BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
--------
NGUYỄN THÀNH ĐÔ
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO
Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số
: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
--------
NGUYỄN THÀNH ĐÔ
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO
Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số
thời gian học tập, nghiên cứu.
Cần Thơ, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thành Đô
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ CẦN
THƠ HIỆN NAY
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
7
7
7
1.1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao
14
1.2. Tính tất yếu của việc phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng
35
2.1.1. Thành tựu và nguyên nhân của những thành tựu trong
việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành
phố Cần Thơ hiện nay
35
2.1.2. Một số hạn chế và nguyên nhân trong công tác đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao của Thành phố Cần Thơ
52
2.2. Quan điểm chỉ đạo và những giải pháp phát triển nguồn
nhân lực chất lƣợng cao ở Thành phố Cần Thơ hiện nay
56
2.2.1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Cần Thơ về
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
56
2.2.2. Những giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao ở thành phố Cần Thơ
59
Kết luận chƣơng 2
nhân lực trở thành tài sản quý giá và là yếu tố có vai trò quyết định đến sự
tăng trưởng và phát triển của mọi quốc gia và vùng lãnh thổ. Điều này được
minh chứng qua sự thành công của mô hình tăng trưởng kinh tế của Nhật,
Singapore và một số nước khác. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan
tâm đến sự phát triển và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực ở tất cả các cấp,
các ngành và vùng miền của đất nước để phục vụ cho công cuộc phát triển đất
nước trong thời gian tới.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và tại các Hội nghị Trung
ương của mình, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Công nghiệp hóa gắn với
hiện đại hóa phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản
cho sự phát triển nhanh và bền vững… Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện
2
đời sống nhân dân; phát triển văn hóa, giáo dục. Nâng cao dân trí, đào tạo
nguồn nhân lực có chất lượng cao và đồng bộ; kết hợp đào tạo kiến thức, kĩ
năng nghề nghiệp với bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức nhằm hình thành một đội
ngũ lao động giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ; có tác phong công nghiệp, có
năng suất, chất lượng, hiệu quả cáo; có ý thức phấn đấu vì sự phồn vinh của
Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Chỉ những con người như vậy mới đáp
ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong xu thế đổi mới đất nước, thành phố Cần Thơ tuy có điều kiện tự
nhiên và con người có nhiều tiềm năng thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã
hội, song cũng có không ít những khó khăn trên bước đường phát triển. Vấn đề
đặt ra là thành phố phải có chủ trương chính sách phù hợp, nhằm phát huy cao
độ nguồn lực con người để thực hiện thắng lợi quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, Cần Thơ phấn đấu trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020.
Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của nhân tố con người trong
quá trình phát triển đất nước nói chung cũng như ở thành phố Cần Thơ nói
Nhóm đề tài nghiên cứu về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực
chất lượng cao
Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất.
Nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng l;à
nguồn lực quan trọng nhất và quyết định cho sự thành công của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghiên cứu sâu về vấn đề này, đã có
nhiều công trình của nhiều tác giả như:
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2009), Huy
động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đoàn Văn Khái (1995), Nguồn lực con người, yếu tố quyết định sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Nxb. Giáo dục.
Các tác phẩm của tác giả Phạm Minh Hạc như “Văn hóa và giáo dục Giáo dục và văn hóa”, Nxb Giáo dục, (năm 2001), “Nghiên cứu con người và
4
nguồn nhân lực”, Nxb Chính trị quốc gia (2004), “Nghiên cứu con người và
nguồn nhân lực”, Nxb Khoa học xã hội, (2004).
Đường Vinh Sường, (12/4/2012), “Giáo dục đào tạo với phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản.
Những đề tài nghiên cứu trên đã đưa ra những phân tích, luận giải về
vấn đề nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời cũng đưa
ra một số giải pháp để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của các
công trình trên là trên phạm vi toàn quốc, mang tính khái quát chung của các
tỉnh, thành trên cả nước.
Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao ở thành phố Cần Thơ hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Cần Thơ trong giai đoạn
hiện nay.
5. Giả thuyết khoa học
Đề tài nghiên cứu này nhằm chứng minh những giả thuyết khoa học sau:
- Nguồn nhân lực với 3 yếu tố quan trọng nhất là trí lực, thể lực và
nhân cách giữ vai trò quyết định sự vận động và phát triển của xã hội.
- Các yếu tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực như: trình độ
phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, trình độ phát triển khoa học,
công nghệ, kế hoạch phát triển dân số, trình độ phát triển y tế và dịch vụ chăm
sóc sức khỏe, chính sách vĩ mô của nhà nước,… có quan hệ chặt chẽ, biện
chứng với nhau, tạo thành động lực và thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những
nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích lý luận về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao và yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao ở thành phố Cần Thơ hiện nay.
- Khảo sát thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành
phố Cần Thơ hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao ở thành phố Cần Thơ hiện nay.
6
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao chủ yếu là ở thành phố Cần Thơ. Trong đó, việc khảo sát thực trạng
Chƣơng 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƢỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là một khái niệm được hình
thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét nhân tố con người với tư cách là
nguồn lực cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần có quan hệ chặt chẽ với nhau,
cùng tham gia vào quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội, nhưng mức độ tác
động và vai trò của chúng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội không giống
nhau. Trong tất cả các nguồn lực thì nguồn lực con người là quan trọng nhất
vì nó tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng, phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội. Bởi vì phải thông qua hoạt động của con người thì các
nguồn lực khác mới có thể phát huy được tác dụng, mới có thể biến tiềm năng
thành hiện thực. Chính con người đã phát hiện và sáng tạo ra những nguồn
lực mới, phát triển và phát huy ra nguồn lực tinh thần và sử dụng nó để phục
vụ con người. Hiện nay, khi nói về khái niệm nguồn nhân lực (nguồn lực con
người) thì có nhiều quan niệm khác nhau:
Theo lý luận Mác- Lênin về con người, thì nguồn nhân lực được xem
xét như một thành tố cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, là phương tiện để
phát triển kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực được coi như nhu cầu tất yếu cùng
với các nguồn lực khác cho sự phát triển đất nước. Đầu tư cho con người càng
nhiều, càng có hiệu quả và thu hồi vốn khá cao so với đầu tư vào các lĩnh vực
khác, cho nên hầu hết các nước trên thế giới đều chú trọng áp dụng phương
pháp này để phát triển kinh tế - xã hội.
8
9
Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn lực con người được
hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức
khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [42, tr.328].
Giáo sư Tiến sĩ Lê Du Phong cho rằng: “Nguồn lực con người được
hiểu là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con
người (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động của con người. Tính
thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn
con người” [28, tr.14].
Phó Giáo sư Tiến sĩ Đoàn Văn Khái cho rằng: “Nguồn nhân lực là khái
niệm dùng chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả
các đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội” [40, tr.62].
Như vậy ta thấy, do nhiều cách tiếp cận khác nhau nên đã có nhiều
quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Tuy nhiên, cho dù có quan niệm
khác nhau, song giữa các quan niệm này cũng có điểm chung thống nhất đó
là: hầu hết các tác giả đều xem Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng
và năng lực của con người được huy động vào trong quá trình lao động sản
xuất và phát triển của một quốc gia hay một địa phương.
Khi xem xét cấu trúc nguồn nhân lực trước hết phải tính đến phương
diện cá thể của nó gồm 3 yếu tố: thể lực, trí tuệ và nhân cách. Ba yếu tố này
cấu thành chất lượng cá thể của nguồn nhân lực và nó ảnh hưởng đến chất
lượng phát triển nguồn nhân lực. Trong đó, trí lực thể hiện ở trình độ dân trí,
trình độ chuyên môn là yếu tố trí tuệ, tinh thần là cái nói lên tiềm lực sáng tạo
ra các giá trị vật chất, văn hóa tinh thần của con người, vì thế, đóng vai trò
quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực.
Sau trí lực là thể lực hay thể chất, bao gồm không chỉ có sức mạnh cơ
bắp, mà còn là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, bắp thịt là sức mạnh niềm
tin và ý chí là khả năng vận động của trí lực. Thể lực là điều kiện tiên quyết
đề tài, có thể hiểu: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động xã hội của
11
một quốc gia, một địa phương với những năng lực thể chất, tinh thần, trình độ
tri thức, năng lực thực tế, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tác
phong lao động... đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải
vật chất và tinh thần thúc đẩy sự phát triển của một quốc gia.
Trong thời đại tiến bộ kỹ thuật, một nước cần và có thể đưa chất lượng
nguồn nhân lực vượt trước trình độ phát triển của cơ sở vật chất trong nước để
sẵn sàng đón nhận tiến bộ kỹ thuật - công nghệ, hòa nhập với trình độ phát
triển của nhân loại.
- Quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao
C.Mác và V.I.Lênin mặc dù không đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực
chất lượng cao nhưng đã nêu ra những quan niệm có liên quan đến nguồn nhân
lực chất lượng cao. Để nhấn mạnh đến tính hiệu quả và năng lực ứng dụng
những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào sản xuất, C.Mác đề cập đến "những
con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm nhanh
chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn” [15, tr.474], hay đưa ra quan
niệm nhân tài để chỉ nguồn nhân lực chất lượng cao “nhân tài tuyệt nhiên không
phải chỉ là một số ít, những nhân vật nhân tài, nhân vật vĩ đại mà các nhân tài
chuyên môn và công nhân, nông dân tiên tiến đều là nhân tài” [15, tr.28].
V.I.Lênin quan niệm rằng: Lực lượng nòng cốt của nguồn nhân lực chất
lượng cao là giai cấp công nhân, đó là “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn
nhân loại” [17, tr.430]. Họ là những người có trình độ lao động cao, có tính
kỷ luật, tinh thần tự giác và mang lại năng suất lao động cao.
Trong Từ điển Tiếng Việt cũng như từ điển Bách khoa Việt Nam hay
các từ điển khác, cho đến nay vẫn chưa thấy đề cập đến thuật ngữ nguồn nhân
lực chất lượng cao, mặc dù trong thực tế thuật ngữ này đã được sử dụng khá
trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao; có kỹ năng lao động giỏi và có
khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ sản
xuất; có phẩm chất tốt và có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức
những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại
năng suất, chất lượng và hiệu quả cao” [45, tr.12].
13
Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân lực chất lượng
cao là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp
nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, sử dụng có hiệu quả việc ứng dụng vào
điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào công nghiệp hóa hiện đại hóa được mở rộng theo kiểu vết dầu loang bằng cách dẫn dắt những bộ
phận có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh” [42, tr.147-148].
Bên cạnh những quan niệm nêu trên, còn có những thuật ngữ khác nói về
nguồn nhân lực chất lượng cao mang nghĩa gần gũi thường hay được sử dụng
như khi nói về người lao động có đào tạo, có trình độ, có chất lượng, trong lĩnh
vực sản xuất có hiệu quả cao. Những thuật ngữ thường gặp như: thuật ngữ
chuyên gia, nghệ nhân, công nhân lành nghề; nhà chuyên môn, bác học, nhà
khoa học, chuyên gia.
Từ những cách tiếp cận trên cho thấy, khi đề cập đến thuật ngữ nguồn
nhân lực chất lượng cao có thể hiểu nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ
phận ưu việt của nguồn nhân lực. Đó là nguồn lực lao động có khả năng đáp
ứng nhu cầu cao và có phương pháp tối ưu trong việc giải quyết vấn đề của
thực tiễn. Lực lượng này có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có
khả năng nhận thức, tiếp thu nhanh kiến thức mới; biết vận dụng sáng tạo tri
thức, kỹ năng được đào tạo và những thành tựu khoa học - công nghệ vào lao
động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Mặt khác,
đây còn là lực lượng lao động có tác phong nghề nghiệp, tính kỷ luật cao, có
tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, có ý chí tự lập, tự cường và có phẩm chất
Phát triển về số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao là sự gia tăng về
số lượng và thay đổi cơ cấu của đội ngũ nhân lực theo hướng phù hợp với môi
trường và điều kiện hoạt động mới. Sự thay đổi này diễn ra theo cơ cấu phân
bố nhân lực, cơ cấu độ tuổi, và cơ cấu về nam nữ.
Phát triển về chất lượng của nguồn nhân lực chất lượng cao là sự nâng
cao về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và sức khỏe của các
15
thành viên trong tổ chức, trong xã hội. Chỉ số phát triển con người được xem
thang đo sự phát triển nguồn nhân lực giữa các quốc gia trên thế giới.
Việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao còn được xem xét qua
việc người lao động sử dụng tri thức vào trong quá trình lao động để đạt hiệu
quả cao nhất.
Để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới thì cần phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao, và khi phát triển nguồn nhân lực này cần chú
ý đến những điều kiện như về chủ thể nguồn nhân lực, các yếu tố bên ngoài
chủ thể đang tác động đến chủ thể nguồn nhân lực đó như công tác tổ chức,
đào tạo, yếu tố văn hóa - xã hội và cùng với các chính sách của nhà nước. Về
chủ thể nguồn nhân lực đó là trình độ kiến thức, năng lực, kỹ năng, sự sáng
tạo... của chủ thể nguồn nhân lực. Chủ thể nguồn nhân lực có động lực, có
hứng thú với việc nâng cao trình độ, kỹ năng của mình chắc chắn sẽ ảnh
hưởng tốt tới việc học tập và rèn luyện các kỹ năng cũng như nâng cao trình
độ chuyên môn. Khả năng phát triển của người lao động được thể hiện thông
qua việc người đó có thể được tiếp tục phát triển các kỹ năng, năng lực cũng
như có thể mở rộng tầm kiến thức về công việc của tổ chức hay không. Về
những yếu tố bên ngoài chủ thể nguồn nhân như: công tác đào tạo, về tổ chức
và về văn hóa- xã hội.
Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực chính là việc thực hiện các chức
của phương thức sản xuất mới ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế. Vì
thế, muốn phát triển đất nước bền vững không thể không chăm lo phát triển
con người. Đảng ta xác định: “con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự phát triển”. Nguồn lực cơ bản, to lớn, quyết định này phải có hàm lượng trí
tuệ, phẩm chất ngày một cao mới có thể đáp ứng được sự nghiệp công nghiệp
hóa - hiện đại hóa. Đại hội VIII nêu rõ: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát
huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi
của công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa” [34, tr.102].
17
Từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, thực hiện chiến
lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Trung ương Đảng đã ban hành
nhiều nghị quyết về các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến việc chăm sóc, bồi
dưỡng và phát huy nhân tố con người. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
(12-1996) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong thời kỳ
công nghiệp hóa - hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 khẳng định: “Lấy
việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và
bền vững” [34, tr.203]. Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục là xây dựng những
thế hệ con người thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội. Nghị quyết xác định: phát triển nguồn nhân lực phải là trách nhiệm của
Đảng, Nhà nước và toàn xã hội được thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong
đó giáo dục và đào tạo là then chốt, là quốc sách hàng đầu; phát triển giáo dục,
đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học - công
nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh...Chú trọng phát triển nguồn lực con
người một cách toàn diện về cả trí tuệ, sức khỏe, đạo đức, thái độ…Những
quan điểm, chủ trương của Đảng đã được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính
sách, chương trình, dự án nhằm thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực.
vóc con người Việt Nam” [38, tr.201].
Đảng ta nêu rõ 4 định hướng chiến lược về phát triển nguồn nhân lực
trong thời kỳ hội nhập: gắn phát triển nguồn nhân lực với việc đẩy nhanh tốc
độ phát triển kinh tế - xã hội; gắn việc phát triển nguồn nhân lực với quá trình
dân chủ hóa, nhân văn hóa đời sống xã hội, khai thác có hiệu quả các giá trị
văn hóa truyền thống và hiện đại; nâng cao chất lượng sử dụng đội ngũ cán bộ
khoa học, công nghệ; có chiến lược phát triển con người trên cơ sở một hệ
thống chính sách đồng bộ hướng tới con người vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của sự phát triển. Giải quyết tốt các vấn đề này sẽ tạo được yếu tố nội sinh
của nguồn nhân lực, cơ sở bền vững cho phát triển và hội nhập. Trong đó,
một trong vấn đề then chốt được Đảng nêu ra là: “Đổi mới chính sách đào tạo,
sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài, kể cả người Việt
19
Nam ở nước ngoài” [36, tr.98]. Nghị quyết khẳng định: Việt Nam chỉ có thể
đi tắt đón đầu sự phát triển trên thế giới trong thời kỳ hội nhập bằng cách đầu
tư vào yếu tố con người.
Đại hội XI (2011) kế thừa và phát triển quan điểm phát triển nguồn nhân
lực từ các đại hội trước, đã nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [38, tr.122]. Để đạt
được mục tiêu đó Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó
“Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao” được khẳng định là khâu đột phá thứ hai” [38, tr.141]. Đây được xem là
khâu đột phá đúng và trúng với hoàn cảnh nguồn nhân lực nước ta hiện nay
khi hội nhập quốc tế, cạnh tranh quyết liệt và đòi hỏi của thời đại khoa học,
công nghệ.
Vì thế, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời cũng xác
định rõ phải “gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và