LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Sinh viên thực hiện Luận văn
Nguyễn Thanh Dung
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, trong quá trình nghiên cứu
ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em còn nhận đƣợc sự giúp đỡ từ
nhiều cá nhân và tổ chức.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy (Cô) Khoa Công
tác xã hội nói riêng và các thầy cô trong Trƣờng Đại học Lao Động & Xã
Hội nói chung đã dùng kiến thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn
kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại trƣờng, từ đó em
có cách nhìn và tiếp cận thực tế một cách khoa học, sâu sắc hơn.
Và đặc biệt, em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến giảng viên TS.
Nguyễn Thị Hƣơng suốt thời gian qua cô đã tận tình hƣớng dẫn và giúp đỡ
em rất nhiều để em có thể hoàn thành khóa luận này.
Em cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo cùng các cán
bộ, nhân viên thuộc chi hội ngƣời khuyết tật phƣờng Cống Vị, quận Ba
Đình, thành phố Hà Nội những ngƣời đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá
trình nghiên cứu khóa luận.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhƣng thời gian nghiên cứu khóa luận có hạn,
trình độ, năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên chắc chắn khóa luận
tốt nghiệp của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong
đƣợc sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để đề tài nghiên cứu đƣợc hoàn
thiện hơn.
1.3.3. Sự kì thị của xã hội : ......................................................................... 17
1.3.4 Về nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết
tật. ............................................................................................................... 17
1.3.5. Về chính sách luật pháp,chương trình, mô hình dịch vụ trong hỗ trợ
việc làm cho người khuyết tật. .................................................................... 19
1.4. Luận pháp và chính sách về việc làm dành cho ngƣời khuyết tật ....... 20
CHƢƠNG 2 :THỰC TRẠNG HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƢỜI
KHUYẾT TẬT TẠI ĐỊA BÀN PHƢỜNG CỐNG VỊ, Q.BA ĐÌNH,TP HÀ
NỘI .............................................................................................................. 24
2.1. Khái quát chung về địa bàn và khách thể nghiên cứu........................ 24
2.1.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .......................................................... 24
2.1.2. Đặc điểm về khách thể nghiên cứu .................................................. 26
2.2 Thực trạng hoạt động công tác hỗ trợ việc làm cho ngƣời khuyết tật tại
địa bàn phƣờng Cống Vị ............................................................................. 31
2.2.1 Một số hoạt động nâng cao năng lực và việc làm cho các hội viên
trong chi hội ................................................................................................ 31
iii
2.2.2. Thực trạng các hoạt động hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật. ..... 32
2.2.2. Thực trạng hoạt độnghỗ trợ tâm lý cho người khuyết tật ................. 35
2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hƣởng tới hỗ trợ việc làm cho ngƣời
khuyết tật ..................................................................................................... 38
2.4. Những thuận lợi và khó khăn của ngƣời khuyết tật trong việc làm.... 40
2.3.1. Thuận lợi ........................................................................................... 40
2.3.2. Khó khăn ........................................................................................... 41
CHƢƠNG 3: KẾT LUẬN,GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ TRONG
HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT TẠI PHƢỜNG
CỐNG VỊ ,QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ......................... 45
3.1. Kết luận .............................................................................................. 45
Công tác xã hội
Lao động thƣơng binh và xã hội
Ủy ban nhân dân
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng2. 1. Các dạng khuyết tật mà người khuyết tật đang gặp phải
Bảng 2.2. Tình trạng sức khỏe của người khuyết tật
Bảng 2.3. Trình độ học vấn , chuyên môn của người khuyết tật
Bảng 2.4. Mức độ quan tâm của người khuyết tật đối với các hoạt động
hỗ trợ
Bảng 2.5. Mức độ tham gia hoạt động hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho
người khuyết
Bảng2.6. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới hỗ trợ việc làm cho người
khuyết tật
Bảng2.7 : Những thuận lợi trong việc làm của người khuyết tật
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Độ tuổi của Ngƣời khuyết tật tại địa bàn phƣờng Cống Vị
Biểu đồ 2.2. Thực trạng hoạt động tư vấn chọn nghề, việc làm cho người
khuyết tật của năm 2016 và 2017
Biểu đồ 2.3. Thực trạng hoạt độnghỗ trợ tâm lý cho người khuyết tật
vi
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhằm hỗ trợ ngƣời khuyết tật phát huy khả năng của mình để đáp ứng
nay.
1
Chính vì lý do trên đã gợi mở cho tôi thực hiện đề tài: “Công tác xã hội
cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho ngƣời khuyết tật tại địa bàn phƣờng
Cống Vị,quận Ba Đình,thành phố Hà Nội” qua đó đƣa ra khuyến nghị và
giải pháp giúp hoạt động tạo việc làm cho ngƣời khuyết tật đạt hiệu quả
cao hơn nữa.
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu ngoài nước
“Disability in NewZealand: an historical survey” (Ngƣời khuyết tật ở
NewZealand- một cuộc khảo sát lịch sử), Marganet Tennat, NewZealand
Journal of Disability studies, number 2, 1996. Nghiên cứu này khảo sát về
nhu cầu của ngƣời khuyết tật và đáp ứng nhu cầu của họ, trong đó có nhu
cầu tham vấn tâm lý cho ngƣời khuyết tật.
Báo cáo “National Disability Strategy” (chiến lƣợc quốc gia về ngƣời
khuyết tật), Hội đồng Chính phủ Australia (COAG) vào ngày 13 tháng 2
năm 2011 và đƣa ra bởi Chính phủ Úc vào ngày 18 tháng 3 năm 2011.
Chiến lƣợc ngƣời khuyết tật quốc gia đƣa ra một kế hoạch mƣời năm quốc
gia để cải thiện đời sống cho ngƣời khuyết tật ở Úc, gia đình và ngƣời
chăm sóc họ, từ đó cho phép ngƣời khuyết tật thực hiện đầy đủ tiềm năng
của họ nhƣ những công dân bình đẳng
Ở Mỹ, Margeret S.Malone đã viết quyển “ Agenda for Social Security:
Chalenges for the new congress and the new administration (Social security
advisory board, February, 2001) ( Chƣơng trình an sinh xã hội: Những
thách thức cho đại hội mới và chính quyền mới, Hội đồng cố vấn an sinh xã
hội), trong đó nói nhiều đến sự an toàn thu nhập của ngƣời khuyết tật, lƣu ý
sự thiếu công bằng với ngƣời khuyết tật, nhất là những ngƣời không còn
khả năng làm việc.
Việt Nam (OSEOC), trực tiếp lãnh đạo và mở ra các trung tâm trực thuộc ở
thành phố Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh, Việt Trì, Hà Nội…
Về thực trạng lao động việc làm của trẻ khuyết tật có những báo cáo khoa
học của Lê Sinh Nha, Nguyền Tiến Dũng và nhiều cộng tác viên tại các
Hội thảo khoa học bàn về việc hƣớng nghiệp, dạy nghề, phổ cập giáo dục
cho trẻ khuyết tật tại Lào Cai (2007), Hà Tĩnh (2008), Thái Nguyên
(2009)…Cùng cộng tác nghiên cứu với những chuyên gia còn có Đỗ Văn
Ba đi sâu vào các lĩnh vực lao động và việc làm cho trẻ câm điếc (2005),
Nguyễn Văn Hƣờng với những bài viết về học lao động của trẻ mù
(2007)…
Một số báo cáo khoa khảo sát, công trình nghiên cứu khoa học liên quan
đến trẻ khuyết tật và vấn đề việc làm cho trẻ khuyết tật những năm gần đây:
Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam 2010 đƣợc xây dựng trong
2 năm với sự cộng tác chặt chẽ giữa UNICEF và Chính phủ Việt Nam phân
tích này lấy cách tiếp cận dựa trên quyền con ngƣời, xem xét tình hình trẻ
em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền con ngƣời nhƣ bình
đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình. Báo cáo nghiên cứu
về Kiến thức, Thái độ, và Thực hành (KAP) về vấn đề hòa nhập xã hội cho
3
trẻ khuyết tật đƣợc UNICEF Việt Nam hỗ trợ tài chính và kỹ thuật do tiến
sĩ, bác sĩ Trịnh Thắng và các cộng sự thực hiện nghiên cứu định tính về trẻ
khuyết tật tại Đồng Nai, An Giang và đƣa ra những kết luận chung về tình
hình trẻ em khuyết tật trong đó có đánh giá về vấn đề đào tạo nghề và việc
làm cho trẻ em khuyết tật.
Các nghiên cứu trong nƣớc về trẻ khuyết tật nói chung là khá nhiều tuy
nhiên nghiên cứu về dạy nghề cho ngƣời khuyết tật thì chƣa nhiều và chƣa
có nhiều phát hiện mới đồng thời cách tiếp cận vấn đề còn chƣa đa dạng do
đó những giải pháp đƣa ra để hỗ trợ cho ngƣời khuyết tật một phần chƣa
việc làm cho ngƣời khuyết tật tại địa bàn phƣờng Cống Vị, quận Ba Đình,
thành phố Hà Nội.
7. Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu: Trong phạm vi nghiên cứu tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu về thực trạng của CTXH cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho
NKT
Không gian: Phƣờng Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Thời gian: 24/04/2017- 04/06/2017.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu:
8.1. Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu :
Phƣơng pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu là phƣơng pháp sử dụng kỹ
thuật chuyên môn nhằm thu thập hoặc rút ra từ những nguồn tài liệu các
thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu thực trạng công tác xã hội cá nhân
trong hỗ trợ việc làm cho ngƣời khuyết tật tại địa bản phƣờng Cống Vị, qua
đó đƣa ra những giải pháp kiến nghị nhằm hỗ trợ ngƣời khuyết tật trong
tìm kiếm , hƣớng nghiệp và đào tạo việc làm phù hợp với họ.
Những nơi thu thập tài liệu là:Báo cáo sơ bộ của chi hội ngƣời khuyết tật
phƣờng Cống Vị, thƣ viện trƣờng Đại học Lao Động- Xã Hội, các trang
báo điện tử, các thông tin tài liệu từ internet.
8.2.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi :
Bảng hỏi là một công cụ quan trọng trong qua trình làm bài nghiên cứu.
Nó thể hiện đƣợc vấn đề nghiên cứu, bảng hỏi là một hệ thống các câu hỏi
đƣợc xếp đặt dựa trên cơ sở các nguyên tắc, tâm lý, logic và theo nội dung
nhất định nhằm tạo điều kiện cho ngƣời đƣợc hỏi thể hiện đƣợc quan điểm
của mình với những vấn đề thuộc đối tƣợng nghiên cứu và ngƣời nghiên
cứu thu nhận đƣợc các thông tin cá nhân đầu tiên đáp ứng yêu cầu của đề
tài và mục tiêu nghiên cứu.
Phương pháp quan sát:
Quan sát là bao trùm tất cả các cách thức, quy tắc để tiếp cận và thu nhận
đƣợc các thông tin thực nghiệm từ thực tế xã hội. Đây là phƣơng pháp tạo
ra ấn tƣợng mạnh trực tiếp về các sự kiện, quá trình, hành vi xã hội. trong
quan sát ngƣời quan sát cảm nhận trực tiếp những hành vi, những sự kiện
và các quá trình.
Quan sát cho phép ghi lại những biến đổi khác nhau của đối tƣợng đƣợc
nghiên cứu vào lúc nó xuất hiện. Nó cũng cho phép cho thấy đƣợc sự phát
triển của các biến cố, cho phép nghiên cứu đƣợc thái độ của những thành
viên của nhóm trong môi trƣờng tự nhiên. Qua quan sát sẽ thấy đƣợc một
cách trực tiếp thái độ của cá nhân trong tình huống tƣơng tự. Nhƣ vậy
ngƣời quan sát với kinh nghiệm thực tế nhất định, trong quá trình tri giác
cảm nhận trực tiếp từ thực tế đi đến kết luận phù hợp với kinh nghiệm của
ngƣời quan sát.
6
Quan sát rất có giá trị khi nghiên cứu bản chất sâu lắng của hiện tƣợng,
nghiên cứu về những nguyên nhân, động cơ của những hoạt động, nghiên
cứu về cơ cấu của các mối quan hệ trong xã hội.
Quan sát trực quan từ những hoạt động, hành vi của ngƣời khuyết tật,
thực tế cơ sở vật chất và các tƣơng tác của ngƣời khuyết tật với môi trƣờng
xung quanh để có những thông tin bổ sung thêm luận chứng cho kết quả
nghiên cứu.
8.5.
Phương pháp thống kê toán học :
Thống kê là khoa học về các phƣơng pháp thu thập, tổ chức, trình bày,
đây là một số định nghĩa về CTXH.
Theo Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế (IFSW) tại Hội nghị
Montreal, Canada vào tháng 7/2000: Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc
đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con
ngƣời, sự tăng quyền lực và giải phóng con ngƣời nhằm giúp cho cuộc
sống ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi
con ngƣời và các hệ thống xã hội. Công tác xã hội can thiệp ở những điểm
tƣơng tác giữa con ngƣời và môi trƣờng của họ.
Theo thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004) :Định
nghĩa cổ điển công tác xã hội nhằm giúp cá nhân và cộng đồng Tự Giúp.
Đó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhầm phát huy sứ
mệnh của hệ thống thân chủ cá nhân nhóm và cộng đồng để họ tự giải
quyết vấn đề của mình.
Hiệp hội công tác xã hội quốc tế và các trƣờng đào tạo công tác xã hội
quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về công tác xã hội nhƣ sau: Công
tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối
quan hệ của con ngƣời và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cƣờng sự trao
quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lƣợng cuộc sống của
con ngƣời. Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con ngƣời và
lý luận vì hệ thống xã hội vào can thiệp sự tƣơng tác của con ngƣời với môi
trƣờng sống.
8
Nhƣ vậy theo tác giả nghiên cứu định nghĩa : Công tác xã hội có thể hiểu
là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia
đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức
năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn
lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và
phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội…
Nhƣ vậy, công tác xã hội cá nhân là phƣơng pháp của công tác xã hội
thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ cá
nhân tăng cƣờng năng lực tự giải quyết vấn đề của mình. Trong tiến trình
này, nhân viên xã hội cần biết vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý
học, xã hội học và các khoa học xã hội liên quan khác, đồng thời sử dụng
kỹ năng, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, sát cánh cùng đối tƣợng, hỗ trợ cho
họ tự giải quyết vấn đề của bản thân và có khả năng vƣợt qua những vấn đề
khác có thể xảy ra trong tƣơng lai.
1.1.3. Khái niệm hỗ trợ việc làm
Theo từ điển tiếng việt thì hỗ trợ là : Giúp đỡ nhau , giúp thêm vào :hỗ
trợ bạn bè , hỗ trợ cho đồng đôi kịp thời.
Hỗ trợ về khía cạnh xã hội là sự tƣơng trợ giữa ngƣời với ngƣời, những
ngƣời biết hỗ trợ cho những ngƣời chƣa biết . Kẻ mạnh có thể hỗ trợ cho
những kẻ yếu thế để tạo ra mỗi quan hệ tốt đẹp cùng phát triển , tiến tới xã
hội văn minh hơn
Hỗ trợ về khía cạnh kinh tế : Ngƣời có tiền sẽ hỗ trợ cho những ngƣời
không có tiền , ngƣời có tiềm lực kinh tế hỗ trợ cho những ngƣời có trí tuệ
để cùng nhau phát triển phục vụ mục tiêu chung
Việc làm
Đã đƣợc 14 năm kể từ khi đất nƣớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng,
theo đó quan niệm về việc làm và vấn đề liên quan nhƣ thất nghiệp, chính
sách giải quyết việc làm đã có những thay đổi cơ bản.
Điều 55 Hiến Pháp năm 1992 quy định: “ Lao động là quyền và nghĩa vụ
của công dân. Nhà nƣớc và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc
làm cho NLĐ “.
Từ quan niệm nay đã mở ra bƣớc chuyển căn bản trong nhận thức về việc
làm. Trên cơ sở này, Bộ luật Lao động Việt Nam đã quy định: “Mọi hoạt
động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa
nhận là việc làm” ( Điều 13 Bộ luật lao động).
có thể rút ngắn thời gian tìm kiếm việc làm để ổn định cuộc sống
1.1.4. Khái niệm người khuyết tật
Khái niệm người khuyết tật
Hiện nay có nhiều quan niệm về ngƣời khuyết tật trên thế giới và Việt
Nam:
Tại Trung Quốc, Luật về bảo vệ ngƣời khuyết tật ban hành năm 1990
định nghĩa: ngƣời khuyết tật là ngƣời bị “mất khả năng về nhìn, nghe, nói
hoặc thể chất, mất khả năng về trí não, rối loạn tâm thần, khuyết tật bị đa
tật và các dạng khuyết tật khác”
Tại Đức, sách số chín của Bộ Luật Xã hội định nghĩa: ngƣời khuyết tật là
ngƣời có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lí tiến triển không bình
11
thƣờng so với ngƣời có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự
không bình thƣờng này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia
vào cuộc sống xã hội.
Tại Ấn Độ, Luật về ngƣời khuyết tật ban hành năm 1995 (về cơ hội bình
đẳng, bảo vệ quyền và đảm bảo cho ngƣời khuyết tật tham gia mọi hoạt
động xã hội) định nghĩa: khuyết tật bao gồm những tình trạng mù, nghe
kém, lành bệnh phong, thính lực kém, suy giảm khả năng vận động, chậm
phát riển về trí óc và mắc bệnh tâm thần.
Tại Nam Phi, Luật bình đẳng việc làm của Nam Phi định nghĩa ngƣời
khuyết tật là ngƣời bị suy giảm về khả năng thể lực hoặc trí lực trong một
hời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến ngƣời đó bị hạn chế đáng kể về
khả năng tham gia hoặc phát triển trong nghề nghiệp.
Tại Việt Nam: ngƣời khuyết tật đƣợc xem là ngƣời không bình thƣờng về
sức khỏe do các khuyết tật, hoặc do bệnh tật làm hủy hoại, rối loạn các
chức năng của cơ thể, hoặc do hậu của những chấn thƣơng dẫn đến những
khó khăn trong đời sống và cần đƣợc xã hội quan tâm giúp đỡ, bảo vệ.
Khuyết tật về trí tuệ
Bao gồm những ngƣời gặp hạn chế về trí tuệ hoặc nhận thức (chậm
phát triển trí tuệ, khó khăn về việc học).
Rối loạn thần kinh/ hành vi xa lạ dẫn đến kết quả là thần kinh, nhƣ tâm
thần phân liệt và suy nhƣợc thần kinh.
Chứng động kinh bao gồm những ngƣời bị cơn động kinh từ việc
mất khả năngtậptrungcho đến vô thức mang tính lâu dài với những
hoạt động thần kinh không bình thƣờng (kinh niên hoặc định kỳ).
Mất cảm giác (bệnh hủi, bệnh phong)
Bao gồm những ngƣời bị nhiễm trùng kinh niên tấn công các mô
bề mặt, đặc biệtlà da và dây thần kinh, phát triển mạnh ở các phần
phụ giống nhƣ là ngón tay,ngón chân.
Khuyết tật ngôn ngữ
Là những ngƣời bị mắc chứng nói ngọng, nói lắp. Cần sự giúp đỡ và rèn
luyện nhiều, hiện tại đang có dự án phát triển kỹ năng sƣ phạm cho các
giáo viên tiểu học để giúp đỡ cho các bạn này đƣợc tốt hơn trong việc rèn
luyện kỹ năng ngôn ngữ. Các vấn đề dị tật khác các bạn hoàn toàn bình
thƣờng nhƣ mọi ngƣời, trừ một số trƣờng hợp mắc nhiều chứng.
Đa tật:
Là những ngƣời ngoài bị khiếm thị còn mắc chứng chậm phát triển trí não
hay là sự kết hợp của nhiều chứng khác nhau.
Phân hạng khuyết tật
Theo Luật NKT Việt Nam, ngƣời khuyết tật đƣợc chia theo ba mức độ sau:
NKT đặc biệt nặng.
NKT nặng.
NKT nhẹ.
13
Nguyên nhân khuyết tật
thực thi chính sách tạo việc làm hiệu quả , bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà
nƣớc, sự nỗ lực tự thân của NKT thì nhân viên CTXH bằng các phƣơng
pháp của CTXH cá nhân có thể thực hiện chức năng kết nối nguồn lực , vận
14
động chính sách , hỗ trợ pháp lí cho NKT. Nhân viên CTXH có thể kết nối
với các đơn vị có nhu cầu để sử dụng NKT vào làm việc thông qua các
chƣơng trình hợp tác, dự án với các tổ chức trong và ngoài nƣớc
Tóm lại, theo tác giả nghiên cứu thì công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ
việc làm cho ngƣời khuyết tật là : “Bằng các phương pháp của công tác xã
hội cá nhân, nhân viên công tác xã hội thực hiện các chức năng như kết nối
nguồn lực, vận động chính sách, hỗ trợ tâm lý, hỗ trợ pháp lí cho người
khuyết tật trong hỗ trợ việc làm , giúp họ có năng lực thực hành nghề phù
hợp với khả năng lao động để tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm được việc làm,
ổn định đời sống .”
1.2. Biểu hiện của công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho
ngƣời khuyết tật
Biểu hiện của CTXH cá nhân trong hỗ trợ việc làm thể hiện rõ ở các hoạt
động sau đây :
Tư vấn chọn nghề , việc làm phù hợp với sức khỏe thể chất của NKT:
NKT có những hạn chết nhất định trong các chức năng vận động ,nghe,
nhìn....ảnh hƣởng đến việc lựa chọn nghề sao cho phù hợp với bản thân.
Nên cơ sở dạy nghề cần can thiệp giải quyết vƣớng mắc trong việc chọn
nghề gì phù hợp cho học viên, xác định hƣớng tạo việc làm sau đào tạo cho
họ nhƣ thế nào là tốt . NVXH sẽ có vai trò tham vấn, khích lệ sự tham gia,
tƣ vấn chọn nghề, hỗ trợ NKT tiếp cận đƣợc với chính sách đào tạo nghề
phù hợp với tình trạng sức khỏe, hoàn cảnh và nhu cầu nguyện vọng của
họ.
Hỗ trợ tâm lý: Bên cạnh đó, nhiều ngƣời còn mang gánh nặng tâm lí,
chất lƣợng lao động, nhà xƣởng , cơ sở hạ tầng ,máy móc thiết bị không
phù hợp ... cũng là những yếu tố hạn chế cơ hội việc làm cho NKT, ảnh
hƣởng tới công tác xã hội cá nhận trong hỗ trợ việc làm cho NKT
1.3.1. Về bản thân người khuyết tật :
Tâm lí : Do khiếm khuyết bộ phận trên cơ thể NKT tự ti, mặc cảm với
chính bản thân mình mà không đi giao tiếp ra ngoài xã hội , ngại ngƣời bên
ngoài có cái nhìn không thiện cảm với mình . Sự tự kì thị của chính bản
thân NKT, càng làm cho họ có cái nhìn tiêu cực hơn đối với chính bản thân
mình.
Thể chất : NKT vƣớng phải những bệnh về giao tiếp khiến họ khó khăn
trong việc nói chuyện với những ngƣời xung quanh cũng là một trong
những rào cản lớn về thể chất cho NKT . Không thể cầm nắm, di chuyển
mọi thứ xung quanh nhƣ những ngƣời bình thƣờng khác khiến họ mặc cảm
với bản thân là con ngƣời vô dụng của xã hội . Di chuyển khó khăn khiến
họ khó có thể tới những nơi mà mình mong muốn cũng là một cản trở trong
việc tham gia các hoạt động hỗ trợ.
Trình độ học vấn : NKT tự tin với bản thân mình hơn khi có một trình độ
học vấn nhất định , họ viết rõ đƣợc những quyền lợi của bản thân từ đó sẽ
tự mình tìm tới những sự hỗ trợ phù hợp với chính bản thân để tự mình
vƣơn lên hòa nhập với cộng đồng trong xã hội
Tự tin vào bản thân :NKT tự tin vào bản thân mình sẽ tạo dựng cho họ
những hƣớng đi phù hợp mà không bị phụ thuộc vào những ngƣời xung
16
quanh thúc đẩy khả năng bản thân cố gắng nỗ lực hết sức mình để đạt đƣợc
những điều mà mình mong muốn.
1.3.2. Về gia đình người khuyết tật :
Gia đình chứ không phải bất kì nơi nào khác, luôn luôn là vòng bảo vệ
an toàn và ấm áp nhất cho những ngƣời sinh ra hoặc vì lý do nào đó chịu
với các tình huống cũng nhƣ khả năng tự bảo vệ bản thân
17
Nhân viên xã hội (NVXH) đóng vai trò cung cấp cho NKT và gia đình họ
nhiều loại dịch vụ hỗ trợ, từ hỗ trợ tâm lý cho đến việc phát triển mạng lƣới
liên kết để có thể chuyển thân chủ đến các dịch vụ y tế và xã hội hoặc các
tổ chức liên quan đến nhu cầu của họ. Phần lớn NKT thƣờng tự ti mặc cảm
nên ngại đi học. Đại đa số NKT thƣờng học nghề chƣa đến nơi đến chốn vì
gia đình hoặc không quan tâm đến nhu cầu đi học và có việc làm của con,
hoặc sợ con khổ, hoặc không tin con mình có thể làm việc đƣợc. Những gia
đình có ngƣời thân mới trở thành NKT cũng trải qua những đau đớn và bối
rối tƣơng tự. Đặc biệt hơn, mất đi một phần hay mối thu nhập chính từ
ngƣời thân giờ đã trở thành khuyết tật, mất cả một công lao động để phải
chăm sóc cho NKT này, và những thay đổi trong tâm tính của ngƣời mới bị
khuyết tật làm cho sự khuyết tật trở thành một “tai họa” cho cả gia đình.
Mọi ngƣời, cả NKT lẫn các thành viên khác của gia đình, đều mệt mỏi và
thay đổi. Những bậc cha mẹ và các thành viên trong những gia đình này
thƣờng không biết phải làm gì hoặc tìm đến ai khi cần. Và thái độ thƣơng
hại hay tội nghiệp của những ngƣời thân quen càng làm cho họ đau khổ
hơn. Họ hết sức cần những hỗ trợ thích hợp để không cảm thấy đơn độc
hay bị bỏ rơi trong tình huống bất ngờ nhƣng sẽ gắn bó lâu dài với cuộc
sống của họ và cả gia đình. Đánh giá ban đầu sẽ cung cấp cơ sở để NVXH
phát triển kế hoạch hỗ trợ. Công việc đánh giá này bao gồm đánh giá sức
mạnh, nguồn lực, và cả những hỗ trợ sẵn có thí dụ nhƣ: những hành vi
trong quá khứ thân chủ của họ đã xử dụng để ứ ng phó thành công với hoàn
cảnh, sự hỗ trợ của gia đình, sự sắp xếp cuộc sống, mức độ học vấn, việc
làm, sở thích, hoàn cảnh kinh tế, v.v... Ngƣời NVXH cũng phải hiểu đƣợc
cảm xúc và phản ứng của thân chủ đối với sự khuyết tật, ảnh hƣởng của sự
khuyết tật đối với gia đình của NKT, tác động của sự khuyết tật đến vai trò
dựng.Đề xuất ý kiến soạn thảo chính sách về ngƣời KT. Làm công tác biện
hộ cho NKT.
1.3.5. Về chính sách luật pháp,chương trình, mô hình dịch vụ trong hỗ
trợ việc làm cho người khuyết tật.
Ở Việt Nam, công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho NKT đƣợc
biệt quan tâm, tạo điều kiện thuận từ phát triển hạ tầng cơ sở cho đến chính
sách trợ giúp đối tƣợng tham gia học nghề cũng nhƣ giáo viên dạy nghề.
Luật Dạy nghề năm 2006 đã dành toàn bộ Chƣơng VII quy định dạy nghề
cho NKT, với mục tiêu giúp đối tƣợng có năng lực thực hành nghề phù hợp
với khả năng lao động của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm đƣợc việc làm,
ổn định đời sống. Đồng thời, Nhà nƣớc cũng khẳng định, hỗ trợ về tài
chính và các chính sách ƣu đãi khác đối với các cơ sở dạy nghề cho NKT
nhằm khuyến khích công tác dạy nghề cho NKT. Trong Bộ lụât Lao động,
tại Điều 125 cũng nêu rõ: “Hàng năm, Nhà nƣớc dành một khoản ngân sách
để giúp NKT phục hồi sức khoẻ, phục hồi chức năng lao động, học nghề và
có chính sách cho vay với lãi suất thấp để họ tự tạo việc làm, ổn định đời
sống”.
Mặc dù trong những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc ta đã không ngừng
quan tâm tới công tác dạy nghề và tạo việc làm cho NKT song số lƣợng
ngƣời đƣợc học nghề còn quá ít, tỷ lệ tìm đƣợc việc làm sau đào tạo nghề
còn rất thấp và chủ yếu là tự tạo việc làm, số có thể tìm đƣợc việc làm
19