Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
Trờng đại học kinh tế quốc dân
NGUYễN VĂN HồI
CHíNH SáCH TRợ GIúP Xã HộI TRONG
CHĂM SóC SứC KHỏE TÂM THầN TạI VIệT NAM
Chuyên ngành : khoa học quản lý
Mã số
: 62340410
Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. Lấ TH VN ANH
PGS.TS. NGUYN KHC BèNH
Hà Nội - 2017
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌN VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................. 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ................. 6
1.1. Các nghiên cứu nước ngoài ............................................................................ 6
1.1.1. Các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe tâm thần ........................................ 6
1.1.2. Các nghiên cứu liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần .......... 8
1.1.3. Các nghiên cứu liên quan đến chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần ..... 10
2.3.5. Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Châu Phi ............................... 53
2.3.6. Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Châu Á .................................. 54
2.3.7. Bài học rút ra cho Việt Nam về chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc
sức khỏe tâm thần ............................................................................................... 55
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................... 58
3.1. Quy trình nghiên cứu ................................................................................... 58
3.2. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin .................................................... 60
3.2.1. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin thứ cấp ...................................... 60
3.2.2. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin sơ cấp ........................................ 60
CHƯƠNG IV: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ
HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN TẠI VIỆT NAM ........ 69
4.1. Thực trạng sức khỏe tâm thần và nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần tại
Việt Nam .............................................................................................................. 69
4.1.1. Thực trạng sức khỏe tâm thần tại Việt Nam .............................................. 69
4.1.2. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam ................................... 71
4.2. Thực trạng chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần
tại Việt Nam ......................................................................................................... 74
4.2.1. Chính sách trợ cấp xã hội .......................................................................... 75
4.2.2. Chính sách phát triển cơ sở bảo trợ xã hội ................................................. 84
4.2.3. Chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm ................................................... 92
4.2.4. Chính sách phát triển các dịch vụ công tác xã hội ..................................... 96
4.2.5. Chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác trợ giúp xã hội ......... 102
4.3.2. Đánh giá chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần tại
Việt Nam theo các chính sách bộ phận ............................................................. 117
CHƯƠNG V: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
TRỢ GIÚP XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN TẠI
VIỆT NAM ................................................................................................. 130
5.1. Quan điểm hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe
tâm thần của Nhà nước đến năm 2025 ............................................................. 130
ASXH
An sinh xã hội
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHYT
Bảo hiểm y tế
BNTT
Bệnh nhân tâm thần
BNV
Bộ Nội vụ
BTXH
Bảo trợ xã hội
BVTT
Bệnh viện tâm thần
BYT
NCS
Nghiên cứu sinh
NCVĐTT
Người có vấn đề tâm thần
NKT
Người khuyết tật
Chữ viết tắt
Ý nghĩa
NTT
Người tâm thần
NGO
Tổ chức phi chính phủ
PHCN
Phục hồi chức năng
Ủy ban nhân dân
UNICEF
Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc
VNGO
Tổ chức phi chính phủ trong nước
VUSTA
Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
WB
Ngân hàng thế giới
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Sự thay đổi nhận thức về chăm sóc sức khỏe ..................................... 25
Bảng 3.1: Mô tả mẫu thứ nhất ......................................................................... 61
Bảng 3.2: Nội dung điều tra đối với cán bộ làm việc tại Cục Bảo trợ xã hội ....... 62
Bảng 3.3: Mô tả mẫu thứ hai ........................................................................... 63
Bảng 3.4: Nội dung điều tra đối với các Trung tâm BTXH và Trung tâm nuôi
và tạo việc làm trên phạm vi cả nước giai đoạn 2011-2015 ................................ 94
Bảng 4.15: Đánh giá chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm cho NTT theo quan
điểm của cán bộ quản lý .................................................................................. 95
Bảng 4.18: Đánh giá chính sách phát triển các dịch vụ CTXH theo quan điểm của
cán bộ quản lý .............................................................................................. 101
Bảng 4.19: Tình hình cán bộ, nhân viên, cộng tác viên CTXH ở Việt Nam giai
đoạn 2011-2015 ............................................................................................ 104
Bảng 4.20: Đánh giá chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác TGXH
theo quan điểm của đội ngũ cán bộ, nhân viên làm CTXH ............................... 107
Bảng 4.21: Thu nhập bình quân của cán bộ, nhân viên làm CTXH tại Trung tâm
CTXH thuộc Bộ LĐTBXH ............................................................................ 110
Bảng 4.22: Đánh giá chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác TGXH
theo quan điểm của cán bộ quản lý ................................................................ 111
Bảng 4.23: Tình hình NTT được hưởng chính sách TGXH .............................. 112
Bảng 4.24: Diễn biến bệnh tình của đối tượng được hưởng chính sách TGXH .. 113
Bảng 4.25: Tình hình tạo việc làm cho NTT, người RNTT .............................. 114
Bảng 4.26: Đánh giá Mức độ tuân thủ chính sách của các cơ quan, đơn vị trong tổ
chức thực thi chính sách TGXH trong chăm sóc SKTT ................................... 115
Bảng 4.27: Đánh giá mức độ hưởng ứng, tham gia của cộng đồng đối với chính
sách TGXH trong chăm sóc SKTT ................................................................. 116
Bảng 4.28: Đánh giá sự hài lòng của các đối tượng chính sách ........................ 117
Bảng 4.29: Đánh giá mức độ hỗ trợ của chính sách TGXH trong CSSKTT ....... 118
Bảng 4.30: Đánh giá hiệu quả thực thi chính sách TGXH trong CSSKTT ......... 120
Bảng 4.31: Đánh giá mức độ tiếp cận thông tin chính sách TGXH trong CSSKTT .......... 121
Bảng 4.32: Đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu của chính sách TGXH trong
CSSKTT ...................................................................................................... 122
Bảng 4.33: Đánh giá sự hỗ trợ của cấp trên đối với các cơ sở BTXH trong quá
trình thực thi chính sách TGXH trong CSSKTT .............................................. 124
Bảng 4.34: Đánh giá công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách TGXH trong
chăm sóc SKTT đến gia đình các đối tượng chính sách ................................... 125
phát triển các hướng dẫn quy chuẩn quốc gia và thực thi cụ thể ở tuyến địa phương. Việc
ra đời Đề án 32 và Đề án 1215 của Chính phủ trên cơ sở đề xuất của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã tạo một khung cảnh mới thúc đẩy cho sự hợp tác giữa các bên,
đặc biệt giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế.
Với định hướng chăm sóc sức khỏe của Đảng Cộng Sản Việt Nam và khuyến cáo
của WHO về CSSKTT ở các nước đang phát triển vào thập niên đầu thế kỷ 21, thì toàn
bộ hệ thống đều ở trong tình trạng thiếu hụt đáng kể các nguồn lực cơ bản đáp ứng với
yêu cầu CSSKTT ở cả hai loại hình cơ sở BTXH và tại cộng đồng. Trong đó loại hình
cơ sở BTXH tuyến tỉnh thuộc tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng các nguồn lực. Chất
lượng nhân lực đạt yêu cầu về nhiệt tình nghề nghiệp, nhưng đội ngũ này hoàn toàn
không được đào tạo cơ bản về phương pháp làm việc và kiến thức, kỹ năng chuyên
môn trong chăm sóc và PHCN cho người bệnh tâm thần. Hạ tầng cơ sở không được
thiết kế, trang bị và vận hành theo nguyên tắc của một cơ sở chăm sóc và PHCN cho
bệnh nhân tâm thần, với quan điểm lấy bệnh nhân là trung tâm phục vụ và đảm bảo
tôn trọng quyền cơ bản của người bệnh. Toàn bộ các cơ sở đánh giá đều nằm trongtình
trạng thiếu các hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cụ thể, thiếu mối quan hệ và hợp tác
chuyên môn giữa các cấp trong hệ thống cũng như với các hệ thống liên quan, đặc biệt
với hệ thống do Bộ Y Tế vận hành. Thêm vào đó, nguồn tài chính ở trong tình trạng chỉ
có thể đáp ứng với yêu cầu giữ bệnh nhân hơn là chăm sóc và PHCN cho bệnh nhân.
Trong 5 năm qua, hệ thống do Bộ LĐTBXH quản lý được vận hành với mục tiêu
cụ thể là triển khai thực hiện các Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 và Nghị
định 13/2010/NĐ-CP ban hành ngày 27/02/2010 về chính sách trợ giúp các đối tượng
BTXH, trong đó có người bệnh tâm thần. Xét đến thời điểm 2011, toàn bộ hệ thống thực
hiện tương đối tốt Nghị định 13/NĐ-CP cho bệnh nhân tâm thần. Có khoảng 10.000
người tâm thần nặng đang được chăm sóc và PHCN trong hệ thống các cơ sở BTXH; giải
quyết trợ cấp hàng tháng cho 102.210 người năm 2008, tăng lên gần 200.000 người năm
2010. Tuy nhiên, do định nghĩa “người bệnh tâm thần” bị bó hẹp ở đối tượng bệnh nhân
1
Trên cơ sở khoa học và thực tiễn đánh giá về thực trạng chính sách TGXH
trong CSSKTT tại Việt Nam, luận án đề xuất các giải pháp chủ yếu, có căn cứ khoa
học rõ ràng nhằm hoàn thiện chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam định
hướng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.
2
2.2. Mục tiêu cụ thể
Thứ nhất, xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu về chính sách TGXH trong
CSSKTT. Xác định những chính sách cơ bản, những nhân tố ảnh hưởng đến chính
sách, đồng thời làm rõ những tiêu chí để đánh giá chính sách.
Thứ hai, phân tích thực trạng chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam trong
giai đoạn từ năm 2011 (là năm Đề án 1215 của Thủ tướng Chính phủ được ban hành) đến
hết năm 2015. Từ đó, chỉ rõ những điểm mạnh cũng như những điểm yếu của chính sách,
lý giải nguyên nhân dẫn tới những điểm mạnh, điểm yếu của chính sách.
Thứ ba, đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện chính sách
TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam phù hợp với điều kiện nguồn lực trong nước và
bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án sẽ tập trung trả lời các câu hỏi
nghiên cứu sau:
- Hệ thống chính sách TGXH trong CSSKTT bao gồm những chính sách bộ
phận cơ bản nào?
- Các yếu tố nào tác động đến chính sách TGXH trong CSSKTT?
- Phương pháp nào được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các chính
sách bộ phận thuộc chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam?
- Thực trạng chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam hiện nay như thế
nào? Điểm mạnh, điểm yếu của chính sách và nguyên nhân của những điểm mạnh,
điểm yếu?
Bước 3: Trên cơ sở kết luận phân tích thực trạng, đề xuất một số định hướng và
giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2025.
6. Tóm tắt phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên
cứu với khung nghiên cứu sẽ được trình bày cụ thể trong chương III.
7. Các kết quả nghiên cứu
7.1. Về mặt khoa học
Luận án bổ sung, làm rõ khung lý thuyết nghiên cứu chính sách TGXH trong
CSSKTT dựa trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
trước đây về vấn đề này, cụ thể là:
Thứ nhất, xác định được 05 chính sách bộ phận cơ bản trong chính sách TGXH
trong CSSKTT, bao gồm: Chính sách trợ cấp xã hội; Chính sách phát triển cơ sở bảo
4
trợ xã hội; Chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm; Chính sách phát triển các dịch vụ
công tác xã hội; Chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác trợ giúp xã hội. 05
chính sách này là 05 chính sách cơ bản, có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện
mục tiêu chung của chính sách TGXH trong CSSKTT.
Thứ hai, luận án xác định những tiêu chí để đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả, sự
phù hợp của chính sách TGXH trong CSSKTT; từ đó làm cơ sở khoa học trong đánh
giá chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam.
Thứ ba, luận án xác định 02 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chính sách TGXH
trong CSSKTT, bao gồm: Nhóm yếu tố khách quan; Nhóm yếu tố chủ quan.
7.2. Về mặt thực tiễn
Luận án đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế của chính sách
TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015; Đưa ra một số giải
pháp nhằm hoàn thiện chính sách đến năm 2020.
khoảng 15% dân số, tương đương với khoảng 13 triệu người (Bộ Y tế - 2014). Gần
đây một số nghiên cứu có quy mô nhỏ hơn cho thấy tỷ lệ các rối loạn tâm thần khoảng
20 - 30%. Hiện SKTT được WHO xếp hạng thứ 4 trong các vấn đề sức khỏe, dự kiến
đến năm 2020 SKTT sẽ được xếp hạng thứ 2 sau các bệnh về tim mạch. Nguyên nhân
theo WHO là do những yếu tố sau: điều kiện cuộc sống (nghèo khổ kéo dài), thiếu
điều kiện giáo dục, ăn ở, triển vọng công ăn việc làm; công việc quá tải; các thay đổi
nhanh chóng về kinh tế xã hội, xung đột chính trị; và ảnh hưởng của thiên nhiên đặc
biệt là sau các thảm họa.
Tuy nhiên, đối với các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có nền kinh tế chưa
phát triển một cách toàn diện như Việt Nam thì việc nghiên cứu ban hành và triển khai
các chính sách đối với người tâm thần hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập. Vấn đề này
cũng được một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước lựa chọn. Trong đó, có thể đề
cập đến các nghiên cứu tiêu biểu sau.
1.1. Các nghiên cứu nước ngoài
1.1.1. Các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe tâm thần
(i) “Bản đồ SKTT 2011 (Mental Health Atlas 2011)” của Tổ chức Y tế thế giới
- WHO là một công trình lớn tiêu biểu. Atlas là một dự án mà WHO đã triển khai từ
nhiều năm, bắt nguồn từ 2001, sau đó được tiếp tục cập nhật 2005. Atlas 2011 là phiên
bản mới nhất hiện nay. Dự án này được chủ trì bởi tổng hành dinh của WHO tại
Geneva và được giám sát, điều phối bởi Shekhar Saxena - người phụ trách bộ phận
6
SKTT trong Tổ chức Y tế Thế giới. (WHO, 2011)
Atlas 2011 đã khẳng định những phát hiện từ những công trình trước đó rằng
các nguồn lực hiện vẫn không đủ đáp ứng so với sự bùng phát của những rối loạn thần
kinh tâm trí. Tuy nhiên, sự thiếu hụt nguồn lực không đồng đều nhau và khoảng cách
giữa nguồn lực và nơi tập trung bệnh là rất lớn tại những nước đang phát triển. Bên
cạnh đó, những phát hiện tích cực cho thấy số giường bệnh tại các bệnh viện tâm thần
7
là các dịch vụ trợ giúp xã hội, bao gồm: thúc đẩy các hình thức hỗ trợ nhà ở, việc làm,
liên kết xã hội, hòa nhập người bệnh tâm thần vào cộng đồng, xây dựng các chương
trình CSSKTT trong trường học, bao gồm cả các chương trình phát hiện sớm lẫn giáo
dục SKTT cho trẻ em, giám sát sự tôn trọng nhân quyền cho người bệnh tâm thần, vận
động quyền cho người bệnh tâm thần... (Vikram Patel, 2007)
(v) Nghiên cứu “Reform of the MOLISA Centres for persons with severe mental
disorders”của tác giả Harry Minas năm 2009, đã đề cập rối loạn tâm thần là một bệnh
có thể chẩn đoán được, nó gây nên những biến đổi căn bản về tư duy, cảm xúc và hành
vi và làm suy yếu năng lực làm việc và năng lực thực hiện các quan hệ cá nhân thông
thường của người bệnh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, có nhiều loại khác nhau của rối
loạn tâm thần, một số thể loại thường gặp như các rối loạn trầm cảm, lo âu, một số
không thường gặp lắm như bệnh tâm thần phân liệt hay rối loạn cảm xúc; tuy nhiên tất
cả các bệnh tâm thần đều gây suy giảm chức năng trầm trọng đối với người bệnh, điều
này thường ít khi được những người chưa bao giờ mắc bệnh tâm thần coi trọng. (Harry
Minas, 2009)
(vi) Bài viết “SKTT và chương trình nghị sự thế giới”của các tác giả Anne
Becker và Arthur Kleinman, đăng trên tạp chí New England Journal of Medicine,
tháng 7 năm 2013. Bài này là một bản tổng kết các kết quả nghiên cứu mới nhất về
SKTT thế giới trong những năm gần đây và chỉ ra chương trình nghị sự trong thời gian
tới. Nổi bật nhất, các tác giả chỉ ra hơn 75% người có các rối loạn tâm thần nặng ở các
nước chậm phát triển không được điều trị, đặc biệt ở các nước thuộc nhóm thu nhập
thấp và trung bình. Các tác giả cũng chỉ ra ở các nước này thiếu trầm trọng đội ngũ
nhân lực làm việc trong CSSKTT và mô hình chăm sóc tại các bệnh viện (chủ yếu là
khám, phát thuốc) vừa “không thực tế” vừa “không hợp lý”. Các tác giả cho rằng cần
phát triển mô hình chăm sóc hợp tác (collaborative care) trong cộng đồng, có phân bổ
trách nhiệm, chia sẻ công việc giữa các nhân viên khác nhau - bác sĩ, nhà tâm lý, y tá,
trị liệu việc làm, nhân viên CTXH. Đây cũng là các khuyến cáo của WHO và là mô
vấn, trị liệu tâm lý, lao động trị liệu, trợ giúp học nghề, việc làm, giải quyết trợ cấp xã
hội và trợ giúp khác tại cộng đồng. (Jerry L. Johnson và George Grant. Jr, 2005)
(iv) Bài viết “SKTT ở Malaysia: Lịch sử, vấn đề hiện tại và hướng phát triển
tương lai” của các tác giả Sheu Tsuey Chong, M. S. Mohamad, và A. C. Er, đăng trên
tạp chí Asian Social Sciences, Số 9, quyển 6, năm 2013. Các tác giả cho biết, Malaysia
đã có các Luật SKTT từ đầu thế kỷ 20 dựa trên các luật của Anh và Ấn Độ. Năm 2001,
Bộ Y tế Malaysia đưa ra Luật SKTT Quốc Gia. Trong Luật này, Malaysia bắt đầu đưa
các hoạt động trị liệu tâm lý xã hội vào CSSKTT để bù đắp cho hướng điều trị tập
trung chủ yếu vào khám và phát thuốc trước đây. Tuy nhiên, các tác giả không chỉ rõ
các dịch vụ trợ giúp xã hội tại cộng đồng là gì, nên được thực hiện như thế nào ở
Malaysia. (Sheu Tsuey Chong và ctv, 2013).
(v) Báo cáo “Mental health and integration - Provision for supporting people
with mental illness: A comparison of 15 asia pacific countries” theo The Economist
Intelligence Unit (EIU) (2016). EIU đã tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ
cam kết của 15 quốc gia trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong vấn đề chăm
sóc người tâm thần tại các quốc gia này. Báo cáo tập trung vào kết quả nghiên cứu Chỉ
số tích hợp y tế tâm thần Châu Á - Thái Bình Dương. Trên cơ sở các bài học từ Chỉ số
9
hội nhập sức khoẻ tâm thần Châu Âu năm 2014 của EIU, so sánh mức độ nỗ lực của
mỗi nước trong việc thực hiện các chỉ số liên quan đến việc hội nhập các cá nhân mắc
bệnh tâm thần vào xã hội.
1.1.3. Các nghiên cứu liên quan đến chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần
(i) Tài liệu “Hướng dẫn xây dựng chính sách SKTT” của WHO (xuất bản năm
2004) đưa ra các hướng dẫn cụ thể cho các nước để xây dựng chính sách SKTT và kế
hoạch SKTT. Về chính sách SKTT, tài liệu này chỉ ra 7 bước cơ bản để xây dựng
chính sách là: (1) Đánh giá nhu cầu trong dân số, (2) Thu thập bằng chứng về các
chiến lược hiệu quả, (3) Mời tư vấn và thương lượng, (4) Trao đổi với các quốc gia
Trong bài viết này, các tác giả trình bày các yếu tố kinh tế và xã hội đưa đến cải cách
dịch vụ SKTT ở Nhật. Theo các tác giả, Luật CSSKTT đầu tiên ở Nhật là Luật Quản
chế và bảo vệ NTT, được thông qua năm 1900. Đến năm 1950, Nhật thông qua Luật vệ
sinh tâm thần, theo đó bắt buộc những người có rối loạn tâm thần phải đi viện điều trị,
nhờ đó chấm dứt tình trạng giam lỏng tại nhà đối với người có rối loạn tâm thần. Một
loạt các scandal vào những năm 1980 khiến Nhật đưa ra Luật SKTT vào năm 1995.
Luật này thúc đẩy khái niệm “bình thường hóa” bằng cách lần đầu tiên thừa nhận người
bệnh tâm thần được coi là có khuyết tật, giống như những người có khuyết tật thể chất.
Những biện pháp chăm sóc mới bao gồm phá bỏ trại tâm thần tập trung, phân loại dịch
vụ, đảm bảo quyền tiếp cận dịch vụ một cách công bằng, phá bỏ các kỳ thị trong xã hội.
Về cơ bản, Nhật cũng đi theo hướng chung của thế giới là tăng cường CSSKTT dựa vào
cộng đồng, tăng cường các hoạt động TGXH thay vì chỉ khám chữa bệnh bằng thuốc
hoặc quản thúc bệnh nhân tại các cơ sở. (Hiroto Ito và Lloyd Sederer, 1999)
(iv) Cuốn “Khỏe hơn nhưng không khỏe mạnh: Chính sách SKTT của Mỹ từ
năm 1950”của các tác giả Richard Frank và Sherry Glied năm 2006. Cuốn sách này có
mục đích tổng kết về chính sách SKTT của Mỹ từ năm 1950 tới 2005. Các tác giả kết
luận rằng từ năm 1950, tỷ lệ người có vấn đề về SKTT trong tổng dân số Mỹ tương
đối ổn định. Cũng kể từ thập kỷ 1950, nước Mỹ đã phát triển thêm nhiều chính sách và
dịch vụ CSSKTT, đặc biệt phải kể đến việc ứng dụng khoa học và các công nghệ hiện
đại vào việc tạo ra các thiết bị trợ giúp cho người có vấn đề về SKTT cũng như các
chính sách bảo hiểm khuyết tật và phúc lợi như Medicaid và chương trình Hỗ trợ thu
nhập an sinh SSI trong Bộ Luật ASXH. Ở chương cuối, các tác giả cho rằng nước Mỹ
cần cải cách thêm nữa cách tiếp cận chính sách và dịch vụ cho người có vấn đề về
SKTT, mà cụ thể là phải dừng việc tách họ thành nhóm đối tượng đặc biệt trong chăm
sóc; thay vì thế, nên chăm sóc theo hướng hòa nhập và phải thay đổi các loại hình
chăm sóc. (Richard Frank và Sherry Glied, 2006)
(v) Cuốn “Chính sách và thực hành SKTT ở Châu Âu: Hướng đi tương lai
trong CSSKTT”của các tác giả Martin Knapp, David McDaif, Elias Mossialos, và
Graham Thornicroft năm 2007. Cuốn sách này gồm 18 chương, mỗi chương là một
nghiên cứu độc lập có mục đích thảo luận về các vấn đề nổi cộm trong quá trình xây
5 người Canada thì có một người có vấn đề về SKTT. Tuy nhiên, cho đến năm 2007,
Canada là nước duy nhất trong khối G8 không có một chiến lược quốc gia về SKTT.
Vì thế, năm 2007, Chính phủ Canada thành lập Ủy Ban SKTT Canada, một tổ chức
NGO với nhiệm vụ xây dựng chiến lược này. Tháng 5-2012, Ủy Ban này công bố
chiến lược quốc gia về SKTT, theo đó yêu cầu chính phủ tăng ngân sách cho SKTT từ
7% lên 9%, chú trọng đặc biệt vào các chính sách và dịch vụ phòng ngừa. Xét về
TGXH trong CSSKTT, Canada không có một chính sách riêng mà chỉ có các chương
trình TGXH được xây dựng dựa trên Chiến lược quốc gia về SKTT. Khi xây dựng các
chương trình này, Canada đặc biệt nhấn mạnh vào hai điểm: (1) TGXH ở tất cả các
giai đoạn trong vòng đời, tại các môi trường gia đình, trường học, và nơi làm việc; (2)
chú trọng phòng ngừa và can thiệp sớm với SKTT. (Mental Health Commission of
Canada, 2012)
(viii) Bài viết “Luật SKTT mới của Trung Quốc”của tác giả Michael Phillips và
các cộng sự, đăng trên tạp chí American Journal of Psychiatry, số tháng 6 năm 2013.
12
Trong bài báo này, các tác giả bàn về Luật SKTT mới thông qua vào tháng 11-2012
của Trung Quốc. Theo luật này, Trung Quốc áp dụng quyền tự nguyện điều trị cho các
bệnh nhân bị tâm thần nặng thay vì cho phép người nhà có thể ép người bệnh tâm thần
vào các bệnh viện hoặc trại tâm thần như trước đây. Mặt khác, luật quy định chỉ các
bác sĩ chuyên khoa tâm thần mới được kê đơn, ngay cả các bác sĩ đa khoa thông
thường hoặc các nhà tâm lý lâm sàng cũng không được phép. Trung Quốc thông qua
luật này để chuyển gánh nặng CSSKTT từ các bệnh viện tâm thần chuyên biệt về hệ
thống chăm sóc sức khỏe ban đầu và hệ thống y tế cộng đồng. Trong bài báo này, các
tác giả tiếp cận việc TGXH cho CSSKTT từ góc độ quyền của người bệnh tâm thần
trong xã hội. Các tác giả chỉ ra những bất cập trong mô hình CSSKTT hiện tại cho
việc trao quyền tự quyết cho người bệnh tâm thần đối với bệnh của chính mình, do đó
vận động Trung Quốc cần có thêm các chính sách hỗ trợ; nhưng các tác giả vẫn khẳng
tới thuốc như kê đơn thuốc, trợ giá thuốc, vân vân... Đối với chương trình Medicare,
chính phủ Úc trợ cấp toàn bộ hoặc một phần chi phí cho người có vấn đề SKTT trong
một loạt các dịch vụ y tế, mà lớn nhất (43,5%) là các dịch vụ tham vấn và trị liệu tâm
lý - xã hội với các bác sĩ tâm lý và nhân viên trị liệu khác như nhân viên CTXH (trị
liệu cá nhân, trị liệu gia đình, các trị liệu chuyên biệt như trị liệu việc làm, trị liệu giao
tiếp, vv...). Cụ thể hơn, MBS có 3 chương trình chính: trợ giá toàn bộ hoặc một phần
cho các dịch vụ tâm - thần kinh với bác sĩ thần kinh (MBS - subsidized psychiatrist
services) như dịch vụ khám, tham vấn, tâm lý trị liệu, tư vấn ca, và trị liệu sốc điện; trợ
giá toàn bộ hoặc một phần cho các dịch vụ tâm lý (MBS - subsidised psychologist
services) như dịch vụ tham vấn, trị liệu với các bác sĩ tâm lý có giấy phép trị liệu lâm
sàng (tức có bằng tiếng sỹ về tâm lý học lâm sàng hoặc bằng thạc sỹ về tâm lý học lâm
sàng và 1 năm thực tập dưới sự hướng dẫn của một bác sĩ tâm lý lâm sàng); trợ giá
toàn bộ hoặc một phần cho các dịch vụ với các chuyên gia SKTT khác như nhà trị liệu
việc làm, điều dưỡng SKTT, nhân viên CTXH.
(x) Nghiên cứu “Mental Health in the Asia-Pacific Region: An Overview.
International Journal of Behavioral Science 2015” của Alexander Lourdes Samy,
ZaIlraFazli Khalaf, và Wah-Yun Low (2015). Các tác giả đánh giá, các vấn đề về sức
khỏe tâm thần đang gia tăng ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương và nó thường bị bỏ
qua hoặc không được chú ý. Tỷ lệ mắc các rối loạn và bệnh tật về sức khoẻ tâm thần
đang gia tăng, đặc biệt ở các nước đang phát triển và đang phát triển như Nhật Bản,
Triều Tiên, Thái Lan, Malaysia, Singapore... Để giảm thiểu vấn đề này, các tác giả cho
rằng, việc phát hiện sớm những người có vấn đề sức khoẻ tâm thần là điều vô cùng
quan trọng. Các chính phủ cần chú trọng đến chăm sóc sức khoẻ tâm thần ở khu vực
nông thôn, các vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, sự hợp tác giữa các tổ chức chính phủ
và phi chính phủ cần phải được đẩy mạnh nhằm tăng cường hệ thống chăm sóc sức
khoẻ tâm thần, tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào các vấn đề sức khoẻ tâm
thần và xây dựng các chính sách có hiệu quả hơn nữa để giải quyết vấn đề này.
(xi) Nghiên cứu “The Political Economy of Mental Health in Vietnam: Key
Lessons for Countries in Transition. Asia and the Pacific Policy Studies” của Kelley
Lee et. Al (2015). Nghiên cứu này khẳng định nhu cầu cấp thiết về chăm sóc sức khoẻ
trợ hội phụ nữ vận động người dân học hỏi những điển hình tích cực về tự chăm sóc và
chăm sóc dựa vào cộng đồng. Mục đích của hệ thống chăm sóc không chính thức là
sàng lọc sớm, chăm sóc, PHCN và dự phòng tại cộng đồng. Ba mục tiêu chính của dự
án là: (1) tăng cường áp dụng phương pháp chăm sóc sức khoẻ tâm trí không chính
thức tại cộng đồng; (2) Giảm kỳ thị và ngược đãi đối với người mắc bệnh tâm
thần/người rối nhiễu tâm trí; (3) Duy trì mô hình chăm sóc sức khoẻ không chính thức
có chất lượng bởi Hội phụ nữ tại cộng đồng sau khi dự án kết thúc. (Grand Challenges
Canada và Hội phụ nữ tỉnh Bắc Giang, 2012)
15
(ii) Một số nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng
đồng (RTCCD): (1) Tỷ lệ rối nhiễu tâm trí ở bà mẹ và trẻ em tại năm tỉnh dự án Young
Lives (2001-02) (Dự án Young Lives tại Việt Nam - DFID); (2) Gánh nặng rối nhiễu
tâm trí trong dân chúng Đà Nẵng, Khánh Hòa (2006-07) (Dự án phát triển hệ thống
CSSKTT dựa vào cộng đồng tại Đà Nẵng, Khánh Hòa (tài trợ AP/VVAF); (3) Rối
nhiễu tâm trí ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, Quảng Ninh (2009-2010) (Nghiên cứu
đánh giá can thiệp chăm sóc giảm nhẹ tại Quảng Ninh, FHI 360 - kinh phí USAID);
(4) Rối nhiễu tâm trí ở mẹ thời kỳ chu sinh và ảnh hưởng đên sức khỏe và phát triển
của con (2008-2010) - Dự án hợp tác đại học Melboume - RTCCD; kinh phí Hội đồng
nghiên cứu Australia (ARC). Những nghiên cứu này đã đạt được những kết quả như:
(RTCCD, 2006, 2008, 2009, 2011)
Xác định gánh nặng rối nhiễu tâm trí trong các nhóm đối tượng nằm ngoài can
thiệp của hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm trí hiện hành;
Xác định bằng chứng dịch tễ học phụ vụ hình thành chính sách can thiệp phòng
chống rói nhiễu tâm trí cho phụ nữ trong thời gian mang thai.
(iii) Bên cạnh đó còn có một số bài viết trên các tạp chí khoa học trong nước
như: (1) tác giả Nguyễn Khắc Viện với bài viết “Tâm lý học lâm sàng trẻ em Việt
Nam” Nxb Y học năm 1999; (2) tác giả Nguyễn Công Khanh với bài viết “Tâm lý học