Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn trung tâm chữa bệnh – giáo dục – lao động xã hội số v, thành phố hà nội (tt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN LẬP

QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI
CAI NGHIỆN MA TUÝ TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM
CHỮA BỆNH - GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG XÃ HỘI SỐ V,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017


Công trình được hoàn thành tại Học Viện Khoa học Xã hội
Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học
TS HÀ THỊ THƯ

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí
Phản biện 2: TS. Nguyễn Ngọc Toản

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
tại: Học viện Khoa học xã hội
Vào hồi ........ giờ ........ ngày ..... tháng ..... năm 20....

bộ. Theo đánh giá, nhận xét mô hình bắt buộc tập trung hiện nay làm hạn
chế nhiều cơ hội phát triển, thực hiện các chức năng xã hội của người
nghiện ma túy và chưa phù hợp với cách tiếp cận mới về người nghiện ma
túy, cai nghiện ma túy của Quốc tế.
Ngày 27/12/2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
2596/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt
nam đến năm 2020 (Chính phủ, 2013), Quyết định số 1640/QĐ-TTg ngày
18 tháng 8 năm 2016 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Quy
hoạch mạng lưới cơ sở cai nghiện đến năm 2020 và định hướng đến năm
2030 (Chính phủ, 2016). Với quan điểm đổi mới coi nghiện ma túy là một
bệnh mãn tính do rối loạn của não bộ; điều trị nghiện ma túy là một công
việc lâu dài, can thiệp kết hợp nhiều mặt cả y tế, tâm lý, xã hội. Một
chương trình cai nghiện hiệu quả cung cấp không chỉ các dịch vụ điều trị
trực tiếp về y tế, về tâm lý mà còn cần có các dịch vụ hỗ trợ khác để đáp

1


ứng nhu cầu đa dạng của người nghiện. Việc thiết lập một mạng lưới liên
kết, chuyển gửi giữa các cơ sở cai nghiện, các cơ sở, chương trình có thể
cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho người nghiện là rất quan trọng và cần
thiết.
Ngày 25/03/2010 Thủ Tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai
đoạn 2010-2020 (Chính phủ, 2010), đây là chỉ đạo quan trọng của Chính
phủ nhằm khẳng định và thúc đẩy phát triển, nâng cao vai trò, hiệu quả
nghề công tác xã hội, đồng thời nhằm thực hiện được mục tiêu về kiểm
soát và tổ chức điều trị cai nghiện cho người nghiện ma túy.
Quản lý trường hợp là một hoạt động trợ giúp đặc thù chuyên ngành
trong công tác xã hội. Đối với người cai nghiện ma túy (đối tượng có hoàn

và tiếp cận hiệu quả đối với nhóm đối tượng này (Nguyễn Mạnh Hùng,
2012).
- Nghiên cứu “Hậu quả, tác hại và những nguyên nhân dẫn đến tình
trạng trẻ em nghiện ma túy ở Thành phố Hà Nội” (2009), tài liệu đã phân tích
những hậu quả của tệ nạn ma túy đối với trẻ em; phân tích nguyên nhân từ môi
trường xã hội; đặc điểm tâm lý trẻ em; nguyên nhân từ góc độ quản lý nhà
nước đối với trẻ em; từ quản lý xã hội; phân tích sâu về yếu tố nhận thức, điều
kiện kinh tế và nguyên nhân từ phía gia đình, nhà trường. Thông qua nội dung
phân tích, tác giả giúp người đọc hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động ảnh
hưởng đến nghiện ma túy của trẻ, trên địa bàn Thành phố Hà Nội (Hà Trọng
Liên và Hoàng Trọng Lực, 2009).
- Nghiên cứu về nhóm thanh thiếu niên nghiện ma túy, tác giả
Nguyễn Minh Đức, Trung tâm nghiên cứu Tội phạm học và phòng ngừa
tội phạm – Học viện Cảnh sát nhân dân có công trình nghiên cứu “Tìm
hiểu một số hình thức mới của việc lạm dụng chất gây nghiện trong thanh,
thiếu niên hiện nay và các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn” (2015). Bài
viết đề cập đến một số loại ma túy mới được giới trẻ Hà Nội cũng như một
số thành phố lớn khác tìm kiếm và sử dụng, như hít “keo” (còn gọi là dung
môi hữu cơ), hút “pin” (thuốc lào Canada), hút “Shisha” (thuốc lào Ả rập).
Phân tích nguyên nhân sử dụng và lạm dụng chất gây nghiện, đồng thời
đưa ra một số giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng này trong thanh
thiếu niên hiện nay (Nguyễn Minh Đức, 2015).
- Đề tài nghiên cứu “Hành vi nghiện dưới góc độ tâm lý học” của
Huỳnh Văn Sơn đưa ra khái quát chung về hành vi trong tâm lý học; Lý luận
về hành vi nghiện dưới góc độ tâm lý học;; Biện pháp định hướng và điều
chỉnh hành vi nghiện. Công trình này mang tính chia sẻ dựa trên một số kết
quả nghiên cứu bước đầu cũng như việc cập nhật các kiến thức và các biện
pháp cơ bản. Thông qua nghiên cứu này tác giả muốn giúp các phụ huynh
chủ động trong việc giáo dục trẻ em tránh xa các hành vi nghiện (Huỳnh Văn
Sơn, 2012).

Công, 2003).
- Giáo trình “Chất gây nghiện và xã hội” (2013) được biên soạn với
sự hợp tác của các cơ quan: Tổ chức FHI 360, Trung tâm dự phòng và
kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ CDC, Cục phòng chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao
động Thương binh và xã hội, Trường Đại học lao động - xã hội, nhóm tác
giả do Bùi Thị Xuân Mai chủ biên. Nội dung tài liệu đã nêu: Tổng quan về
chất gây nghiện; Các Lý thuyết về nghiện ma túy; Nghiện ma túy; Mối
quan hệ giữa ma túy và HIV, kỳ thị phân biệt đối xử với người nghiện ma
túy; Chính sách và các can thiệp với vấn đề sử dụng chất gây nghiện. Đây
là một tài liệu, một công trình soạn thảo công phu, chọn lọc và thiết thực
phục vụ cho việc đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn về Công tác xã hội
tại Việt Nam (FHI 360, 2013).
* Một số công trình nghiên cứu và bài viết về nội dung quản lý
trường hợp và Quản lý trường hợp đối với người nghiện ma túy tại Việt
Nam
- Tác giả Trần Văn Kham đã có công trình nghiên cứu “Tổng quan
các quan điểm về quản lý trường hợp trong công tác xã hội và khả năng
ứng dụng ở Việt nam”, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 3/2016.
Nghiên cứu này nêu Quản lý trường hợp là một trong các phương pháp

4


can thiệp của công tác xã hội, có thể được hiểu như là một tiến trình của
công tác xã hội, một cách thức giúp thân chủ được tiếp xúc các dịch vụ trợ
giúp xã hội. Đây là một chủ đề nghiên cứu rộng khắp ở nhiều quốc gia trên
thế giới về lĩnh vực công tác xã hội. Bài viết đi vào tổng quan các quan điểm
gần đây về quản lý trường hợp qua hệ thống các cơ quan và chức năng, từ đó
đề xuất một vài hàm ý về ứng dụng quản lý trường hợp trong bối cảnh Việt
Nam (Trần văn Kham, 2016).

nghiên cứu tại cộng đồng và các trung tâm cai nghiện của Hà Nội, tôi nghĩ

5


rằng đề tài này sẽ góp phần bổ sung và gợi mở rõ nét hơn về quản lý
trường hợp đối với người cai nghiện ma túy tại trung tâm nói riêng và với
công tác điều trị cai nghiện cho người nghiện ma túy tại Thành phố Hà
Nội nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng quản lý trường hợp
đối với người cai nghiện ma túy; các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường
hợp; ứng dụng tiến trình quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma
túy tự nguyện tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội số
V, thành phố Hà Nội; qua đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm nâng
cao năng lực, hiệu quả công tác điều trị cho người nghiện ma túy tại Trung
tâm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý trường hợp trong việc hỗ trợ
đối với người cai nghiện ma túy.
- Phân tích thực trạng thực hiện nhiệm vụ quản lý trường hợp trong
việc hỗ trợ người cai nghiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục Lao động Xã hội số V, Thành phố Hà Nội.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với
người cai nghiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động
Xã hội số V, Thành phố Hà Nội.
- Ứng dụng tiến trình QLTH vào trợ giúp một cá nhân người cai
nghiện ma túy. Đề xuất một số giải pháp thực hiện áp dụng hiệu quả tiến
trình quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy tại Trung tâm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

yếu với các yếu tố khác như cơ chế chính sách, môi trường xã hội,…
Những đề xuất của nghiên cứu này ngoài giải pháp tác động đến các yếu tố
nội tại như nhân viên quản lý trường hợp, bản thân người cai nghiện ma
túy còn đề cập đến việc xây dựng cơ chế, chính sách trong tổ chức thực
hiện quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy tại Trung tâm sao
cho phù hợp và hiệu quả.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Tác giả thu thập, phân tích số liệu, tài liệu từ các công trình nghiên
cứu, đề tài đã được công bố về nội dung công tác xã hội, quản lý trường
hợp đối với người sử dụng ma túy, các tài liệu về nghiện chất, cai nghiện,
phục hồi cho người nghiện ma túy để xây dựng hệ thống lý thuyết.
Tập hợp, phân tích các số liệu từ báo cáo kết quả công tác của Trung
tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội số V và Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội.
5.2.2. Phương pháp điều tra bảng hỏi
Đây là phương pháp cơ bản được tác giả sử dụng để cho ra các số
liệu, định lượng dựa trên các khái niệm đã được thao tác hóa. Bảng hỏi là
công cụ thu thập thông tin với những nội dung câu hỏi liên quan đến thông
tin cán bộ QLTH đánh giá nhu cầu của người cai nghiện ma túy, thực
trạng các nhiệm vụ quản lý trường hợp của cán bộ QLTH đối với người
cai nghiện ma túy, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp người cai

7


nghiện tại Trung tâm, thông qua việc tổng hợp, phân tích, nhận xét số liệu
khảo sát.
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả sử dụng các câu hỏi phỏng vấn sâu đối với cán bộ lãnh đạo,
Nhân viên trực tiếp tư vấn và học viên đang cai nghiện tại trung tâm, đó là

Xã hội số V, Thành phố Hà Nội.

8


Bên cạnh đó đề tài nghiên cứu này có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho những nghiên cứu sau này về lĩnh vực quản lý trường hợp
đối với người cai nghiện ma túy hoặc những ai quan tâm đến công tác xã
hội, công tác xã hội đối với người cai nghiện ma túy.
7. Kết cấu của đề tài luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo,
các phụ lục, đề tài gồm 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý trường hợp đối với
người cai nghiện ma túy.
Chương 2: Thực trạng quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội số V,
Thành phố Hà Nội.
Chương 3: Ứng dụng tiến trình quản lý trường hợp và đề xuất giải
pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý trường hợp đối với người
cai nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao
động xã hội số V, Thành phố Hà Nội.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI
VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY
1.1. Khái niệm và đặc điểm của người cai nghiện ma túy
1.1.1. Một số khái niệm
Khái niệm ma túy; Khái niệm nghiện ma túy; Khái niệm người
nghiện ma túy; Khái niệm người cai nghiện ma túy
1.1.2. Đặc điểm và nhu cầu của người nghiện ma túy
1.1.2.1. Đặc điểm người nghiện ma túy

1.2.3.3. Xây dựng kế hoạch can thiệp
Nhân viên QLTH sẽ cùng với bản thân người cai nghiện, gia đình họ
và các bộ phận liên quan trong trung tâm và ngoài cộng đồng cùng thảo
luận đưa ra những mục tiêu, nội dung cần can thiệp.
1.2.3.4. Triển khai các hoạt động trợ giúp
Vai trò của nhân viên QLTH ở đây là điều phối và thực hiện các hoạt
động hỗ trợ, cụ thể như hỗ trợ cắt cơn nghiện, tư vấn, tham vấn, giáo dục
sửa đổi hành vi, giáo dục giá trị sống, giáo dục kiến thức pháp luật, giáo
dục phòng chống tái nghiện, hướng nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm, kết
nối chuyển gửi về cộng đồng cho địa phương, các doanh nghiệp, các tổ
chức, dịch vụ hỗ trợ sau cai.
1.2.3.5. Lượng giá
Đây là hoạt động đánh giá toàn diện tiến trình hỗ trợ người cai
nghiện. Khi tiến hành lượng giá nhân viên QLTH đánh giá theo các tiêu
chí về: sự thay đổi tích cực của người nghiện; sự thay đổi từ môi trường
gia đình, cộng đồng; sự tham gia của bản thân người nghiện, gia đình họ
và các bên liên quan và lượng giá các hoạt động của nhân viên trợ giúp.
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với người
cai nghiện ma túy
1.2.4.1. Yếu tố thuộc từ đặc điểm đối tượng
Đặc điểm thể chất, tâm lý và đặc điểm về mặt xã hội của người cai
nghiện ma túy. Người nghiện ma túy khi thiếu ma túy thì cơ thể họ xuất
10


hiện hội chứng cai, đau đớn về thể xác, rối loạn tâm thần, đặc biệt với
những trường hợp sử dụng ma túy dạng đá có những hành vi mất kiểm
soát bản thân, bị kích động, gây nguy hiểm cho bản thân, những người
xung quanh.
1.2.4.2. Yếu tố về môi trường gia đình

1.3.3. Thuyết Hệ thống sinh thái
1.4. Cơ sở pháp lý của quản lý trường hợp đối với đối với người
cai nghiện ma túy
11


Luật phòng chống ma túy: Ngày 19/12/2000 Quốc hội nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Khóa X đã chính thức ban hành Luật
phòng chống ma túy (Số 23/2000/QH10), được sửa đổi bổ sung năm
2008 đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về cai nghiện ma túy.
Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Thủ
tướng Chính phủ Việt Nam, Quyết định Phê duyệt Đề án phát triển nghề
Công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020, đây là văn bản quan trọng nhằm
khẳng định và thúc đẩy phát triển nghề Công tác xã hội ở Việt Nam.
Bên cạnh đó tác giả đã trình bày và phân tích nhiều Nghị định của
Chính Phủ, Thông tư của các bộ, ngành điều chỉnh cụ thể về hoạt động cai
nghiện ma túy tự nguyện, cai nghiện ma túy bắt buộc và nghề công tác xã
hội tại Việt Nam hiện nay.
Kết luận chương 1
Thông qua nội dung trình chương 1 với những vấn đề về lý luận và
nội dung quản lý trường hợp đối với người nghiện ma túy, người cai
nghiện ma túy tại Trung tâm; phân tích nội dung cơ bản của Thuyết Nhu
cầu, Thuyết Hệ thống và Thuyết Hệ thống sinh thái trong nghiên cứu về
QLTH đối với NCNMT, tác giả nêu lên nền tảng nghiên cứu khoa học để
giải quyết nội dung chính của luận văn đó là phân tích thực trạng nhiệm vụ
và những yếu tố tác động đến Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội số V,
Thành phố Hà Nội; ứng dụng tiến trình QLTH vào một trường hợp cụ thể
người đang cai nghiện ma túy tại Trung tâm từ đó đưa ra kiến nghị, giải
pháp nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma túy tại Trung tâm cũng

lý học viên với 80 cán bộ, nhân viên.
2.1.2. Khái quát về khách thể nghiên cứu
2.1.2.1. Về nhân viên quản lý trường hợp
Về giới tính: Nam chiếm tỷ lệ tương đối cao: 87,5%, còn lại 12,5%
là nữ. Về độ tuổi: dưới 35 tuổi rất cao (84,35%), 9,4% số trên 35 tuổi và
6,25% số trên 50 tuổi. Về trình độ học vấn và chuyên môn: trình độ học
vấn của đội ngũ nhân viên quản lý trường hợp của Trung tâm khá cao, có
6% trình độ trên đại học, số người có trình độ cao đẳng chiếm tỷ lệ
28,5%, chỉ có 3% là trình độ trung cấp. Đặc biệt, tỷ lệ có trình độ đại học
là 62,5%, chiếm tới 2/3 tổng số cán bộ QLTH. Với mặt bằng trình độ như
trên rất thuận lợi cho công tác đào tạo, ứng dụng chuyên môn trong hoạt
động nghề nghiệp ngày càng đòi hỏi cao của xã hội. Về trình độ chuyên
môn chiếm tỷ lệ cao nhất là CTXH (31,25%), xếp thứ 2 là ngành tâm lý
học (21,8%). Về thời gian làm việc trong lĩnh vực cai nghiện: Cán bộ
QLTH tại Trung tâm có thời gian làm việc trong lĩnh vực cai nghiện phục
hồi từ trên 3 năm – 10 năm chiếm tỷ lệ cao (65,6%). Tuy nhiên hầu hết cán
bộ Trung tâm được tuyển dụng theo yêu cầu về quản lý giáo dục học viên
cai nghiện bắt buộc, do vậy kinh nghiệm công tác ở đây nặng về quản lý, ít
quan tâm tư vấn, giáo dục, đặc biệt là kiến thức, kỹ năng về công tác xã hội.
2.1.2.2. Về người cai nghiện ma túy tại Trung tâm
* Trình độ học vấn của người cai nghiện ma túy tại trung tâm: Phần
đông người cai nghiện có trình độ học vấn thấp 24,7% cấp tiểu học và

13


37,5% cấp THCS. Bên cạnh đó cũng có đến 5,2% là người cai nghiện đã
qua đào tạo tại các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học.
* Loại ma túy người cai nghiện sử dụng trước khi vào trung tâm:
Phần lớn vẫn là sử dụng ma túy truyền thống thông qua con đường hút,

thay thế bằng Methadone (90,6%), nhu cầu về xét nghiệm và điều trị
kháng Vi rút HIV/AIDS (84,4%) và nhu cầu cung cấp thực phẩm chức
năng, thuốc bổ được đánh giá thấp nhất (43,75%).
* Đánh giá nhu cầu học tập, tham vấn, tư vấn
14


Cán bộ QLTH có quan tâm đánh giá nhu cầu về giáo dục và tư vấn,
tham vấn của NCNMT, tuy nhiên chưa thể hiện đồng đều, phần lớn đánh
giá nhu cầu về tư vấn phòng chống tái nghiện (93,75%), còn xác định nhu
cầu về tư vấn nghề, việc làm chỉ chiếm 56,25%.
* Đánh giá nhu cầu về môi trường gia đình, xã hội
Hầu hết cán bộ QLTH đề quan tâm đánh giá nhu cầu của NCNMT
về thái độ kỳ thị của xã hội và sự quan tâm của chính quyền địa phương
(96,87%). Đánh giá nhu cầu của NCNMT về tham gia vào các hoạt động
hành chính, văn hóa, kinh tế, xã hội tại địa phương chưa được chú ý cao
(chỉ chiếm 59%).
* Đánh giá nhu cầu học nghề và tạo việc làm
Cán bộ QLTH chưa thật sự chú ý đến nhu cầu học nghề, nhu cầu
việc làm của người cai nghiện ma túy, do thực tế khó khăn về nguồn lực
và cơ chế trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ này tại Trung tâm trên địa
bàn Hà Nội.
2.2.3. Về thực trạng nhiệm vụ xây dựng kế hoạch can thiệp
Sự tham gia xây dựng kế hoạch can thiệp đối với thân chủ là
NCNMT tại trung tâm là cán bộ QLTH (100%) và lãnh đạo trung tâm
(93,75%), bản thân người cai nghiện ma túy (81,25%), Tuy nhiên, sự
tham gia vào cuộc của gia đình NCNMT còn rất hạn chế (31,25%).
2.2.4. Thực trạng hoạt động triển khai các hoạt động trợ giúp
Hoạt động cắt cơn giải độc được thực hiện rất thường xuyên
(96,87%); Hoạt động tư vấn giáo dục được đánh giá thực hiện ở mức khá

Theo khảo sát gia đình người cai nghiện ma túy có ảnh hưởng trực
tiếp đến quá trình trợ giúp người cai nghiện ma túy (93,75%). Ảnh hưởng
từ sự kỳ thị của cộng đồng xã hội vẫn luôn được đánh giá rất lớn
(96,87%). Bên cạnh đó môi trường tại chính Trung tâm cai nghiện cũng
có ảnh hưởng không hề nhỏ đối với NCNMT (90,63%).
2.3.3. Thực trạng yếu tố cán bộ quản lý trường hợp tại Trung tâm
Đòi hỏi yêu cầu lớn nhất là kiến thức chuyên môn của cán bộ quản
lý trường hợp (91%); Thái độ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ QLTH là
yếu tố ảnh hưởng cao (81,25%); Kỹ năng tiếp cận, đánh giá xác định nhu
cầu NCNMT là một yếu tố rất quan trọng (78%); Kỹ năng tìm kiếm, điều
phối nguồn lực, dịch vụ (71%); Kỹ năng giám sát của cán bộ QLTH cũng
ảnh hưởng (65%).
2.4.4. Thực trạng yếu tố nhận thức của lãnh đạo và cán bộ quản lý
tại Trung tâm
Nhận thức của lãnh đạo các cấp về ý nghĩa và tầm quan trọng của
nghề công tác xã hội đối với người nghiện ma túy, hoạt động QLTH đối
với NCNMT có ảnh hưởng rất lớn (96,87%); Xem xét ảnh hưởng về
chuyên môn sâu CTXH, QLTH đối với lãnh đạo quản lý có đến 25% cán
bộ cho rằng không ảnh hưởng nhiều, điều này thể hiện mong muốn ở lãnh
đạo chủ yếu ở góc độ điều hành, quan tâm chỉ đạo.
2.3.5. Thực trạng ảnh hưởng từ yếu tố cơ chế, chính sách
Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ là công tác cai nghiện ma túy có ảnh
hưởng rất lớn chiếm 93,75% và 90,5% cán bộ QLTH cho rằng các chủ

16


trương chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác xã hội đối với người nghiện
ma túy ảnh hưởng đến công tác QLTH tại trung tâm.
Kết luận chương 2

thức, kỹ năng và nhiệt huyết khi tham gia trợ giúp.

17


Chương 3
ỨNG DỤNG TIẾN TRÌNH QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP VÀ ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA
TÚY TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CHỮA BỆNH-GIÁO DỤCLAO ĐỘNG XÃ HỘI SỐ V, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Lý do ứng dụng tiến trình quản lý trường hợp trong trợ giúp
người cai nghiện ma túy tại Trung tâm
Từ thực trạng nhiệm vụ QLTH và các yếu tố ảnh hưởng đến NCNMT
tại Trung tâm, tác giả áp dụng thực tiễn vào một trường hợp cai nghiện cụ
thể tại trung tâm, đưa ra nhận xét về ưu điểm và hạn chế trong từng bước
thực hiện nhiệm vụ của cán bộ QLTH. Từ đó, tác giả đưa ra khuyến nghị và
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tiến trình quản lý trường
hợp đối với người cai nghiện ma túy tại Trung tâm.
3.2 Tiến trình ứng dụng quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma túy
Tác giả áp dụng một trường hợp vào cai nghiện ma túy tự nguyện
tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội số V để thực hiện
tiến trình QLTH:
Trần văn T, 25 tuổi là một Học viên cai nghiện ma túy mới được tiếp
nhận vào Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động Xã hội số V,
Thành phố Hà Nội. Trước khi vào cai nghiện ma túy, T sống với mẹ là bà
Ngô Thị H. tại phường Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội (Bố của T, mất
từ năm T 15 tuổi). T đã có bằng Đại học Tài Chính và từng làm kiểm
toán cho một công ty tư nhân tại quận Đống Đa, với mức thu nhập tương
đối cao. T còn một anh trai là Trần Văn Q đã có gia đình riêng và làm

không sử dụng bao cao su, nhiều lần quan hệ song T cũng giật mình.
Khoảng đầu năm 2015, trong một lần sử dụng ma túy tại nhà nghỉ
cùng bạn gái bị Công an phường phát hiện đã mời gia đình T lên phường
làm việc. Lúc này cả gia đình T mới bàng hoàng nhưng vẫn cố giấu với
mọi người xung quanh và công ty của T, tuy nhiên không khí trong gia
đình T càng trở nên căng thẳng, xung đột. Mẹ của T đã rất đau khổ và
muốn T từ bỏ ma túy. T do thương mẹ nên cũng muốn từ bỏ nhưng lúc
này không dễ dàng vì gần đây do sử dụng nhiều và liên tục (ngày cao
nhất có tiền T dùng đến gần 1 triệu đồng để mua ma túy). Những lúc
thèm thuốc, anh luôn cảm thấy nổi da gà, đổ mồ hôi, tay chân run rẩy,
buồn nôn và có cảm giác như có “dòi bò trong xương”, trong khi đó bạn
gái lại khuyến khích và cung cấp thuốc cho T tiêm chích để có độ phê
cao và nhanh hơn.

19


Mẹ T đã mời thầy thuốc về nhà cai nghiện cho T hai lần nhưng liền
ngay sau đợt cai tại nhà T lại dùng ma túy nhanh hơn, thậm chí nhiều
hơn. Thâm tâm bà H muốn đưa T vào trung tâm để cai nghiện cho có
thời gian dài và kết hợp nhiều biện pháp khác nhưng T không muốn vào
trại cai nghiện vì nếu như vậy thì anh nghe bạn nghiện kể rất sợ về trung
tâm cai nghiện. Mặc dù nhận thức được những hậu quả của việc sử dụng
ma túy nhưng anh lại không thể từ bỏ nó. Anh rất thương mẹ và có ý định
từ bỏ ma túy nhưng không biết phải làm như thế nào? Biết hoàn cảnh của
bà H, gần đây anh A là Cảnh sát khu vực đã vào nhà động viên và giới
thiệu với gia đình về mô hình cai nghiện tự nguyện mới, rất khoa học có
áp dụng CTXH mà cụ thể là tiến trình quản lý trường hợp cho người cai
nghiện, đồng thời được hỗ trợ kinh phí của Thành phố, tại Trung tâm
Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động Xã hội số V, Xuân Phương, Nam Từ

+ Vấn đề thứ hai: Tham vấn, tư vấn hỗ trợ tình cảm, mâu thuẫn trong
gia đình với vợ chồng người anh trai đã được cải thiện tốt.
+ Vấn đề thứ ba: Tư vấn nhận thức về nam khoa và tình dục an toàn
khi nghi ngờ có nguy cơ cao, lo lắng bị nhiễm HIV từ bạn gái nghiện ma
túy. T đã rất an tâm “Khi có kết quả âm tính, T như vỡ òa và thay đổi hẳn
tâm lý lo lắng, vui vẻ hơn và khí thế rất nhiều khi tham gia các hoạt động
của Trung tâm”.
+ Vấn đề thứ tư: Hỗ trợ tư vấn pháp lý, giải quyết lo ngại việc tài sản
đất đai của gia đình, anh trai T đã trao đổi và sẽ khắc phục được số nợ,
quyền lợi của T không bị xâm hại.
Qua thực hiện các bước trên cho thấy hầu hết các vấn đề của thân
chủ đã được giải quyết/đáp ứng, bản thân T, mẹ T và vợ chồng anh trai T
rất vui, phấn khởi, hôm đón T về gia đình, kết thúc hợp đồng cai nghiện
tự nguyện 3 tháng tại Trung tâm số V. Thông qua việc áp dụng tiến trình
QLTH này Nhân viên QLTH cũng rút ra thêm những kinh nghiệm bản
thân, thấy được rõ hơn về thực trạng nhiệm vụ QLTH đối với NCNMT
tại Trung tâm từ đó có những kiến nghị giải pháp phù hợp nhằm nâng
cao hiệu quả ứng dụng công tác xã hội đối với NCNMT tại Trung tâm.
3.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu
quả áp dụng quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy tại
Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội số V, Thành phố
Hà Nội.
3.3.1. Nhận xét và yêu cầu cụ thể từ kết quả thực tiễn áp dụng tiến
trình Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy tại Trung tâm
Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội số V, Hà Nội

21


3.3.2. Khuyến nghị đối với Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao

trị ma túy trên địa bàn Hà Nội.

22


- Quy định rõ mức ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp khi tham gia cung
cấp dịch vụ cho NCNMT trên địa bàn Hà Nội.
- Trung tâm cai nghiện ma túy cần tích cực kết nối, huy động nguồn
lực trên địa bàn thành phố Hà Nôi
c. Giải pháp về tuyên truyền giáo dục
- Đẩy mạnh tuyên truyền xã hội hóa công tác cai nghiện ma túy .
- Tập trung tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ,
nhân dân về phương pháp và hiệu quả của ứng dụng tiến trình QLTH đối
với NCNMT.
- Nâng cao nhận thức và sự tham gia của gia đình và bản thân người
nghiện ma túy trong việc tham gia tiến trình quản lý trường hợp đối với
NCNMT.
Kết luận chương 3
Thông qua kết quả áp dụng các bước theo tiến trình Quản lý trường
hợp đối với người cai nghiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục Lao động Xã hội số V, Hà Nội cho thấy khá rõ nét những vấn đề mà thân
chủ đang gặp phải đã được giải quyết, trên cơ sở phân tích chi tiết nhu cầu
cá nhân, điểm mạnh và hạn chế của thân chủ, những yếu tố tác động vào
cuộc sống của thân chủ, kết hợp các dịch vụ trợ giúp của Trung tâm và các
dịch vụ bên ngoài, phát huy vai trò của cán bộ QLTH trong việc tìm kiếm,
giới thiệu và điều tiết các dịch vụ với vai trò biện hộ, kết thúc tiến trình
thông qua hoạt động lượng giá đã trình bày chi tiết sự thay đổi trong giải
quyết từng nhu cầu, từng vấn đề của thân chủ. Thông qua kết quả ứng
dụng, tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị và mạnh dạn đề xuất những
giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng QLTH đối với
NCNMT tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội số V


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status