LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN kỹ NĂNG TUYÊN TRUYỀN CHO cán bộ TUYÊN GIÁO THÀNH PHỐ hải PHÒNG - Pdf 42

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ

Viết tắt

Ban Tuyên giáo Thành ủy

BTGTU

Cán bộ tuyên giáo

CBTG

Cán bộ đảng viên

CB, ĐV

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNH, HĐH

Đảng Cộng sản Việt Nam

ĐCSVN

Điểm trung bình

ĐTB

Hoạt động tuyên truyền


13

thành phố Hải Phòng
1.4. Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới kĩ năng tuyên truyền

29

của cán bộ tuyên giáo thành phố Hải Phòng

34

Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP TÂM LÝ-XÃ HỘI PHÁT
TRIỂN KĨ NĂNG TUYÊN TRUYỀN CHO CÁN BỘ
TUYÊN GIÁO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

45

2.1. Thực trạng kĩ năng tuyên truyền và các yếu tố ảnh hưởng
tới kỹ năng tuyên truyền của cán bộ tuyên giáo Thành phố
Hải Phòng
2.2. Biện pháp tâm lý-xã hội phát triển kĩ năng tuyên truyền cho
cán bộ tuyên giáo Thành phố Hải Phòng
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

45
68
83
86

3


nghiệm công tác… hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị được giao. Thực tế
cho thấy vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ làm CTTG của thành phố
trong công tác, sinh hoạt còn bộc lộ những hạn chế từ cách tư duy đến cách
làm việc. Năng lực tư duy, lý luận chính trị, KNTT còn lạc hậu so với sự phát
triển của thực tiễn... Điều đó đã làm ảnh hưởng tới công tác tư tưởng, tuyên
truyền vận động cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân trong việc thực
hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
cũng như các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng.
Nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong cách tư duy, cách làm
việc, góp phần xây dựng phong cách làm việc khoa học, sáng tạo, hiệu quả
của cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và hội
nhập quốc tế hiện nay. Mỗi cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ báo cáo viên các
cấp của thành phố cần phấn đấu nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận,
đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ để phát triển KNTT nhằm thực hiện hiệu quả
các nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa quan trọng được Đảng giao phó.
Hiện nay, với sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thì việc phát
triển KNTT của đội ngũ CBTG nhằm tiếp tục phát huy những thành quả của
công tác tư tưởng và đấu tranh với những thủ đoạn “diễn biến hòa bình” là
tính tất yếu và cấp thiết, mang tính cấp bách và chiến lược lâu dài. Đồng thời,
phát triển KNTT cho đội ngũ CBTG góp phần nâng cao chất lượng nguồn lực
con người, hướng tới “phát triển nhanh, bền vững” của thành phố. Trước mắt
góp phần tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp và Kết Luận 72
- KL/TW của Bộ chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 32 - NQ/TW của
Bộ Chính trị “về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Trong thời gian qua đã có không ít công trình nghiên cứu về tuyên truyền ở
các khía cạnh khác nhau, tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu

Ở trong nước, từ cuối những năm 80 thế kỷ XX, đã xuất hiện những
nghiên cứu đầu tiên về kỹ năng, tiêu biểu như công trình: “Người thầy giáo
5


trong sự nghiệp phát triển giáo dục” của nhóm tác giả Nguyễn Quang Uẩn,
Ngô Công Hoàn, Nguyễn Cương và Dương Xuân Trinh, Người thày giáo
trong sự nghiệp phát triển giáo dục, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước
(1987 - 1991), Đại học Sư phạm, [50]; Các công trình nghiên cứu về “kỹ năng
giao tiếp sư phạm của sinh viên” của Hoàng Thị Anh (1992), Luận án tiến sĩ,
Đại học Sư phạm Hà Nội [2].
Về HĐTT cũng có nhiều công trình nghiên cứu, tiếp cận ở các hướng
khác nhau:
- Hướng tập trung nghiên cứu về bản chất của tuyên truyền, vạch rõ cơ
sở tâm lý của HĐTT, bao gồm các tác giả như Phạm Minh Hạc (2001), Về
phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, [13]; Nguyễn Quang Uẩn, Mạc Văn Trang,
Nguyễn Thạc (1995), Giá trị, định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị.
Nxb Giáo dục, Hà Nội [36].
- Hướng tập trung nghiên cứu làm rõ những yêu cầu dưới góc độ tâm lý
học của HĐTT, luận giải các biện pháp nhằm tạo ra hiệu quả cho các hoạt
động tuyên truyền. Hướng này có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như: Hoàng
Thị Anh [2]... tập trung nghiên cứu làm rõ những quy luật tâm lý được hình
thành và tác động trong quá trình tuyên truyền, những yêu cầu dưới góc độ
tâm lý học nhằm tạo ra hiệu quả cho tuyên truyền.
Ngoài ra còn có các tác phẩm viết về tuyên truyền dưới góc độ tiếp cận
nghề nghiệp như:“Tuyên truyền miệng, lý luận, tổ chức và phương pháp”
(1983), Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội [47]; “Nguyên lý công tác
tư tưởng - tập 1 (1998), Nxb CTQG, Hà Nội [38] ...
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

lãnh đạo, quản lí các cấp với hoạt động tuyên truyền..... Nếu làm rõ được biểu
hiện các loại KNTT, các yếu tố ảnh hưởng đến KNTT của CBTG, đánh giá
đúng thực trạng KNTT của CBTG thì sẽ tìm ra cơ sở khoa học cho việc xác
định những biện pháp phát triển KNTT cho CBTG, góp phần nâng cao hiệu
quả HĐTT ở Thành phố Hải Phòng hiện nay.
7


6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở phương pháp luận
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của ĐCSVN về tuyên truyền và
KNTT; đồng thời đề tài còn dựa vào các nguyên tắc phương pháp luận của
tâm lí học Mác xít như: nguyên tắc quyết định luận duy vật các hiện tượng
tâm lí, nguyên tắc thống nhất giữa tâm lí-ý thức và hoạt động, nguyên tắc phát
triển và nguyên tắc tiếp cận nhân cách.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của TLH:
Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các hoạt động tuyên truyền
của CBTG để bổ sung vào các nhận định, đánh giá thực trạng.
Phương pháp toạ đàm, phỏng vấn: Tiến hành tọa đàm, phỏng vấn với
các đồng chí CBTG có nhiều kinh nghiệm trong HĐTT, cán bộ lãnh đạo, quản
lí cấp thành phố, quận, huyện về các nội dung liên quan tới đề tài.
Phương pháp điều tra bằng phiếu: Tiến hành lập phiếu trưng cầu ý
kiến các khách thể về các biểu hiện KNTT, yếu tố ảnh hưởng đến KNTT
và các biện pháp đã sử dụng để phát triển KNTT cho CBTG ở Thành phố
Hải Phòng.
Phương pháp phân tích kết quả hoạt động: Căn cứ vào kết quả của
HĐTT để phân tích, đánh giá mức độ đạt được các KNTT của CBTG.
Phương pháp nghiên cứu các tài liệu độc lập: Thông qua các tài liệu

1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
Đảng Cộng Sản Việt Nam về tuyên truyền
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tuyên truyền
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì tuyên truyền là nhằm
giáo dục, huấn luyện quần chúng, làm cho quần chúng giác ngộ, có ý chí quyết
tâm thực hiện được công việc lâu dài, gian khó là phá bỏ tất cả những cản trở
của chế độ cũ, xây dựng một chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn, vì thế HĐTT cần
thiết và quan trọng với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản. Trong thư gửi
L.Cughen-man, C.Mác đã khẳng định: Công tác tuyên truyền có ảnh hưởng
trực tiếp đến gia cấp vô sản Anh và có một tầm quan trọng rất to lớn. Để tuyên
truyền thành công, cần xuất phát từ thực tế, cần phải biết “đánh thức lý tính”
trong con người và biết tránh căn bệnh hình thức chủ nghĩa”.
Theo V.I.Lênin, tuyên truyền phải được coi là một trong những nhiệm
vụ lớn lao của giai cấp vô sản nhằm thức tỉnh mọi tầng lớp quần chúng nhân
dân trong xã hội. Muốn tuyên truyền thành công, người đi tuyên truyền phải
có KNTT mà trước hết là có trình độ tri thức, có nghệ thuật sáng tạo, có nội
dung sát hợp và có khả năng vận dụng linh hoạt, “phải biết cách làm công tác
tuyền truyền sao cho dễ tiếp thu nhất, dễ hiểu nhất, rõ ràng nhất và sinh động
nhất cả đối với phố thợ thuyền, nhà máy lẫn đối với vùng nông thôn” [48,
tr.177]. V.I.Lênin đã nhắc nhở những người làm tuyên truyền: “Hãy bớt lải
nhải về chính trị, mà quan tâm hơn nữa đến những sự việc bình thường nhất
nhưng sinh động, rút ra trong đời sống kiểm nghiệm” [20, tr.15].
Như vậy, các nhà kinh điển Mác xít tuy không đề cập trực tiếp đến
KNTT những đã chỉ ra những yêu cầu cơ bản đối với cán bộ tuyên truyền là:
Phải có tri thức (nắm vững lý luận cách mạng, đường lối, chủ trương
của đảng lãnh đạo; có kiến thức toàn diện vững chắc).
10


Linh hoạt mềm dẻo, sáng tạo, đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của mọi tầng


cách tuyên truyền của nhân dân, vì cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt
bát, rất thiết thực mà lại rất đơn giản.
Trong hoạt động tuyên truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường rất coi
trọng việc nêu gương người tốt, việc tốt trong cán bộ đảng viên, quần chúng,
những nhân tố tích cực ở cơ sở để giáo dục. Người nói “một tấm gương sống
còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
* Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tuyên truyền
ĐCSVN ngay từ khi mới thành lập đã nhận thức rõ tầm quan trọng của
công tác tuyên truyền, coi đây là vũ khí sắc bén, là bộ phận xung kích trong
sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trong “án quyết Trung ương toàn thể hội
nghị lần thứ 2”, ngày 02/3/1931 ĐCSVN đã xác định “Sự cổ động, tuyên
truyền là rất quan trọng cho Đảng trong cuộc đấu tranh để thu phục quần
chúng, để thu phục đại đa số thợ thuyền và lãnh đạo giai cấp đấu tranh”. Ngày
01/8/1931, Đảng đã có văn bản của Ban cổ động và tuyên truyền về việc tổ
chức tuyên truyền cho ngày quốc tế đỏ (ngày 01/8 được lấy làm ngày truyền
thống của ngành tư tưởng văn hoá).
ĐCSVN luôn coi trọng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực nói chung, đội
ngũ cán bộ tuyên truyền nói riêng, coi đây là một trong những yếu tố có vai
trò quyết định đến thành bại của sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đại hội
XII của Đảng khẳng định, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao
hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả công tác tư tưởng; đẩy
mạnh tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp
với từng đối tượng theo hướng thiết thực, hiệu quả. Đặc biệt, có nội dung
quan trọng trong xây dựng Đảng về tư tưởng, Đảng ta tiếp tục dành mối quan
tâm rất lớn là phải đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng,
đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những
biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây là vấn đề hệ trọng liên quan
trực tiếp tới vận mệnh của Đảng và sự an nguy của chế độ.

V.A.Cruchetxki cho rằng: kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đã
được con người nắm vững, theo ông, chỉ cần vững phương thức hành động là
con người đã có kỹ năng, không cần tính đến kết quả của hành động [6, tr.40].
13


A.G.Covaliov quan niệm: kỹ năng là phương thức thực hiện hành động
thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động. Theo ông, kết quả
hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả là năng lực
của con người, chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động thì
đem lại kết quả tương ứng. Khi phân tích con đường hình thành, hoàn thiện và
phát triển năng lực của con người, A.G.Covaliov cho rằng: “dạy học và giáo
dục có vai trò đặc biệt giúp rút ngắn thời gian hình thành và phát triển năng
lực” [6, tr.122].
Một số tác giả như: K.K.Platonov và A.I.Piscunov ... khi nghiên cứu kỹ
năng lại chú ý tới mặt kết quả của hành động. Theo các ông, kỹ năng là năng
lực của con người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết
trong những điều kiện và những khoảng thời gian tương ứng. Các ông cũng chỉ
ra rằng bất kỳ một kỹ năng nào cũng bao gồm cả biểu tượng về khái niệm, vốn
tri thức, kỹ năng, khả năng tự kiểm tra, điều chỉnh quá trình hành động. Trong
quá trình hình thành kỹ năng, các biểu tượng về khái niệm sẽ được mở rộng ra,
được làm sâu sắc hơn, hoàn thiện hơn và được “dày lên hơn” bằng những nhân
tố mới. K.K.Platonov và A.I.Piscunov còn khẳng định kỹ năng được hình thành
trên cơ sở vốn tri thức, kỹ xảo, đồng thời còn bao gồm cả việc thông hiểu mối
quan hệ qua lại giữa mục đích hành động, các điều kiện hành động và các cách
thức hành động. Như vậy theo các ông, trong cấu trúc kỹ năng, không chỉ bao
hàm tri thức, kỹ xảo mà còn cả tư duy sáng tạo.
X.I.Kixegof trong công trình nghiên cứu về quá trình hình thành kỹ
năng sư phạm cho các sinh viên đại học đã chia quá trình này ra 2 giai đoạn:
Thực hành luyện tập (hình thành các kỹ năng “nguyên sinh” và “thứ phát”),

Từ những nghiên cứu trên đây có thể rút ra:
Bất cứ hành động nào cũng có mục đích cụ thể, để đạt tới mục đích đã
định, con người cần tiến hành thực hiện một hệ thống các thao tác theo những
quy trình nhất định. Để hành động có kết quả, con người phải có tri thức cần
thiết về mục đích, về cách thức hành động, đồng thời phải có những điều kiện
cần thiết để triển khai cách thức đó. Tuy nhiên, nếu chỉ có tri thức thôi thì
15


chưa đủ, con người còn phải biết cách vận dụng những tri thức đó vào từng
hoàn cảnh cụ thể để thực hiện hành động có kết quả, chỉ khi đó con người mới
đạt đến kỹ năng hành động. Vì thế, có thể quan niệm:
Kỹ năng là trình độ vận dụng một cách có hiệu quả những tri thức về
phương thức hành động của chủ thể trong những hoàn cảnh khác nhau để
thực hiện mục tiêu đã đề ra.
Kĩ năng không chỉ đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành động mà còn là
biểu hiện trình độ năng lực của chủ thể hành động.
Khi nghiên cứu về kỹ năng cần lưu ý những khía cạnh sau:
Thứ nhất, khi xem xét kỹ năng phải luôn gắn với một hành động hay hoạt
động cụ thể nào đó và kỹ năng phải được xem như là đặc điểm của hành động, ví
dụ như: kỹ năng học tập, kỹ năng giao tiếp, KNTT ... Không có kỹ năng chung
chung, trừu tượng, tách rời hành động. Kỹ năng trước hết phải được hiểu là mặt
kỹ thuật của hành động, biểu hiện mức độ đúng đắn và thành thục của hành
động. Kỹ năng không có mục đích riêng, mục đích của kỹ năng là mục đích của
hành động. Kỹ năng hành động đồng nghĩa với hành động có kỹ năng.
Thứ hai, cơ chế hình thành kỹ năng là cơ chế hình thành hành động trí
óc theo giai đoạn. Để hình thành được kỹ năng hành động, bao giờ cũng phải
biết triển khai hành động ở dạng khái quát nhất, đầy đủ nhất, đồng thời luyện
tập dạng này trong các tình huống khác nhau đến mức cá nhân có thể nắm
được các quy tắc, quy luật chung của hành động và có thể triển khai nó ở

xảo và kỹ năng phức tạp.
Kỹ năng phức tạp là năng lực áp dụng kiến thức, phương thức hành
động một cách sáng tạo, linh hoạt để thực hiện hành động, hoạt động trong
các điều kiện, hoàn cảnh biến đổi phức tạp. Đặc điểm của kỹ năng phức tạp là
việc kiểm tra chặt chẽ tính tích cực của ý thức con người nắm vững các
phương thức đã được khái quát trong việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau.
Trong kỹ năng phức tạp, yếu tố linh hoạt, sáng tạo là tiêu chí cơ bản, là cơ sở
cho mọi hành động đạt được kết quả cao. Để có kỹ năng phức tạp về một
hành động nào đó, chủ thể hành động phải thoả mãn được những yêu cầu sau:
17


Có tri thức về hành động đó (nắm được mục đích, cách thức, các điều
kiện để thực hiện hành động).
Tiến hành hành động theo đúng quy trình.
Đạt kết quả hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả
trong những điều kiện khác.
1.2.2. Khái niệm kĩ năng tuyên truyền
Thuật ngữ tuyên truyền, tiếng La tinh là Propaganda, nghĩa là một hoạt
động xã hội đặc biệt nhằm truyền bá một quan điểm vào nhận thức, thái độ
của cá nhân, tập thể, tầng lớp, giai cấp nào đó trong xã hội. Thuật ngữ tuyên
truyền xuất hiện khoảng 400 năm trước dùng để chỉ hoạt động của các nhà
truyền giáo nhằm thuyết phục, lôi kéo những người khác theo đạo Ki-tô, sau
này thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng để biểu đạt các hoạt động nhằm tác
động đến suy nghĩ, tư tưởng của người khác và định hướng hành động của họ
theo một khuynh hướng nhất định.
Trong Từ điển chính trị do B.N.Pônômarep (chủ biên): “Tuyên truyền
là giải thích, phổ biến một tư tưởng, học thuyết, lý luận chính trị nhất định
nào đó, tuyên truyền mang tính quần chúng và tính Đảng”.
Trong Từ điển Tiếng Việt: “Tuyên truyền là giải thích rộng rãi để thuyết

theo nội dung được tuyên truyền.
HĐTT là hoạt động có mục đích của chủ thể tuyên truyền nhằm phổ biến,
giải thích và thuyết phục về một nội dung, một vấn đề nào đó làm cho đối tượng
được tuyên truyền tán thành, tin theo và làm theo nội dung được tuyên truyền.
Quá trình tuyên truyền là thực hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể
tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền.
Để có thể tiến hành tuyên truyền thành công cho những đối tượng khác
nhau, trong những hoàn cảnh, điều kiện và tình huống không giống nhau, chủ thể
tuyên truyền trước hết phải nắm được kiến thức về HĐTT, có tri thức về lĩnh vực
tuyên truyền, nắm được những quy luật tâm lý của HĐTT, có kỹ năng giao tiếp,
thành thạo các thao tác tuyên truyền, rèn luyện được phương pháp tuyên truyền
19


sinh động, hiệu quả, biết vận dụng linh hoạt tri thức và các phương thức tuyên
truyền đã có vào những hoàn cảnh, điều kiện, đối tượng cụ thể để tuyên truyền đạt
hiệu quả. Đồng thời, chủ thể tuyên truyền phải có những phẩm chất nhân cách phù
hợp với yêu cầu của HĐTT và không ngừng hoàn thiện các phẩm chất đó để có
thể đạt được mục tiêu tuyên truyền đã đề ra.
Khi chủ thể tuyên truyền tích luỹ, rèn luyện và hoàn thiện thao tác tuyên
truyền của bản thân đạt đến trình độ nhất định, được coi là người có KNTT. Tuyên
truyền không thuần tuý là hoạt động truyền thụ thông tin mà còn đòi hỏi phải làm
cho đối tượng được tuyên truyền tin theo, làm theo những nội dung tuyên truyền,
nói cách khác, tuyên truyền là nghệ thuật chinh phục trái tim, khối óc người nghe.
Hoạt động tuyên truyền được tiến hành cho nhiều đối tượng, trong những hoàn
cảnh, điều kiện thường xuyên thay đổi, vì thế, KNTT của chủ thể tuyên truyền
phải là kỹ năng phức tạp, mang tính sáng tạo, linh hoạt rất cao.
Chủ thể tuyên truyền được coi là có KNTT khi:
Có tri thức về phương thức tuyên truyền và nội dung tuyên truyền mà biểu
hiện cụ thể là:

Có khả năng nắm bắt, đánh giá tâm lý đối tượng chính xác.
Có khả năng điều khiển quá trình giao tiếp
Xử lý các tình huống giao tiếp mềm dẻo, linh hoạt.
Như vậy có thể quan niệm: KNTT là trình độ vận dụng một cách có hiệu
quả những tri thức về phương thức tuyên truyền đã có của chủ thể vào những
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt được mục tiêu tuyên truyền đã đề ra.
Chủ thể tuyên truyền đạt được KNTT khi những tri thức về phương
thức tuyên truyền của bản thân không phải còn ở dạng nguyên liệu “thô mộc”
rời rạc, mà đã được nhào nặn, tinh chế để trở thành một hợp chất tổng hợp,
bảo đảm cho người đi tuyên truyền có thể vận dụng, khai thác một cách linh
hoạt, sáng tạo, phù hợp và hiệu quả vào những tình huống, hoàn cảnh khác
nhau. Khi nói đến KNTT là nói đến trình độ vận dụng tri thức về phương thức
tuyên của chủ thể tuyên truyền làm cho HĐTT được phát lộ ra thành hiệu quả
hiện thực, trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
21


1.2.3. Kĩ năng tuyên truyền của cán bộ tuyên giáo thành phố Hải Phòng
Theo định nghĩa của Ban Tuyên giáo Trung ương: “Công tác tuyên giáo
là cụm từ chỉ các hoạt động tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra của tổ chức đảng về
lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và khoa giáo. Công tác tuyên giáo được tiến hành tại
tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị, trường học, lực
lượng vũ trang…, trong đó công tác tuyên giáo ở cơ sở có vai trò đặc biệt quan
trọng bởi vai trò nền tảng trong hệ thống chính trị ở nước ta” [7, tr.7].
Khái niệm cán bộ tuyên giáo: là toàn bộ cán bộ, đảng viên thuộc
các tổ chức của hệ thống chính trị, dưới vai trò lãnh đạo của ĐCSVN tham
gia hoạt động tham mưu, chỉ đạo, tuyên truyền, kiểm tra các tổ chức đảng
về lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, khoa giáo được tiến hành ở các cấp, các
ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị, trường học, lực lượng vũ trang ...
Vị trí, vai trò, nhiệm vụ và nguyên tắc hoạt động của cán bộ tuyên giáo

hiện của chủ nghĩa thực dụng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống, thực hiện có hiệu quả việc "Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh".
Bốn là, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, góp phần xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
con người mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định
hướng XHCN.
Năm là, xây dựng và phát huy nhân tố con người qua thực hiện tốt
các lĩnh vực khoa giáo ở cơ sở. Chỉ đạo, hướng dẫn, cổ vũ thúc đẩy
phong trào thi đua yêu nước và các phong trào xã hội khác, coi trọng
việc bồi dưỡng, nhân rộng các điển hình, nhân tố mới, góp phần hoàn
thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn.
Sáu là, giáo dục ý thức cảnh giác, chống các hoạt động “diễn biến hòa
bình”, cơ hội chính trị, lôi kéo, chia rẽ sự đoàn kết toàn. Kịp thời giải quyết
các mâu thuẫn nội bộ nhân dân, không để xảy ra khiếu kiện kéo dài, khiếu
kiện tập thể, không có điểm nóng.
23


Nguyên tắc hoạt động:
Nguyên tắc tính đảng: Tính đảng là nguyên tắc cơ bản nhất của CBTG.
CBTG phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, bảo vệ và phát
triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của
Đảng; chủ động đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng thù địch,
phản khoa học, đi ngược lại với lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc.
Nguyên tắc tính khoa học: Hoạt động của CBTG được tiến hành trên cơ
sở khoa học, tuân theo các quy luật vận động, biến đổi của lĩnh vực tư tưởng.
Nguyên tắc tính khoa học yêu cầu CBTG phải có kế hoạch, nội dung và hình
thức phù hợp với từng đối tượng, đáp ứng nhu cầu giải đáp vướng mắc và
định hướng tư tưởng cho mọi đối tượng. CTTT phải sử dụng các phương tiện

nghệ vào sản xuất để tăng trưởng kinh tế. Trong giai đoạn này là đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh theo định hướng XHCN.
Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động tuyên truyền ở thành phố
Hải Phòng là tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát:
Tổ chức nghiên cứu, tuyên truyền, quán triệt, hướng dẫn triển khai thực
hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng; kiểm tra, giám sát các tổ
chức đảng, các ban, ngành, đoàn thể trong việc thực hiện các nghị quyết, chỉ
thị, quy định, quy chế của Trung ương trong lĩnh vực tuyên giáo.
Tổ chức bồi dưỡng lý luận chính trị, thông tin thời sự, tuyên truyền
chính sách theo các chương trình của Trung ương và Thành uỷ. Bồi dưỡng và
hướng dẫn nghiệp vụ công tác tuyên giáo cho ban tuyên giáo các cấp trực
thuộc thành uỷ; các đảng bộ cơ sở, trung tâm bồi dưỡng chính trị quận, huyện,
thành phố.
Tổ chức mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư
luận xã hội từ thành phố đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra nội dung thông tin
của các phương tiện thông tin đại chúng, các nhà xuất bản do địa phương
quản lý. Hướng dẫn theo dõi, kiểm tra nội dung tuyên truyền để tham mưu, đề
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status