trên chỉ tiếp cận ở khía cạnh ảnh hưởng và
tác động của chính sách an sinh xã hội tại địa phương ảnh hưởng đến đời sống của
người khuyết tật và gia đình họ; tìm hiểu về vấn đề chăm sóc sức khỏe, trợ giúp xã
hội, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, hay đánh giá hiệu quả của việc thực hiện
Luật người khuyết tật dưới góc nhìn của người làm chính sách nói chung chứ không
có đề tài nào đi sâu vào việc nghiên cứu sâu sắc về thực hiện chính sách CTXH đối
với NKT, nhất là ở tỉnh Bình Định.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống chính sách hiện có và thực trạng về thực hiện chính sách
CTXH đối với người khuyết tại tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường
thực hiện chính sách CTXH đối với NKT nói chung và tại tỉnh Bình Định nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp khái quát cơ sở lý luận về thực hiện chính sách CTXH đối với
NKT.
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách CTXH đối với NKT cũng như các
yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện chính sách CTXH đối với NKT tại địa bàn
tỉnh Bình Định;
15


- Đề xuất giải pháp tăng cường thực hiện chính sách CTXH đối với NKT tại
tỉnh Bình Định nói riêng và cả nước nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống chính sách hiện có và các hoạt động thực hiện chính sách CTXH đối

Định, các tổ chức Hội có liên quan đến người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Bình
Định, báo cáo các cơ sở BTXH, báo cáo tổng kết của phòng Lao động – TBXH một
số huyện, thị xã, thành phố cung cấp.
- Phương pháp quan sát: Quan sát, thu thập thông tin về hoàn cảnh sống, thái
độ, thể trạng, không gian sống và điều kiện sinh sống trong sinh hoạt hằng ngày của
NKT; thái độ, hành vi của cán bộ trực tiếp làm việc đối với NKT, gia đình có NKT
và quan sát thực trạng đời sống kinh tế - xã hội địa phương, thái độ, hành vi của
người dân, của chính quyền đối với các vấn đề liên quan đến thực hiện chính sách
CTXH đối với NKT…
- Phương pháp xử lý số liệu: Đề tài không thực hiện điều tra khảo sát riêng về
NKT, mà lồng ghép câu hỏi vào với điều tra NKT của tỉnh Bình Định năm 2016.
Đồng thời có sử dụng cơ sở dữ liệu thứ cấp của các cuộc khảo sát về NKT và
CTXH của tỉnh Bình Định do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện
trong các năm 2010, 2013, 2015 và 2016. Đây là các khảo sát được thiết kế phiếu
hỏi và có thực hiện phỏng vấn sâu đối với cán bộ, nhân viên thực hiện các hoạt
động CTXH ở các cấp cơ sở và các trung tâm bảo trợ xã hội trong tỉnh. Trong quá
trình thực hiện nghiên cứu đề tài đã sử dụng các phương pháp phân tích thống kê để
xử lý dữ liệu điều tra.
- Phương pháp thảo luận nhóm: Đề tài đã thực hiện 01 thảo luận nhóm đối với
cán bộ làm công tác quản lý ở Sở LĐTBXH và cán bộ lãnh đạo trung tâm bảo trợ xã
hội; 01 thảo luận nhóm đối với cán bộ cấp huyện và 01 thảo luận nhóm với cán bộ
cấp xã và đại diện người khuyết tật về các nội dung thực hiện các chính sách công
tác xã hội đối với NKT. Tổng số đối tượng tham gia thảo luận nhóm là 36 người
(mỗi thảo luận nhóm 12 người). Nội dung thảo luận theo các chủ đề chính sách
CTXH. Trong đó tập trung chủ yếu về những hạn chế của các chính sách tuyên
truyền, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống
17


dịch vụ, chính sách tài chính… Kết quả thảo luận nhóm được tóm tắt cụ thể trong


Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người
khuyết tật tại tỉnh Bình Định.
Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách công tác xã hội đối với
người khuyết tật tại tỉnh Bình Định.

19


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1. Khái quát về người khuyết tật và những đặc trưng của người khuyết
tật
1.1.1. Khái niệm người khuyết tật
Theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế Người khuyết tật: Người khuyết tật trở
thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc
sống giống như thành viên khác (Disabled People International- DPI, 1982).
Tại Điều 1 của Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006 đã
khẳng định: “Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về
thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác
nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền
tảng công bằng như những người khác trong xã hội” [6, trang 11].
Tại khoản 1, Điều 2 của Luật Người khuyết tật Việt Nam ban hành ngày
17/06/2010 định nghĩa về người khuyết tật như sau: “Người khuyết tật là người bị
khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng được biểu
hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [16]. Với
khái niệm này, người được coi là khuyết tật có đủ 2 điều kiện là: (i) Phải có khiếm
khuyết hoặc có suy giảm chức năng cơ thể và (ii) Khiếm khuyết và suy giảm chức
năng này có ảnh hưởng đến lao động, học tập và sinh hoạt cá nhân của chính người

• Khuyết tật khác: là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến
cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các
trường hợp được quy định tại các dạng trên.
(ii) Tiêu chí thứ hai, về các mức độ khuyết tật:
• Khuyết tật đặc biệt nặng: là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn
toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi
lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá
nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
21


• Khuyết tật nặng: là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc
suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt
động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh
hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc.
• Khuyết tật nhẹ: là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại hai
mức độ trên.
1.1.3. Đặc trưng của người khuyết tật
(i) Sức khỏe yếu, cần đến các hoạt động phục hồi chức năng: Những NKT
do bị khiếm khuyết về một hoặc một số bộ phận chức năng của cơ thể nên sức khỏe
của họ kém hơn so với người bình thường. Ở mỗi dạng tật, tình hình sức khỏe lại
khác nhau. Phần lớn những người khuyết tật vận động không có khả năng sức khỏe
để làm những công việc thủ công, những công việc đòi hỏi phải có sức khỏe. Những
người hạn chế nghe, nói, tâm thần kinh thì đặc trưng về sức khỏe cũng có những sự
khác biệt nhất định so với những người bình thường. Nhìn chung về thể trạng và
tâm thần của người khuyết tật đều có những đặc trưng riêng. Một số ít về thể trạng
khỏe mạnh, còn lại đa phần là có thể trạng yếu và khó có thể vận động như những
người không khuyết tật.
(ii) Sống rất khép kín, ít thích giao tiếp, ít hòa nhập cộng đồng: Nguyên
nhân là do bị khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần nên họ dễ bị tổn thương về

hiệu quả hơn các đối tượng thông thường.
1.2. Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1. Lý thuyết về vị trí - vai trò xã hội
Thuyết vị trí vai trò trong xã hội nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của
xã hội và cho rằng mỗi cá nhân có một vị trí xã hội nhất định, được thừa nhận trong
cơ cấu xã hội, gắn liền với những quyền lợi, nghĩa vụ hay kỳ vọng để định hướng
cho những hành vi xã hội của cá nhân đó. Nó được xác định trong sự đối chiếu so
sánh với các vị trí xã hội khác [17].
Mỗi xã hội có cơ cấu phức tạp bao gồm các vị trí, vai trò xã hội khác nhau.
Lý thuyết về vị trí - vai trò xã hội cho rằng, mỗi cá nhân có một vị trí xã hội là vị trí
tương đối trong cơ cấu xã hội, hệ thống quan hệ xã hội. Nó được xác định trong sự
đối chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác nhau. Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn
với những trách nhiệm và quyền hạn kèm theo. Mỗi cá nhân có vị trí xã hội khác
23


nhau, do đó cũng có nhiều vị thế khác nhau. Những vị thế xã hội của cá nhân có thể
là: vị thế đơn lẻ, vị thế tổng quát hoặc có thể chia theo cách khác là: vị thế có sẵn được gắn cho, vị thế đạt được, một số vị thế vừa mang tính có sẵn, vừa mang tính
đạt được [21].
Vai trò của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng.
Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội. Những đòi hỏi đó
luôn dựa vào các chuẩn mực của xã hội. Tùy thuộc vào đặc thù văn hóa của mỗi
vùng, của mỗi dân tộc mà có những chuẩn mực riêng của nó. Vì vậy một vị thế xã
hội nhưng tùy vào đặc thù của xã hội đó mà có những vai trò khác nhau.
Trong Công tác xã hội, thuyết này được ứng dụng để khi tiếp cận với đối
tượng thì nhân viên công tác xã hội phải hiểu rõ từng vị trí mà họ đuợc thừa nhận
trong gia đình và ngoài xã hội. Khi con người có tiếng nói riêng của mình, được gia
đình và xã hội coi trọng thì họ sẽ thực hiện tốt các vai trò của mình và sẽ đáp ứng
được nhiều mong đợi từ người khác.
Lý thuyết vị trí - vai trò xã hội được sử dụng trong luận văn này nhằm mục

sự tác động qua lại với nhau.
Tác giả vận dụng lý thuyết hệ thống trong việc nghiên cứu luận văn của mình
nhằm nhìn nhận sự tác động qua lại của NKT như thế nào ở các hệ thống trong xã
hội. Cụ thể, NKT đã có những tiếp cận như thế nào về hệ thống các chính sách xã
hội, đặc biệt trong chính sách như trợ cấp xã hội, chăm sóc sức khỏe, vay vốn, dạy
nghề, việc làm... Mặc dù, sống trong một cộng đồng nhưng không phải cá nhân nào
cũng có cơ hội tiếp cận các chính sách và dịch vụ như nhau. Qua đó, tìm hiểu
nguyên nhân để có những giải pháp nhằm giúp họ có cơ hội tiếp cận các chính sách
và dịch vụ một cách nhanh nhất.
1.1.3. Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Mỗi con người sinh ra trong xã hội ai cũng có những nhu cầu cho cuộc sống
sinh tồn của mình, đó là nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Các nhu cầu
đó rất đa dạng, phong phú và phát triển. Nhu cầu của con người phản ánh những
mong muốn chủ quan hoặc khách quan tùy theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa,
nhận thức và vị trí xã hội của họ. Để tồn tại và phát triển trong xã hội, con người
cần phải đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như: ăn, mặc, ở và
chăm sóc y tế… rồi đến các nhu cầu cao hơn như: nhu cầu được an toàn, được học
hành, được yêu thương, được tôn trọng và phát triển. Khi con người được đáp ứng
các nhu cầu cơ bản thì họ mới có động lực và đó cũng chính là điều kiện để được
đáp ứng các nhu cầu cao hơn.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status