LUẬN án TIẾN sĩ THỰC THI QUYỀN lực CHÍNH TRỊ của NHÂN dân LAO ĐỘNG TRONG TIẾN TRÌNH đổi mới hệ THỐNG CHÍNH TRỊ của nước TA HIỆN NAY - Pdf 42

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp bách của đề tài nghiên cứu
Quá trình xây dựng CNXH là quá trình thiết định một chế độ xã hội
có khả năng mang lại quyền dân chủ chân chính của nhân dân, trước hết là
nhân dân lao động. Bởi vậy, ngay từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới,
Đảng ta đã xem việc từng bước hình thành nền dân chủ XHCN vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của toàn bộ quá trình đổi mới.
Việc hiện thực hóa quan điểm chỉ đạo đó đã mang lại những thắng
lợi đáng kể: kinh tế tăng trưởng nhanh; ổn định chính trị được giữ vững;
nhiều quan hệ xã hội lành mạnh từng bước được xác lập... Kết quả tổng hợp
của toàn bộ những thay đổi tích cực đó là đất nước đã ra khỏi tình trạng
khủng hoảng về kinh tế- xã hội, những tiền đề để chuyển sang giai đoạn đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã được tạo ra.
Trong khi khẳng định những thành quả to lớn trên đây, chúng ta
cũng thấy rằng con đường tiến lên của quá trình đổi mới không bằng phẳng
và đồng đều trên mọi lĩnh vực. Xét riêng trên lĩnh vực chính trị, Hội nghị
lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VIII của Đảng, một mặt, đã
khẳng định rằng dân chủ trên lĩnh vực chính trị có bước tiến quan trọng;
mặt khác, cũng thấy rõ tình trạng quan liêu còn nghiêm trọng, việc phát huy
quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình tham gia xây dựng chính
quyền, giám sát hoạt động của cán bộ, công chức của nhà nước cũng như tự
bản thân nhân dân thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân; sống, làm việc theo
Hiến pháp, pháp luật... còn nhiều hạn chế.
Tình hình đó có nguy cơ tăng lên dưới tác động của những mặt trái
thuộc cơ chế thị trường. Bên cạnh mặt tích cực là cơ bản, mà chính vì vậy
chúng ta sử dụng như một đòn xeo để thực hiện bước quá độ lên CNXH,
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, cơ chế thị trường cũng dễ sản sinh ra lớp

1



thời kỳ đổi mới, trong đó có nhiều công trình đã được xuất bản, như: "Tổng
quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta:
quan điểm, lý luận và phương pháp nghiên cứu" của PGS.TS Hoàng Chí
Bảo, Tạp chí Thông tin Lý luận, 9/1992; "Quyền lực một phạm trù cơ bản
của chính trị học" của GS.TS Phạm Ngọc Quang, Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, 4/1992; "Vấn đề quyền lực và cơ chế thực hiện quyền lực trong
thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta" của GS.TS Phạm Ngọc Quang, Tạp chí
Nghiên cứu Lý luận, 1/1993; "Những luận điểm của Lênin về chính trị và
vấn đề dân chủ hóa chính trị ở nước ta" của TS. Ngô Hữu Thảo, Tạp chí
Triết học, 3/1990; "Mấy vấn đề dân chủ trong hệ thống chính trị ở nước ta
dưới góc độ quan hệ giữa các lợi ích" của PGS.TS Nguyễn Đức Bách, Tạp
chí Nghiên cứu Lý luận, 5/1991; "Vấn đề dân chủ hóa ở Việt Nam trong
chặng đầu của thời kỳ quá độ" của GS.TS Trịnh Quốc Tuấn, Tạp chí
Nghiên cứu Lý luận, 5/1990; "Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền ở
nước ta" của GS.TS Nguyễn Duy Quý, Tạp chí Cộng sản, 4/1992; "Vấn đề
đổi mới hệ thống chính trị trước yêu cầu phát triển của dân tộc" của GS.TS
Trần Ngọc Hiên, Tạp chí Nghiên cứu Lý luận, 6/1994; "Dân chủ hóa xã hội
theo định hướng xã hội chủ nghĩa" của PGS.TS Dương Xuân Ngọc, Tạp chí
Thông tin Lý luận, 2/1996; "Suy nghĩ thêm về quyền lực chính trị như một
phạm trù khoa học" của PGS. Bùi Thanh Quất, Tạp chí Triết học, 5/1996;...
Ngoài những công trình khoa học của cá nhân, vấn đề dân chủ nói
chung, dân chủ trên lĩnh vực chính trị nói riêng cũng đã trở thành đối tượng
nghiên cứu của một số chương trình khoa học cấp nhà nước, cấp bộ. Chẳng
hạn, trong chương trình nghiên cứu cấp nhà nước mang mã số KX.05 "Hệ
thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta" (do
GS. Nguyễn Đức Bình làm chủ nhiệm) có các nhánh đề tài: "Cơ chế thực
hiện dân chủ trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay", mã số KX.05.05;
"Đặc điểm, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng trong hệ thống
3


5


- Làm sáng tỏ hiện trạng thực thi quyền lực chính trị của nhân dân
lao động ở nước ta trong hơn 10 năm đổi mới vừa qua; xác định nguyên
nhân những hạn chế của việc thực thi quyền lực đó.
- Xác định một số giải pháp quan trọng nhất để nâng cao hiệu quả
thực thi quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Những giải pháp đó
được nghiên cứu trong tính đồng bộ và tính hệ thống của chúng, làm cho
chúng trở thành những nhân tố trong cấu trúc phát triển các giá trị quyền lực
chính trị của nhân dân theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án góp phần làm sáng tỏ quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về việc thực thi quyền lực chính
trị của nhân dân lao động trong tiến trình đổi mới ở nước ta hiện nay. Vì
vậy, luận án có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức cũng như trong việc
thực thi quyền lực chính trị của nhân dân ở nước ta.
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác
nghiên cứu, giảng dạy lý luận về dân chủ XHCN, về nhà nước trong các
chương trình triết học, CNXH khoa học ở các trường chính trị và đại học,
cao đẳng.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3 chương, 9 mục, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục.

6


7



8


quyền lực là buộc người khác phải phục tùng. Còn nhà chính trị học Mỹ
khác - Lê-bít Líp-sơn xem quyền lực là khả năng đạt tới kết quả nhờ một
hành động phối hợp.
Nêu lên một định nghĩa có tính xác định hơn, các tác giả cuốn Bách
khoa Triết học của Liên Xô trước đây cho rằng: quyền lực là khả năng thực
hiện ý chí của mình có tác động đến hành vi, tới phẩm hạnh của người khác
nhờ một phương tiện nào đó như uy tín, quyền hành, nhà nước, sức mạnh ...
[Xem: 100, 11].
Trong số các công trình nghiên cứu ở nước ta về phạm trù này, đáng
lưu ý nhất là quan niệm của GS.TS Phạm Ngọc Quang, tác giả cho rằng:
"Với nghĩa chung nhất, quyền lực là cái mà nhờ đó người khác phải phục
tùng. Trong ý nghĩa như vậy, quyền lực ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời
và tồn tại của con người. Bởi vì, hoạt động phối hợp, hoạt động chung mang
tính cộng đồng là cái vốn có trong hoạt động của con người. Bất kỳ hoạt
động chung nào cũng cần có người tổ chức, người chỉ huy và những kẻ
phục tùng - cái vốn có tạo thành nội dung sơ khai cũng như nội dung hiện
đại của phạm trù quyền lực" [100, 11].
Tiếp cận với khái niệm này theo lối chiết tự, PGS. Bùi Thanh Quất
cho rằng: có thể coi quyền lực là một khái niệm kép, bao gồm quyền và lực
(sức mạnh). "Lực" là khái niệm dùng để chỉ một thuộc tính của bất kỳ hệ
vật chất nào, xét trong tương tác với hệ vật chất khác, có khả năng duy trì
sự tồn tại và tạo ra sự biến đổi. Vì thế, lực là cái vốn có trong mỗi hệ vật
chất, nhưng lại hiện hình trong tương tác, dù hệ vật chất ấy có quy mô lớn
nhỏ bất kỳ. Các cộng đồng người với những quy mô khác nhau trong xã hội
cũng là những kết cấu vật chất xác định, do vậy, cũng tiềm ẩn các lực nhất
định. "Quyền" là một khái niệm chỉ mối quan hệ có tính xã hội giữa người
với người, trong đó con người ý thức tới nhu cầu của mình rằng những nhu

được mục tiêu nhờ hoạt động phối hợp.
Ba là, việc nắm vững và sử dụng mối quan hệ đó sẽ cho phép chủ
thể có tác động tới hành vi, tới phẩm hạnh của người khác.
10


Như vậy, quyền lực là một quan hệ xã hội, trong đó cá nhân hay tổ
chức được quyền sử dụng sức mạnh nhằm thực hiện lợi ích khách quan của
mình trên cơ sở sự phục tùng (thừa nhận) của cá nhân hay tổ chức khác.
Quyền lực, như trên đã đề cập, là một loại quan hệ xã hội. Do vậy,
"quyền lực" và "quan hệ quyền lực" là những phạm trù cùng loại.
Đặc trưng tiêu biểu của quyền lực với tư cách là một mối quan hệ xã
hội là sự phục tùng, sự điều khiển và bị điều khiển, là sự tôn trọng và kính
nể... Quyền lực của người lãnh đạo, người quản lý; quyền lực của cha mẹ
đối với con cái; quyền lực của chuyên gia một ngành, một lĩnh vực khoa
học khi phán xét một công trình khoa học trong ngành, trong lĩnh vực tương
ứng; sự tôn phục trước một con người có phẩm chất đạo đức cao... là những
thí dụ cho những đặc trưng như vậy.
Khi hiểu quyền lực với một nội dung phong phú như vậy, chúng ta
có thể thấy rằng quyền lực ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của
con người. Tất nhiên, trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, nội dung và tính
phong phú của quyền lực cũng không như nhau.
Đã là một thành viên trong cộng đồng xã hội, không ai có thể tồn tại
bên ngoài sự chi phối của quyền lực, trái lại, mỗi người đều tồn tại trong sự
chi phối của vô vàn quan hệ quyền lực. Mặt khác, người đó cũng có thể là
chủ thể của nhiều loại quyền lực.
Mối quan hệ giữa người với người không ngừng thay đổi, do vậy,
quan hệ quyền lực cũng không cố định. Xét từ giác độ này hay trong thời
điểm này, người đó là người chi phối; nhưng xét từ giác độ khác, trong thời
điểm khác, người đó có thể trở thành người bị chi phối.

lại là điều kiện cần thiết để tiến tới một quan niệm đúng đắn về phạm trù
"quyền lực chính trị".
Trong tác phẩm: "Chính trị" của mình, Pla-tôn xem chính trị là
"nghệ thuật cung đình liên kết trực tiếp các chuẩn mực của người anh hùng

12


và sự thông minh; sự liên kết của họ được thực hiện bằng sự thống nhất tư
tưởng và tinh thần hữu ái" [98, 82].
Mác Vây-be lại xem "chính trị" là khát vọng tham gia vào quyền lực
hay ảnh hưởng tới sự phân chia quyền lực giữa các quốc gia, bên trong quốc
gia, giữa các tập đoàn người trong một quốc gia.
Đứng vững trên quan điểm duy vật về lịch sử, V.I. Lênin cho rằng
chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp; là sự tham gia của nhân dân vào
công việc nhà nước và xã hội, vào định hướng hoạt động của nhà nước...
Khi nêu lên nhân tố quy định bản chất của chính trị, V.I. Lênin cho
rằng: "Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế". Khi nhấn mạnh tính
năng động của chính trị đối với kinh tế, V.I.Lênin viết: "Chính trị không thể
không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế" [55, 349].
Từ hiện thực đa dạng và phức tạp của chính trị như một hiện thực
trong xã hội có giai cấp, chúng ta có thể đi tới một quan niệm tổng quát sau
đây về chính trị: Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc,
các quốc gia trong vấn đề giành, giữ, sử dụng quyền lực nhà nước; là
những mục tiêu được quy định bởi lợi ích cơ bản của các giai cấp, các
đảng phái; là hoạt động thực tiễn chính trị của các giai cấp, các đảng
phái, các nhà nước để thực hiện đường lối đã lựa chọn nhằm đi tới mục
tiêu đã đặt ra.
Quan niệm vừa nêu về chính trị quy định cách hiểu phạm trù "quyền
lực chính trị". Nói một cách chung nhất, quyền lực chính trị là quyền được

chính trị mới đại diện cho phương thức sản xuất mới với lực lượng chính trị
cũ đại diện cho phương thức sản xuất lạc hậu nhưng còn nắm quyền thống
trị. Do xu hướng tất yếu của nó, lực lượng chính trị mới với yêu cầu quyền
lực chính trị tương ứng sớm hay muộn sẽ vươn lên tự khẳng định mình về
mặt nhà nước. Khi đó, quyền lực chính trị của lực lượng xã hội mới với tư
cách là đại diện cho một giai cấp sẽ được xác lập.
Khi một chủ thể chính trị chưa có đủ sức mạnh để khẳng định quyền
lực chính trị của mình, chủ thể đó vẫn ngấm ngầm hoặc công khai dùng sức

14


mạnh nhằm đạt tới sự khẳng định đó. Kết cục, khát vọng đó hoặc bị quyền
lực chính trị của giai cấp cầm quyền loại bỏ, hoặc là sẽ buộc lực lượng
chính trị cầm quyền phải thừa nhận về mặt nhà nước.
Do đó, trong chế độ xã hội có đối kháng giai cấp luôn tồn tại hai loại
quyền lực chính trị thuộc hai chủ thể chính trị đối lập nhau: quyền lực chính
trị của giai cấp cầm quyền (thống trị) và quyền lực chính trị (hay khát vọng
quyền lực chính trị) của giai cấp, tầng lớp không cầm quyền.
Giai cấp thống trị tổ chức ra bộ máy nhà nước và sử dụng sức mạnh
của bộ máy đó để thực thi ý chí, lợi ích của mình. Khi ấy, quyền lực chính
trị của giai cấp thống trị trở thành quyền lực nhà nước. Do đó, xét về bản
chất, quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị của giai cấp thống trị. Nó
được thực hiện bằng cả một hệ thống chuyên chính do giai cấp đó lập ra.
Nhờ hệ thống đó, giai cấp thống trị có khả năng vận dụng các công cụ bạo
lực của nhà nước để buộc các giai cấp, tầng lớp xã hội phục tùng ý chí của
giai cấp thống trị trong việc tổ chức xã hội như một chỉnh thể.
Các giai cấp và tầng lớp không nắm quyền thống trị dùng sức mạnh
chính trị của mình để chống lại hay đòi giai cấp thống trị phải thay đổi trật
tự xã hội, thay đổi các chính sách đã ban hành cho phù hợp với lợi ích của

khác, pháp luật là công cụ tạo môi trường, hành lang mang tính chất xã hội
hợp pháp rộng rãi cho các chủ thể quyền lực biết được điều cho phép và
cấm làm. Do đó, quyền lực chính trị đúng đắn, phù hợp quy luật khách quan
sẽ có ý nghĩa động lực tích cực của sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhân văn.
Ba là, trong khi khẳng định quá trình phát triển của xã hội loài
người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, C. Mác và V.I. Lênin đã chỉ ra
rằng người ta có thể "rút ngắn" quá trình ấy, có thể làm giảm bớt những
"cơn đau đẻ" của quá trình ấy, nhưng không thể bỏ qua quá trình ấy.
Nhân tố để thực hiện "cái có thể" đó cũng đã được C. Mác và
V.I.Lênin chỉ ra, đó là vai trò của quyền lực chính trị, của thượng tầng kiến
16


trúc đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội - nhân văn với tư cách là
những nhân tố xã hội có khả năng nhận thức ra quá trình ấy và tổ chức thực
hiện quá trình rút ngắn ấy. Trong cách mạng XHCN, lực lượng đó là Đảng
và Nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Điều này cho
thấy vai trò tích cực của quyền lực chính trị đối với quyền lực trên các lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, xã hội - nhân văn.
Trong lịch sử cũng như ở thời đương đại, sự phát triển của kinh tế,
văn hóa, xã hội - nhân văn vẫn không vượt ra khỏi vai trò điều tiết của nhà
nước với tư cách tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp thống trị. Đối với
các nước tư bản, điều đó đã và đang như vậy. Đối với nước ta, vai trò của
Đảng và nhà nước với tư cách tổ chức quyền lực chính trị của nhân dân lại
càng có ý nghĩa tiên quyết. Nếu không có vai trò của Đảng Cộng sản và nhà
nước của dân, do dân, vì dân thì không thể nào thực hiện được các quyền
lực khác trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
1.1.3. Quyền lực chính trị qua một số thời kỳ lịch sử trước CNXH
Ở các xã hội có giai cấp khác nhau, sự biến đổi của cơ sở kinh tế và,
cùng với nó, sự biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp làm cho vị trí lịch sử,

hệ thống quyền lực nhà nước cũng thay đổi. Trong giai đoạn cát cứ phong
kiến, quyền lực nhà nước thuộc các lãnh chúa. Mỗi lãnh địa, mỗi điền trang,
thái ấp... đều có quyền lực riêng của lãnh chúa tương ứng. Sự phân tán
quyền lực, do đó, trở thành một đặc trưng. Ở giai đoạn Trung ương tập
quyền, hệ thống quyền lực nhà nước của phong kiến được tổ chức thành
một hệ thống thống nhất với sự đứng đầu của Vua, có một đội quân thường
trực mạnh để bảo vệ ngai vàng.
Nét điển hình của hệ thống quyền lực chính trị thuộc giai cấp cầm
quyền trong xã hội phong kiến là sự kết hợp chặt chẽ giữa quyền lực thế tục
(tức quyền lực nhà nước) với thần quyền (quyền lực của tôn giáo) nhằm
củng cố và tăng cường quyền lực của vua chúa phong kiến.
Dù là phân tán hay tập trung, hệ thống quyền lực nhà nước trong xã
hội phong kiến đều mang tính đẳng cấp rõ rệt.
Do tính chuyên quyền độc đoán của giai cấp chủ nô và giai cấp địa
chủ phong kiến, nhân dân - những người bị áp bức bóc lột - hầu như bị mất
hoàn toàn tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước.

20


Sự ra đời của chế độ TBCN cũng là sự ra đời của một hệ thống
quyền lực nhà nước mới- hệ thống quyền lực chính trị của giai cấp tư sản
cầm quyền.
Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp và sự thay đổi của các
quan hệ kinh tế tương ứng, CNTB cũng trải qua những giai đoạn khác nhau
với những hình thức tổ chức quyền lực khác nhau.
Trong thời kỳ giai cấp tư sản còn mang tính cách mạng, hệ thống
quyền lực nhà nước tư sản được xác lập bằng các thể chế dân chủ tương
ứng. Các nghị viện tư sản ra đời, quyền tự do dân chủ của công dân được
ghi nhận trong hầu hết các Hiến pháp của nhà nước tư sản. Các đảng phái,

khác nhau của sự phát triển tiến bộ xã hội. Đề cập tới vấn đề này từ góc độ
chung hơn, C.Mác viết: "Chỉ nhân danh quyền lợi chung của xã hội thì một
giai cấp cá biệt mới có thể đòi hỏi sự thống trị phổ biến được" [61, 585].
- Giai cấp công nhân giành lấy quyền lực nhà nước không phải là
mục đích cuối cùng như các giai cấp bóc lột trong lịch sử. Cách mạng XHCN
là một cuộc cách mạng toàn diện và triệt để nhất trong lịch sử. Việc lật đổ
chính quyền của giai cấp bóc lột và thiết lập chính quyền của giai cấp công
nhân, của nhân dân lao động chỉ là bước mở đầu của một cuộc cách mạng về
quyền lực. Một hệ thống quyền lực mới về chất ra đời. ở đó, có một nhà nước
đặc biệt, nó không còn là nhà nước "đúng nghĩa của nó nữa" - tức là nhà nước
chính trị chỉ chuyên làm công tác cai trị, mà là nhà nước "nửa nhà nước"
(V.I. Lênin). Đó là kiểu nhà nước quá độ để đi đến xã hội không còn giai cấp,
không còn nhà nước. Về điều này, C.Mác đã viết trong thư gửi Vây-đơ-mai-ơ
năm 1852 như sau: "2) đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô
sản; 3) bản thân nền chuyên chính này chỉ là sự quá độ tiến tới xóa bỏ mọi
giai cấp và tới xã hội không có giai cấp" [65, 810]. Tiếp tục tư tưởng đó của
C.Mác, năm 1872 Ph.Ăngghen cho rằng: "Giai cấp vô sản chiếm lấy chính
quyền nhà nước và biến tư liệu sản xuất trước hết thành sở hữu nhà nước.
Nhưng chính do đó, giai cấp vô sản cũng tự xóa bỏ tính cách vô sản của nó,
nó xóa bỏ mọi sự phân biệt giai cấp và mọi đối kháng giai cấp, và cũng xóa
bỏ nhà nước với tư cách là nhà nước" [68, 326]. Đến năm 1917, trong tác
phẩm "Nhà nước và cách mạng", V.I.Lênin làm sáng tỏ hơn nữa tư tưởng
trên đây của C.Mác, Ph.Ăngghen. Ông cho rằng nhà nước kiểu mới đó ra

24


đời khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền, mà
hình thức tổ chức của nó là: "... Nhà nước kiểu tư sản nhưng không có giai
cấp tư sản!" [49, 121].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status