Lời mở đầu
Sống trong môi trường tự nhiên và môi trường xã hội con người ai cũng gặp
phải những vấn đề khó khăn cần được sự giúp đỡ của người khác. Có rất nhiều
cách thức, phương pháp để giúp đỡ, hỗ trợ con người. Một trong những cách
thức, phương pháp đó là công tác xã hội cá nhân và gia đình. Đại diện cho nghề
công tác xã hội cá nhân và gia đình chính là các nhân viên công tác xã hội. Nhân
viên công tác xã hội sẽ nhận những ca tình huống và cùng thân chủ xác định vấn
đề cần giải quyết, nguồn lực trợ giúp, từ đó xây dựng và triển khai kế hoạch
giúp đỡ.
. Vẫn còn những trẻ em khuyết tật, có hoàn cảnh khó khăn đòi hỏi xã hội
phải quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ để các em có điều kiện sống tốt hơn.Trẻ em
khuyết tật là những trẻ em gặp thiệt thòi trong cuộc sống. Các em có tâm lý mặc
cảm, tự ti, khó hòa nhập cộng đồng, có nguy cơ mắc các bệnh về tâm lý, trầm
cảm, khủng hoảng… cần có những chính sách, dịch vụ trợ giúp cho trẻ em
khuyết tật để các em có thể phát triển tốt về thể chất, tâm lý và nhân cách.
Trong bài tiểu luận này em muốn đề cập đến công tác xã hội cá nhân trong
giải quyết vấn đề của trẻ em khuyết tật có nguy cơ bị trầm cảm
1
TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ:
Năm 2000, Chị H 20 tuổi kết hôn với anh T 27 tuổi, bất chấp sự phản đối kịch
liệt của mẹ chị H. Hai anh chị sống cùng bố anh T 65 tuổi đã già yếu mắt bị lòa.
Năm 2001, anh chị sinh được 1 bé trai tên N. Bé N sinh ra dù không mắc bệnh
gì nhưng thể trạng yếu ớt. Sau một đợt sốt bé đã bị teo một bên chân trái, khiến
cho việc sinh hoạt đi lại của bé gặp một số khó khăn.
Khi N lên 3 tuổi, do hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn, chị H quyết định đi
xuất khẩu lao động mong thay đổi điều kiện sống cho mình và gia đình với thời
gian 3 năm. Anh T khuyên chị H là con còn nhỏ thì vợ chồng chịu khó ở nhà
làm lụng, chắt chiu. Nhưng chị H đã quyết tâm đi.
Ba năm chị H vắng nhà, anh T vừa giận vợ không nghe lời, lại phải chịu cảnh
“gà trống nuôi con” một mình nên đã có quan hệ đi lại với chị K ( kém anh K 2
tuổi ). N không được sự quan tâm chăm sóc, vỗ về của mẹ từ lúc lên 3; bố cũng
- Giúp cá nhân nhấn mạnh những sức mạnh hoặc giá trị tiềm năng của họ, tác
động các mối quan hệ của họ thông qua mối quan hệ 1- 1 giữa nhân viên xã hội
với thân chủ và nhân viên công tác xã hội với đối tác có liên quan để thúc đẩy
việc cung cấp các dịch vụ xã hội, dịch vụ tâm lý, kinh tế,… giúp cho các thân chủ
thoát khỏi khó khăn về vật chất và tinh thần,giúp cho việc chữa trị phục hồi và
vận hành bình thường các chức năng xã hội của họ,giúp cho họ tự nhận thức được
bản thân.
- Giúp cho họ tự chủ trong việc giải quyết các vấn đề bằng chính khả năng của
họ.
1.2 Khái niệm trẻ em và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn:
*) Nhìn dưới góc độ xã hội học thì trẻ em là giai đoạn con người đang học
cách tiếp nhận những chuẩn mực của xã hội và đóng vai trò vai trò xã hội của
mình, đây là giai đoạn xã hội hoá mạnh nhất và là giai đoạn đóng vai trò quyết
định của việc hình thành nhân cách của mỗi con người.
*) Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:
1.3 Khái niệm người khuyết tật:
- Người khuyết tật: Là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể
hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả
năng hoạt động, khiến cho sinh hoạt, học tập và lao động gặp nhiều khó khăn.
- Gia đình có người khuyết tật: Là gia đình có vấn đề, trong đó có một hoặc
nhiều thành viên bị suy giảm hoặc khiếm khuyết về thể chất, tinh thần hoặc một
chức năng nào đó ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thành viên đó
nói riêng và gia đình cũng như xã hội nói chung.
1.4 Khái niệm công tác xã hội với trẻ em:
4
- Là hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã hội (NVXH)
chuyên nghiệp sử dụng, ở đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ
thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ trẻ em giải quyết những vấn đề về
nội tâm – tâm lý, quan hệ giữa trẻ em với mọi người xung quanh, với xã hội,
môi trường thông qua các mối quan hệ mặt đối mặt. Từ đó giúp trẻ em hòa nhập
5
- Chính sách về trợ giúp giáo dục:
Về vấn đề học tập của trẻ em đặc biệt khó khăn đã được đề cập đến trong
Luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991) có qui định tại Điều 11: “Trẻ em là con
liệt sĩ, thương binh nặng, trẻ em tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
được nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện cần thiết để đạt trình độ
giáo dục tiểu học”. Thực hiện các chính sách trên , hàng năm có trên 3 triệu học
sinh được miễn giảm học phí và được cấp vở viết, cho mượn sách giáo khoa và
hàng chục nghìn em được cấp học bổng với kinh phí trên 300 tỷ đồng/năm và có
xu hướng ngày càng tăng.
Trong 7 năm qua (2001-2007) hệ thống giáo dục trẻ em khuyết tật đã được
hình thành, đến nay 63 tỉnh, thành phố trong cả nước đã hình thành ban chỉ đạo
giáo dục trẻ em khuyết tật từ cấp Tỉnh đến cấp huyện.
- Chính sách về y tế, chỉnh hình phục hồi chức năng:
Để chăm sóc sức khỏe cho những người nghèo, trẻ em hoàn cảnh đặc biệt, từ
năm 1994 chính phủ đã ban hành nghị định 95/CP về việc thu 1 phần viện phí
.Năm 2002 Thủ Tướng Chính Phủ lại ban hành Quyết định số 139/2002/QĐ-
TTg về việc khám, chữa bệnh cho người nghèo.Trong đó người nghèo nói chung
và trẻ em nghèo nói riêng được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, được quyền
khám chữa bệnh tại các sơ sở không phải đóng tiền tạm ứng khi nhập viện.Tiếp
đó, Chính phủ cũng có nghị định số 63/2005/NĐ-CP ban hành kèm theo điều lệ
Bảo hiểm y tế, trong đó, xác định trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, được cấp thẻ BHYT với mệnh giá như
đối với đối tượng bắt buộc tham gia BHYT.
- Chính sách hỗ trợ học nghề, tạo việc làm:
6
Bộ tài chính và Ủy ban Bảo vệ chăm sóc trẻ em đã có Thông tư số 69/TTLB
lien tịch ngày 04/10/1997 “Hướng dẫn nội dung và mức chi của chương trình
chăm sóc và bảo vệ trẻ em”, bên cạnh đó cũng có một số chính sách, chương
trình khác hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong việc học nghề, tạo việc làm.
2.3. Thực trạng về đời sống của thân chủ, gia đình và cộng đồng có liên
quan đến thân chủ
*) Thân chủ là bé N.
N là một đứa trẻ khuyết tật (em bị teo một bên chân trái đây là hậu quả của
một trận sốt khi em mới được 2 tuổi). Năm lên 3, N phải sống xa người mẹ (chị
H), thiếu thốn tình cảm của mẹ đã là một thiệt thòi đối với em. Anh T, bố N
cũng không quan tâm thương yêu em. Sau khi mẹ em đi xuất khẩu lao động một
thời gian, bố em đã đưa chị K về sống không hôn thú và đã sinh được một bé
trai. Từ đó, N càng thiếu sự quan tâm của cha cộng thêm sự ghẻ lạnh của mẹ kế.
Em chỉ nhận được tình yêu thương của mẹ từ xa qua việc mẹ em gửi tiền về
lo đầy đủ cho N qua một người bạn gái thân của chị. Em cũng may mắn nhận
được sự yêu thương từ ông nội già yếu và các dì tuy không được thường xuyên
do nhiều nguyên nhân khách quan. Đây cũng là niềm an ủi phần nào cho em. Dù
còn ít tuổi nhưng N đã phải tự lập lo cho cuộc sống sinh hoạt của bản thân.
Hiện nay, em N sống trong điều kiện thiếu sự chăm sóc của cha mẹ, người
thân. Tuy nhiên, may mắn là em được đi học. Song ở trường em luôn bị bạn bè
trêu ghẹo do em không được bình thường như những trẻ em khác. Vốn tính nhút
nhát, mặc cảm tự ti em trở nên ít cười nói và khó hòa đồng với bạn bè. Em có
nguy cơ mắc bệnh trầm cảm điều này sẽ khiến em phát triển không bình thường
về mặt tâm lý dẫn đến em khó giao tiếp hòa nhập với cộng đồng nếu em không
được quan tâm giúp đỡ kịp thời.
*) Gia đình N:
Gia đình N có kinh tế khó khăn.Mẹ ruột N đi xuất khẩu lao động xa nhà, bố
lại lấy vợ hai không có hôn thú.Ông nội già yếu sống cùng bố, mẹ kế, N và em
trai (con của anh T và chị K).Gia đình N không có điều kiện quan tâm,chăm lo
cho em; ông nội em già yếu,mắt lòa dù thương em cũng không thể chăm sóc cho
em được nhiều. Còn bố và mẹ kế em lại mải lo công việc cũng không ngó ngàng
gì đến đời sống của N. Bà ngoại N thì dường như không ngó ngàng gì đến, vì bà
còn giận mẹ N. Các dì của N thương em nhưng sợ bà ngoại nên cũng không
thường xuyên chăm lo cho em N được.
ngoại
bỏ mặc
không
quan
tâm
Thiếu
sự
chăm
sóc
yêu
thươn
gcủa
cha
Thiếu
sự
chăm
sóc yêu
thươngc
ủa mẹ
Mẹ
kế
ghẻ
lạnh
Cô
giáo
chưa
quan
tâm,
giúp
đỡ
Giận
mẹ N
không
nghe lời
N
không
phải
là con
đẻ
Gia
đình N
không
quan
tâm
Bản
tính
nhút
nhát,
mặc
cảm
tự ti
Không
hợp
tuổi, gia
đình
anh T
khó
khăn
Lúc đầu
do kinh
Dì N Chị
H
Anh
T
Chị
K
N(8
tuổi)
Em trai
N
B.n
goạ
i
Ô.nội
X
11
X
X
1.3 Biểu đồ sinh thái gia đình em N:
BIỂU ĐỒ SINH THÁI GIA ĐÌNH EM N
Chú thích:
Tác động 2 chiều
Tác động 1 chiều
Ít tác động
Mẹ ruột N đi xuất khẩu lao động xa nhà, bố lại lấy vợ hai không có hôn
thú.Ông nội già yếu sống cùng bố, mẹ kế, N và em trai (con của anh T và chị
K).Gia đình N không có điều kiện quan tâm,chăm lo cho em; ông nội em già
yếu,mắt lòa dù thương em cũng không thể chăm sóc cho em được nhiều. Còn bố
và mẹ kế em lại mải lo công việc cũng không ngó ngàng gì đến đời sống của N.
Bà ngoại N thì dường như không ngó ngàng gì đến, vì bà còn giận mẹ N. Các dì
xung quanh
Điểm mạnh
-Được đi
học.
-Được chu
cấp đầy đủ
vật chất.
-Có tính
tự lập từ
nhỏ.
-Gia
đình
không
mâu
thuẫn.
-Không
có
hành vi
bạo
lực.
-Có
quan
hệ ruột
thịt.
-Thương
con.
-Có thu
nhập
khá.
-Có
hoàn cảnh.
- Mẹ lo chu cấp
vật chất.
Điểm yếu
-Thể trạng
yếu,bị teo
1 bên chân
trái.
-Tính nhút
nhát, mặc
cảm, tự ti.
-Ít giao
tiếp.
-Có gia
đình
mới
(không
có hôn
thú).
-Ít
quan
tâm N
-Ở xa.
-Mải mê
làm giàu.
-Không
chăm
sóc N.
-Không
quan
phức hợp giữa xung năng với các kinh nghiệm thời niên thiếu của họ. Hành vi
của con người là kết quả của cách nuôi dạy, đối xử của bố mẹ khi họ còn ở thời
niên thiếu đặc biệt là trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời. Ảnh hưởng này mang
tính mạnh mẽ, lâu dài cho đến tận những giai đoạn phát triển sau này của con
người.
Như vậy với trường hợp của N : Từ quan điểm của Freud, Nhân viên xã
hội có thể lý giải được những biểu hiện hành vi: mặc cảm, tự ti, ít nói cười và
ngại giao tiếp. Đó chính là sự thiếu quan tâm, thiếu tình yêu thương, đặc biệt là
sự giáo dục, uốn nắn và khích lệ N trò chuyện giao tiếp với mọi người xung
quanh từ người thân. Chính điều đó khiến N cảm thấy lạc lõng, ngại giao
tiếp.Dần dần hình thành nên cho N tính cách ít nói cười đó là nguy cơ tiềm ẩn
của bệnh trầm cảm, không biết tâm sự với ai khi mà những người thân của N
cũng không lắng nghe những tâm sự và tạo được lòng tin nơi em.
Mặc cảm vì bị tàn tật khiến em cảm thấy mình không có ích với mọi
người, không được mọi người quan tâm.
Khi còn nhỏ trẻ chưa ý thức được đúng sai nếu thiếu sự quan tâm, dạy
bảo, hướng dẫn của cha mẹ trẻ dễ có hành vi sai lệch ảnh hưởng đến sự phát
triển nhân cách, tâm lý của trẻ. Đặc biệt sự ảnh hưởng này thường mang tính lâu
dài và sâu sắc, nó in sâu vào não trẻ nếu không tác động, điều chỉnh kịp thời thì
dễ dẫn đến hậu quả khó lường.
2.2. Thuyết nhận thức.
Khi còn nhỏ: trẻ học được những cái ý thức, thái độ của người khác và
họ luôn luôn muốn thể hiện điều mong muốn với mọi người. N đã muốn được
tâm sự, trò chuyện với mọi người về chuyện học hành, về những điều em không
biết trong cuộc sống, nhưng em không được mọi người trong gia đình nhất là
những người gần gũi như bố, mẹ kế lắng nghe, quan tâm; Ở trường bạn bè lại
hay trêu trọc khiến N cảm thấy mình bị kém cỏi; vì vậy N đã chọn cách im lặng,
xa lánh, không muốn giao tiếp với mọi người do mặc cảm, thiếu tự tin. Em
không nhận thức được rằng hành vi của mình như vậy sẽ khiến mình càng xa
cách khó hòa đồng với mọi người hơn.Và điều này sẽ ảnh hưởng không tốt tới
thống tác động thường xuyên tới N. Những hệ thống này ảnh hưởng tới sự giao
tiếp và tự tin của N. Cũng như ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách và tâm lý
của em. Các hệ thống này cung cấp, đáp ứng những nhu cầu về tình cảm, sự yêu
thương, chăm sóc, lòng tin, mối quan hệ giao tiếp của N với môi trường xung
quanh. Những hệ thống này có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hành vi
nhận thức và phát triển nhân cách tâm lý của N.
15
Còn hệ thống chính thức có tác động làm việc hỗ trợ, giúp thay đổi nhận
thức hành vi của N.
Từ đó cần huy động tất cả các hệ thống tham gia vào kế hoạch giải quyết
vấn đề của N.
3. Lập kế hoạch và xác dịnh mục tiêu cần giúp đỡ bé N:
3.1 Kế hoạch trị liệu:
Từ những thông tin thu thập được và qua các cuộc gặp gỡ ban đầu với bé N
va những người có liên quan. Sau khi xác định vấn đề và thảo luận các mục tiêu
cụ thể, NVCTXH đưa ra kế hoạch trị liệu cụ thể và đã được đối tượng, những
người có liên quan thông qua.
STT Mục tiêu cụ
thể
Hoạt động Nguồn lực Thời gian Kết quả
mong đợi
Bên
trong
Bên
ngoài
Bắt
đầu
Kết
thúc
1 Tránh việc
N
Ông nội Hàng
xóm
NVX
H
8h30
17/5/
2013
10h
17/5/2
013
Bố quan
tâm yêu
thương N
hơn
3 Có sự quan
tâm của bà
ngoại
Tham vấn cho bà
ngoại
Dì ruột Hội
PN,
NVX
H
9h
20/5/
2013
10h30
20/5/2
013
25/5/2
013
Mẹ kế
quan tâm
hơn đến N
16
H
6 Giải quyết
xung đột
giữa bố N
với bà ngoại
và dì N
Tham vấn cho bố
N, bà ngoại và dì
N.
NVX
H,
Hội
PN
8h
30/5/
2013
10h
30/5/2
013
Xung đột
được giải
quyết để N
cảm nhận
sự yêu
tham gia. Có như vậy mới lôi kéo được sự tham gia của N với các bạn.
- Sự có mặt của cô giáo, dì N và ông nội N chia quà cho N và các bạn cùng
lớp với N sẽ khuyến khích làm N cảm thấy tự tin và vui vẻ hơn, tự tin hơn khi
chơi cùng các bạn.
- Nhờ cô giáo, dì N và ông nội N quan tâm giúp đỡ N nhiều hơn.
*) Tham vấn cho bố N quan tâm hơn đến N:
- Gặp gỡ bố N, mẹ kế và ông nội N trò chuyện.
- Nói chuyện và giải thích cho bố N hiểu được nguy cơ mắc bệnh trầm cảm,
hậu quả nếu N mắc phải bệnh trầm cảm.
- Với sự hỗ trợ và giải thích của ông nội N.
- Nhờ sự giải thích của NVXH và ông nội của N, hàng xóm nhà N bố N đã
hiểu ra được vấn đề cần giải quyết của N.
- Bố N cũng đã nhận ra được sai lầm của minh đã coi nhẹ vấn đề của N và đã
thiếu sự quan tâm đến N.
17
- Bố N hứa sẽ quan tâm, trò chuyện với N thường xuyên hơn.
*) Tham Vấn cho bà ngoại N:
- NVXH cùng cán bộ hội phụ nữ xã đến gặp bà ngoại N và dì ruột N.
- Được dì N nói chuyện trước nên bà ngoại N rất sẵn sàng gặp gỡ NVXH và
cán bộ hội phụ nữ xã trò chuyện về vấn đề của N.
- Biết được vấn đề của N bà ngoại N rất thương em và rất muốn giúp đỡ em
tránh nguy cơ mắc bệnh trầm cảm.
- Bà ngoại N đồng ý gặp gỡ và quan tâm đến N nhiều hơn.
*) Thông qua dì ruột của N và cô V bạn thân của mẹ N để liên lạc với mẹ N:
- Nhờ dì ruột và cô V liên lạc thông báo cho mẹ N biết tình trạng của N.
- Giải thích cho mẹ N hiểu sự quan tâm về tinh thần của người mẹ đối với N
là rất quan trọng. Không chỉ quan tâm về vật chất mà cần quan tâm về tinh thần,
đây chính là tác động, ảnh hưởng lớn tới sự phát triển nhân cách cũng như tâm
lý của N.
- Mẹ N đã nhận ra tầm quan trọng của sự quan tâm của minh tới N.
Các em đã ăn gì chưa?
- Các bạn N: Dạ…! Rồi ạ!
(N vẫn đứng tách riêng một chỗ)
Sử dụng kỹ năng quan
sát.
- NVXH: Vậy bây giờ chúng ta sẽ chơi
trò chơi, được không? N ra đây chơi
cùng các bạn nhé! Chúng ta sẽ xếp
thành vòng tròn. Các em có thích chơi
trò “ Bịt mắt bắt dê’’ không?
- Các bạn N: Có ạ!
Sử dụng kỹ năng khích
lệ, đặt câu hỏi, quan
sát.
N tỏ ra thích thú
nhưng không trả
lời câu hỏi.
- NVXH: Các em biết luật chơi rồi,bây
giờ chúng ta oẳn tù tì xem ai phải bịt
mắt nhé!
- Các bạn N: Bạn A phải bịt mắt rồi!
- NVXH: Được rồi, các em nắm tay
nhau và chạy thành vòng tròn và nhớ
đừng thả tay ra nhé. Bắt đầu nào,…
(Trò chơi diễn ra)
Sử dụng kỹ năng tổ
chức trò chơi.
Ban đầu N còn
rụt rè, sau bị
không khí của
vẫn rụt rè.
- Cô giáo: Các em nhớ chia đều cho Cô giáo giúp định N hòa mình vào
19
nhau nhé!
- Dì N: N cũng thích ăn thạch phải
không? Cháu ra ăn cùng các bạn đi.
(N từ từ đi về phía các bạn).
hướng hành vi tích cực
cho trẻ. Dì N tác động
khuyến khích N.
các bạn không bị
tách biệt
(Các bạn N và N ăn quà, có trò chuyện
với nhau).
- NVXH: N à! Em thấy chơi như thế
này có vui không?
(N mắt tươi vui, nhoẻn cười)
- NVXH: Thế thì từ nay em sẽ chơi
với mọi người vui vẻ như thế được
không?
- N: Vâng ạ!
- NVXH: (Quay sang cô giáo): Ban
đầu N còn rụt rè, mong cô tác động cả
hai phía giúp cháu hòa đồng với các
bạn.
- Cô giáo: Lâu nay tôi chưa lưu ý
nhiều các hoạt động vui chơi ngoài giờ
của học sinh. Đúng như chị nói thì sẽ
giúp ích cho N rất nhiều
Sử dụng kỹ năng đặt
câu hỏi, Khẳng định
sự giúp đỡ của mọi
người xung quanh tạo
niềm tin cho N
N thấy yên tâm
hơn, bạo dạn
hơn.
- NVXH: Từ bây giờ chúng ta sẽ tập Sử dụng kỹ năng lãnh
20
trung vào các hoạt động vui chơi của
cháu ở lớp và sự quan tâm của người
thân trong gia đình. Nếu có gì không
ổn chúng ta có thể gặp mặt và tiếp tục
bàn hướng triển khai giúp cháu hòa
nhập tốt hơn, được chứ ạ?
- Dì N: Tốt nhất việc này không thể
một sớm một chiều được mà phải dần
dần.
- Cô giáo: Tôi sẽ khuyến khích cháu
vui chơi và tham gia các hoạt động ở
lớp để cháu tự tin, hòa đồng hơn.
- NVXH: Tất cả mọi người có đồng ý
như vậy không ạ?
- Mọi người: Nhất trí
- NVXH: Buổi làm việc của chúng ta
hôm nay có thể tạm dừng ở đây.
Mọi người ra về
đạo, dẫn dắt vấn đề.
Sử dụng kỹ năng đặt
câu hỏi.
vai trò của mình trong việc giải quyết vấn đề của N.
- Những người thân và những người có liên quan sẵn sàng giúp đỡ: Cung
cấp thông tin, tham gia vào kế hoạch trị liệu.
- Huy động được sự tham gia của các nguồn lực vào quá trình giải quyết
vấn đề.
- Sự thay đổi nhanh chóng theo chiều hướng tốt của N. Đã đạt được một
số mục tiêu đề ra.
Lấy mục tiêu giúp N tự tin hơn trong giao tiếp có được sự quan tâm của
mọi người xung quanh làm tiêu chí để đánh giá.
6.2. Sự thay đổi của N, NVXH.
*) Đối với N:
- Đã tự tin hơn, vui vẻ và nói cười nhiều hơn.
- Hòa nhập và tham gia với bạn bè ở trường lớp.
- Gần gũi với người thân nhiều hơn.
- Học tập tốt hơn.
- Sức khỏe đã tiến triển theo chiều hướng tốt.
*) Đối với NVXH.
- Đã vận dụng được các kỹ năng trong quá trình giúp đỡ.
- Xác định được hướng đi đúng để giải quyết vấn đề của N.
- Có kế hoạch rõ rang, cụ thể cho các hoạt động giúp đỡ.
- Khai thác tốt các nguồn lực và sự tham gia trợ giúp của những người có
liên quan.
- Điều phối tốt trong các buổi tham vấn.
22
III- KẾT LUẬN
Con người trong xã hội không ai có thể tránh khỏ những rủi ro gặp phải
trong cuộc sống. Họ cần được sự giúp đỡ từ người thân, gia đình, cộng đồng và
xã hội. Nhân viên công tác xã hội là những người luôn sẵn sàng giúp đỡ họ với
những giá trị, đạo đức và nguyên tắc nghề nghiệp cùng với lòng nhiệt tình, sự
yêu thương, đồng cảm giữa con người với con người.