BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA HÓA HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học hóa học
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG
THÍ NGHIỆM GẮN KẾT CUỘC SỐNG
TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC PHẦN VÔ CƠ
LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
GVHD : TS. Phan Đồng Châu Thủy
SVTH : Hoàng Khánh Linh
Khóa
: K39
Thành phố Hồ Chí Minh – 2017
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin dành lời cảm ơn chân thành đến TS. Phan Đồng Châu Thủy, giáo viên
hướng dẫn của tôi vì cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt thời
gian thực hiện đề tài. Sự tâm huyết của cô chính là nguồn động lực to lớn để tôi hoàn
thành khóa luận này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn Nguyễn Hoàng Huy, Đỗ Thị Phương Ngọc,
Đặng Hữu Toàn, sinh viên khóa K39, các bạn đã giúp đỡ tôi khi gặp phải những khó
khăn lúc thực hiện đề tài. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các bạn Nguyễn Thành
1.2.2. Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học .....................................................10
1.2.3. Một số phương pháp dạy học môn Hóa học ở trường THPT .......................11
1.2.4. Những biện pháp đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa học ở trường
THPT ......................................................................................................................13
1.3. Thí nghiệm hóa học gắn kết với cuộc sống.........................................................15
1.3.1. Khái niệm thí nghiệm hóa học ......................................................................15
1.3.2. Vai trò của thí nghiệm trong dạy học môn Hóa học ở trường THPT ...........15
1.3.3. Phân loại và sử dụng thí nghiệm trong dạy học môn Hoá học ở trường
THPT ......................................................................................................................17
1.3.4. Khái niệm thí nghiệm hóa học gắn kết cuộc sống ........................................21
1.3.5. Yêu cầu cần đạt của thí nghiệm hóa học gắn kết cuộc sống ........................21
1.4. Thực trạng sử dụng thí nghiệm trong dạy học môn Hóa học ở một số trường
THPT tại Tp.HCM và Tp. Vũng Tàu .........................................................................23
1.4.1. Mục đích điều tra ..........................................................................................23
1.4.2. Đối tượng và phương pháp điều tra ..............................................................23
1.4.3. Kết quả điều tra .............................................................................................23
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ................................................................................................38
Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM HÓA HỌC GẮN KẾT CUỘC
SỐNG TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC PHẦN VÔ CƠ LỚP 11 ................................39
iii
2.1. Phân tích nội dung chương trình Hóa học phần Vô cơ lớp 11............................39
2.1.1. Cấu trúc và nội dung chương trình phần Hóa học phần Vô cơ lớp 11 .........39
2.1.2. Chuẩn kiến thức kĩ năng phần Hóa học Vô cơ lớp 11 ..................................40
2.1.3. Các phương pháp dạy học phần Hóa học Vô cơ lớp 11 ...............................43
2.2. Các nguyên tắc thiết kế các thí nghiệm hóa học gắn kết cuộc sống ...................44
2.3. Quy trình thiết kế các thí nghiệm hóa học gắn kết cuộc sống ............................45
2.4. Giới thiệu các thí nghiệm gắn kết cuộc sống đã thiết kế và cách sử dụng các thí
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .....................................................................................110
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................112
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- ĐC
: Đối chứng
- IGCSE
: International General Certificate of Secondary Education
(Chứng chỉ giáo dục trung học Quốc tế)
- NQ
: Nghị quyết
- NXB
: Nhà xuất bản
- PGS
: Phó giáo sư
- PTCS
: Trung ương
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1.
Ưu điểm và hạn chế của thí nghiệm hóa học gắn kết cuộc sống ............ 22
Bảng 1.2. Ý kiến của học sinh về lợi ích của thí nghiệm hóa học .......................... 26
Bảng 1.3.
Mong muốn của học sinh trong tiết học hóa học .................................... 27
Bảng 1.4. Đánh giá của giáo viên về hiệu quả của thí nghiệm gắn kết cuộc sống
trong dạy học hóa học ............................................................................. 33
Bảng 1.5. Đánh giá của giáo viên về các biện pháp giúp nâng cao hiệu quả sử
dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học THPT ....................................... 34
Bảng 2.1. Cấu trúc nội dung chương trình Hóa học phần Vô cơ lớp 11 Cơ bản .... 39
Bảng 2.2. Chuẩn kiến thức, kĩ năng chương 1 “Sự điện li” và phần Cacbon và
hợp chất của cacbon ở chương 3 “Cacbon – Silic” ở chương trình Hóa
học lớp 11 ................................................................................................ 40
Bảng 2.3. Các thí nghiệm hóa học gắn kết cuộc sống đã thiết kế ........................... 45
Bảng 3.1. Danh sách các trường lớp và giáo viên tham gia thực nghiệm sư phạm 90
Bảng 3.2.
Giáo án thực nghiệm và thí nghiệm được sử dụng trong giáo án ........... 91
Bảng 3.3.
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1.
Biểu đồ thái độ, hứng thú của học sinh đối với bộ môn Hóa học ........... 23
Hình 1.2.
Biểu đồ nhận xét của học sinh về chương trình Hóa học hiện tại........... 24
Hình 1.3.
Biểu đồ mức độ thường xuyên học với các thí nghiệm hóa học của
học sinh ................................................................................................... 25
Hình 1.4.
Biểu đồ tiết học học sinh thường được học với thí nghiệm .................... 25
Hình 1.5.
Biểu đồ mức độ thường xuyên học với các thí nghiệm hóa học gắn
kết cuộc sống của học sinh...................................................................... 28
Hình 1.6.
Biểu đồ thái độ, hứng thú của học sinh đối với thí nghiệm gắn kết
cuộc sống................................................................................................. 28
Hình 1.7.
Hình 2.4.
Màu sắc của nước hoa hồng trong các môi trường ................................. 48
Hình 2.5.
Màu của chất chỉ thị vạn năng (thuốc thử MERCK của Đức) ở các
giá trị pH khác nhau ................................................................................ 50
Hình 2.6.
Môi trường của một số dung dịch quen thuộc ........................................ 52
Hình 2.7.
Hiện tượng khi cho dung dịch phèn xanh vào dung dịch bột thông
cống ......................................................................................................... 54
viii
Hình 2.8.
Hiện tượng khi cho dung dịch bột nở vào dung dịch nước vôi trong ..... 54
Hình 2.9.
Hiện tượng khi cho nước vôi trong lần lượt vào các dung dịch chỉ
thị ............................................................................................................ 56
Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra của học sinh ở lớp TN1 và lớp
ĐC1 ......................................................................................................... 97
Hình 3.5.
Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra của học sinh ở lớp TN2 và lớp
ĐC2 ......................................................................................................... 98
Hình 3.6.
Biểu đồ phân loại kết quả kiểm tra của học sinh ở lớp TN3 và lớp
ĐC3 ......................................................................................................... 99
Hình 3.7.
Học sinh lớp 11B2 trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh làm thí
nghiệm trong bài 15 “Cacbon” ............................................................. 101
ix
Hình 3.8.
Học sinh lớp 11A8 trường THPT Nguyễn Công Trứ làm thí
nghiệm trong bài 15 “Cacbon” ............................................................. 102
Hình 3.9.
Học sinh lớp 11B15 trường THPT Bình Hưng Hòa làm thí nghiệm
công nghệ và kinh tế tri thức”[8]. Nhằm thực hiện nhiệm vụ trên, Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã đưa ra Nghị quyết 29_NQ/TW với giải pháp “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và
đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm
chất, năng lực của người học” [4], định hướng đổi mới nền giáo dục nước ta từ chủ
yếu trang bị kiến thức sang hình thành và phát triển năng lực người học. Với định
hướng đổi mới trên, một số giáo viên đã quyết định đưa các thí nghiệm hóa học vào
bài giảng của mình nhằm giúp học sinh hiểu kiến thức sâu hơn, khơi dậy tính tò mò
khoa học, rèn luyện kĩ năng thực hành, quan sát hiện tượng và thói quen giải quyết vấn
đề bằng khoa học.
Tuy nhiên, chỉ thí nghiệm hóa học không chưa đủ vì học sinh vẫn còn thấy Hóa
học là một môn học khô khan, khó hiểu, không gắn liền với cuộc sống hàng ngày. Các
em vẫn chỉ biết về các chất hóa học và thấy hiện tượng xảy ra qua mô tả của sách giáo
khoa, của giáo viên, hoặc ngay cả khi được vô phòng thí nghiệm, các em vẫn chỉ thấy
2
dung dịch riêng biệt của từng chất mà không biết được chất này có ở đâu trong môi
trường xung quanh các em. Và hơn hết, thời gian lên phòng thí nghiệm thực hành
trong một năm học của các em chỉ chiếm khoảng 10% tổng số tiết theo phân phối
chương trình, và các thí nghiệm này cũng khó thực hiện lại tại nhà làm cho kĩ năng
thực hành và khả năng vận dụng kiến thức của các em không được rèn luyện nhiều.
Từ những lí do trên, với mong muốn góp phần đổi mới phương pháp dạy hóa
học ở trường Trung học phổ thông (THPT) và nhằm phát triển năng lực cho học sinh,
giúp các em có thể dễ dàng thực hiện lại thí nghiệm tại nhà, chúng tôi đã chọn đề tài:
“THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM GẮN KẾT CUỘC SỐNG TRONG
DẠY HỌC HÓA HỌC PHẦN VÔ CƠ LỚP 11 THPT”
2. Mục đích nghiên cứu
Thiết kế và sử dụng các thí nghiệm gắn kết cuộc sống hàng ngày trong dạy học
- Nội dung nghiên cứu: chương trình Hóa học phần Vô cơ lớp 11 THPT,
chương trình cơ bản.
- Địa bàn nghiên cứu: một số trường THPT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
(Tp.HCM) và trường THPT Vũng Tàu, Tp. Vũng Tàu.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và sử dụng các thí nghiệm gắn kết cuộc sống đảm bảo tính khoa
học, trực quan, sinh động trong dạy học môn Hóa học phần Vô cơ lớp 11 THPT thì
góp phần nâng cao khả năng vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn cho học sinh.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Thu thập, đọc và phân tích, tổng hợp các tài liệu trong nước và ngoài nước về
lí luận dạy học và các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài.
- Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, hệ thống
hóa, khái quát hóa,… trong nghiên cứu các tài liệu có liên quan tới sử dụng thí nghiệm
hóa học và thí nghiệm gắn kết cuộc sống trong chương trình Hóa học phần Vô cơ lớp
11 THPT.
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng bảng hỏi đối với học sinh và giáo viên về thực trạng sử dụng thí
nghiệm hóa học và thí nghiệm gắn kết cuộc sống trong dạy học hóa học ở trường
THPT.
- Trao đổi kinh nghiệm, lấy ý kiến của các chuyên gia, giảng viên về các đề
xuất trong đề tài.
4
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm giá trị thực tiễn, tính khả thi và hiệu
quả của các kết quả nghiên cứu.
đại diện cho hiện thực khách quan, là cơ sở và điểm xuất phát cho quá trình học tập –
nhận thức của học sinh. Thí nghiệm hóa học còn giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng
thực hành, phát triển tư duy, năng lực và góp phần nâng cao hứng thú học tập.
Do đó, với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học thì không thể bỏ qua nghiên
cứu về thí nghiệm hóa học, tăng cường thí nghiệm vào bài học nhằm nâng cao sự hứng
thú của học sinh đối với môn học. Nhiều tác giả đã nghiên cứu đề tài liên quan đến sử
dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học như:
Luận án Phó Tiến sĩ “Hoàn thiện hệ thống thí nghiệm hóa học để nâng cao chất
lượng dạy – học ở trường PTCS Việt Nam” của tác giả Trần Quốc Đắc (1992) [9] đã
hoàn thiện hệ thống thí nghiệm hóa học ở trường THCS bao gồm 105 thí nghiệm biểu
diễn và 27 thí nghiệm thực hành. Tuy phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ nằm trong
chương trình Hóa học THCS nhưng luận án có tính khoa học cao và có thể vận dụng
một phần nào kết quả nghiên cứu vào chương trình THPT của đề tài.
Khóa luận tốt nghiệp “ Nâng cao chất lượng dạy học phần: Halogen – Oxi –
Lưu huỳnh thông qua việc kết hợp sử dụng phương pháp dạy học thích hợp với thí
nghiệm hóa học” của tác giả Nguyễn Ngọc Quế Hương (2001) [15] đã thiết kế được
11 giáo án sử dụng các phương pháp dạy học phối hợp với 25 thí nghiệm hóa học
nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo, phát triển tư duy, hứng thú của học sinh đối với
bài giảng của giáo viên ở phần Halogen – Oxi – Lưu huỳnh của chương trình hóa học
lớp 10.
Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học “Sử dụng thí nghiệm và các phương tiện kỹ
thuật dạy học để nâng cao tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập Hóa học
lớp 10, lớp 11 trường Trung học phổ thông ở Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Hoa
(2003) [13] đã đề xuất các giải pháp tăng cường sử dụng thí nghiệm và biện pháp tiết
6
kiệm thời gian và công sức khi chuẩn bị thí nghiệm cho một giờ lên lớp; xác định danh
mục thí nghiệm do học sinh tự làm khi học bài mới, xác định danh mục thí nghiệm do
7
tích cực và thiết kế được 6 giáo án sử dụng thí nghiệm ở lớp 10 THPT theo hướng tích
cực. Qua kết quả thực nghiệm, đề tài cũng rút ra được kết luận nếu giáo viên tiến hành
dạy học có sử dụng thí nghiệm theo hướng dạy học tích cực thì kết quả dạy học được
nâng cao.
Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học “Sử dụng thí nghiệm để tạo tình huống có vấn
đề trong dạy học Hóa học ở trường Trung học phổ thông” của tác giả Khúc Thị Thanh
Huê (2012) [14] đã đề xuất được hệ thống gồm 32 thí nghiệm tạo tình huống có vẫn đề
và quy trình dạy học sinh giải quyết vấn đề cho 32 thí nghiệm đó. Bên cạnh đó, đề tài
còn phân tích vai trò của thí nghiệm trong việc xây dựng tình huống có vấn đề, đề xuất
những định hướng khi lựa chọn và các bước sử dụng thí nghiệm tạo tình huống có vấn
đề.
Khóa luận tốt nghiệp “Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh thông
qua các thí nghiệm hóa học lớp 10 chương trình Nâng cao” của tác giả Vũ Thị Cẩm
Nga (2015) [17] đã đề xuất 5 biện pháp và 6 phương pháp sử dụng thí nghiệm hóa học
theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học hóa học ở
trường phổ thông. Mặt khác, đề tài cũng đã giới thiệu 5 giáo án sử dụng thí nghiệm ở
lớp 10 THPT chương trình nâng cao theo hướng dạy học tích cực hóa hoạt động nhận
thức của học sinh.
Khóa luận tốt nghiệp “Sử dụng thí nghiệm liên hệ đời sống trong dạy học Hóa
học bằng tiếng Anh (Chương trình THPT Quốc tế IGCSE)” của tác giả Nguyễn Thị
Thành Nhơn (2016) [18] đã đề xuất những nguyên tắc, các bước trong quy trình thiết
kế thí nghiệm hóa học liên hệ đời sống. Đồng thời, đề tài cũng đã thiết kế 18 thí
nghiệm liên hệ đời sống thuộc 5 chủ đề và 3 bộ hồ sơ bài dạy có sử dụng thí nghiệm
liên hệ đời sống trong quá trình dạy môn Hoá học bằng tiếng Anh theo chương trình
THPT quốc tế IGCSE. Kết quả cho thấy đa số học sinh có hứng thú hơn với tiết học có
sử dụng thí nghiệm liên hệ đời sống, hiểu bài và làm bài tốt hơn.
Các đề tài trên nhìn chung đã đề cập đến việc sử dụng thí nghiệm hoá học trong
quá trình dạy học nhằm nâng cao hứng thú của học sinh, nâng cao chất lượng dạy và
5. Sự thay đổi các phương tiện và phương pháp dạy học: phương pháp thuyết
giảng của giáo viên sẽ dần thay thế bởi các phương pháp dạy học mới như phương
pháp hoạt động nhóm, dạy học dự án, sử dụng phương tiện trực quan,… được hệ thống
và kết hợp nhuần nhuyễn, đa dạng với nhau.
6. Không gian giáo dục và các loại hình đào tạo được mở rộng. Trước kia học
sinh muốn đi học thì phải đi đến trường, thì bây giờ học sinh có thể ngồi ở nhà và học
9
trực tuyến với giáo viên giúp cho những học sinh có khó khăn về đi lại vẫn có thể tiếp
cận được kiến thức. Nếu như trước kia học sinh chỉ có những tiết học trên lớp, học
thông qua bài giảng của thầy cô thì giờ đây học sinh còn có những tiết học ngoại khóa,
giúp học sinh được tiếp xúc nhiều hơn với môi trường xung quanh.
7. Xuất khẩu giáo dục là một lợi thế đem lại nguồn thu nhập cao cho các cường
quốc giáo dục.
Đứng trước sự biến đổi của giáo dục ở thế kỉ 21, Ban chấp hành Trung ương
Đảng đã ra Nghị quyết số 29-NQ/TW (2013) nhằm định hướng đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và
học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy
móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học
tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu
trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại
khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông
trong dạy và học.”[4]
Và trong tài liệu “Hỏi - Đáp về một số nội dung đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo”, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng giải thích rõ về mục tiêu giáo dục toàn
diện: “Trước đây mục tiêu giáo dục toàn diện thường được hiểu đơn giản là: Học sinh
phải học đầy đủ tất cả các môn học thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã
sang yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức được học vào cuộc sống, giải quyết
những vấn đề thực tiễn.
4. Cá thể hóa việc dạy học: chia nhỏ lớp, dạy học theo nhóm nhỏ,… nhằm mục
dích dạy học thích ứng với năng lực và điều kiện của từng người học ở mức độ từ thấp
tới cao.
5. Dạy học hợp tác. Tăng cường quan hệ giữa các thành viên trong lớp học với
nhau nhằm giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp và năng lực hợp tác.
6. Tăng cường sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học, đặc biệt là tin học và
công nghệ thông tin nhằm cải thiện bài giảng, giúp học sinh tích cực hơn trong học
tập.
7. Đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm kiểm tra trí nhớ đơn thuần mà thêm vào
kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức nhằm giúp học sinh phát triển năng lực
tư duy, năng lực giải quyết vấn đề và giảm bớt tình trạng học sinh chỉ thuộc lí thuyết
nhưng không vận dụng được lí thuyết đó vào cuộc sống.
11
8. Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao.
Trong 8 xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thì xu hướng phát huy
tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học tuy là quan trọng nhất, nhưng
đối với quá trình dạy học môn Hóa học thì xu hướng tăng cường sử dụng tối ưu các
phương tiện dạy học cũng quan trọng không kém. Các phương tiện dạy học có thể là
những phương tiện trực quan như hình ảnh, biểu đồ, … cũng có thể là thí nghiệm hóa
học. Hóa học là môn học thực nghiệm, lại có nhiều lí thuyết nên nếu không sử dụng
những phương tiện trực quan, thí nghiệm hóa học thì có thể gây khó khăn cho việc tiếp
thu bài mới của học sinh, nhất là những bài về định luật, học thuyết và nghiên cứu chất
mới.
1.2.3. Một số phương pháp dạy học môn Hóa học ở trường THPT
Phương pháp là cách thức, phương tiện, là hỗ trợ mà trí tuệ phải đi theo để tìm
này lại khá tốn thời gian và giáo viên dễ bị động khi học sinh hỏi lại nếu chưa
chuẩn bị trước những câu hỏi mà học sinh có thể hỏi.
+ Phương pháp dùng sách giáo khoa và các nguồn tài liệu học tập khác:
học sinh sẽ tìm hiểu sách giáo khoa và một số tài liệu học tập để rút ra được
kiến thức bài học. Ưu điểm của phương pháp này là học sinh có thể rèn luyện
khả năng tự học của bản thân bằng cách tự tổng hợp và tìm kiếm tại liệu. Tuy
nhiên, nếu giáo viên không cung cấp đúng nguồn tài liệu cho học sinh thì học
sinh có thể hiểu sai kiến thức bài học.
- Nhóm phương pháp trực quan: giáo viên sẽ sử dụng các phương tiện trực quan
– bao gồm dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kĩ thuật từ đơn giản đến phức tạp – trong quá
trình dạy học để làm cơ sở và tạo điều kiện thuận lợi cho sự lĩnh hội kiến thức, kĩ
năng, kĩ xảo của học sinh. Trong phương pháp này, thí nghiệm hóa học là dạng
phương tiện trực quan chính yếu, được dùng phổ biến và giữ vai trò quyết định trong
quá trình dạy học Hóa học. Ưu điểm của nhóm phương pháp này là nâng cao sự tập
trung của học sinh, giúp học sinh dễ tiếp thu bài, nhớ lâu và học sinh còn được rèn kĩ
năng quan sát, thực hành. Song, khuyết điểm là nhóm phương pháp này lại phụ thuộc
khá nhiều vào điều kiện vật chất, trang thiết bị tại cơ sở dạy học và tốn thời gian chuẩn
bị.
- Nhóm phương pháp thực hành: trong nhóm phương pháp này, giáo viên sẽ
cho học sinh làm thí nghiệm, nghiên cứu và làm bài tập. Ưu điểm của phương pháp
này là học sinh tự lực, tích cực, sáng tạo, ghi nhớ kiến thức lâu; học sinh tiếp thu kiến
13
thức sâu sắc và vững chắc; học sinh còn được rèn kĩ năng vận dụng kiến thức và giải
quyết vấn đề. Song, khuyết điểm của phương pháp này là khá tốn thời gian; phương
pháp nghiên cứu thì chỉ áp dụng được với một số nội dung bài học; phương pháp làm
bài tập thì ít được sử dụng khi dạy kiến thức mới.
Bên cạnh 3 nhóm phương pháp trên thì dạy học hóa học còn có phương pháp
Định hướng này đòi hỏi phương pháp dạy học môn Hóa học ở trường THPT cũng phải
đổi mới theo một số biện pháp sau [22]:
- Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống: Đổi mới không có nghĩa là
loại bỏ các phương pháp truyền thống mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao
hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Vì các phương pháp truyền thống có
những hạn chế tất yếu, nên bên cạnh các phương pháp truyền thống ta cần kết hợp sử
dụng các phương pháp dạy học mới.
- Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học: đây là phương hướng quan trọng
để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học. Trong đó, ta cần chú trọng
vận dụng, kết hợp một số phương pháp dạy học tích cực sau với các phương pháp
khác:
+ Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề: dạy học giải quyết vấn đề là quan
điểm dạy học nhằm phát triển tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết các tình
huống có vấn đề của học sinh. Các tình huống có vấn đề trong phương pháp này
có thể là những tình huống khoa học chuyên môn, mà cũng có thể là những tình
huống gắn với thực tiễn.
+ Vận dụng dạy học theo tình huống: dạy học theo tình huống là việc dạy
học được tổ chức theo một chủ để phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn
cuộc sống và nghề nghiệp. Đây là con đường quan trọng để gắn việc đào tạo
trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phần khắc phục tình trạng giáo dục
hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của chương trình dạy học Hóa học hiện nay.
+ Vận dụng dạy học định hướng hành động: trong quá trình học tập có sử
dụng dạy học định hướng hành động, học sinh phải thực hiện các nhiệm vụ học
tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt
động trí tuệ và hoạt động tay chân. Hình thức điển hình của dạy học định hướng
hành động chính là dạy học dự án.
- Tăng cường sử dụng thí nghiệm và phương tiện trực quan trong dạy học Hóa
học: phương tiện trực quan, thí nghiệm hóa học có vai trò rất quan trọng trong việc đổi
mới phương pháp dạy học. Phương tiện trực quan và thí nghiệm hóa học giúp học sinh
không cho 02 dung dịch này tiếp xúc với nhau, áp suất trong ngăn được điều
chỉnh bởi chốt an toàn và van bóp. Khi kéo chốt an toàn, lắc lên lắc xuống bình
thì 02 dung dịch phản ứng tạo ra CO 2 , CO 2 được đưa ra ngoài bởi van bóp [23].