BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
--------------------
TRẦN THẢO DUYÊN
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
--------------------
TRẦN THẢO DUYÊN
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
PHÒNG NGỪA RỦI RO TÀI CHÍNH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS TRẦN NGỌC THƠ
2.1.4.
Mục tiêu phòng ngừa rủi ro.......................................................... 12
2.1.5.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro .......... 13
2.2.
3.
4.
5.
Cơ sở lý thuyết ........................................................................................5
Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm ...............................................20
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..................................................... 25
3.1.
Giả thiết nghiên cứu ..............................................................................25
3.2.
Dữ liệu ..................................................................................................27
3.3.
Hạn chế của bài nghiên cứu ..................................................................57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
TÓM TẮT
Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về các nhân tố tác động đến các quyết
định phòng ngừa rủi ro của các công ty phi tài chính ở Việt Nam. Mẫu dữ liệu thu
thập bao gồm báo cáo tài chính của 103 doanh nghiệp lớn trong năm 2013(1) ước
lượng bằng mô hình hồi quy logictis nhị thức. Kết quả dựa trên mối quan hệ thực
nghiệm đơn biến và đa biến của quyết định tự phòng ngừa trong các công ty phi tài
chính ở Việt Nam là chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí tài trợ bên ngoài, lợi ích về
thuế, sở hữu của nhà quản lý, chi trả cổ tức, chính sách phòng ngừa rủi ro thay thế,
bất cân xứng thông tin và quy mô doanh nghiệp.
Kết quả cho ba biến quy mô công ty, chi phí tài trợ bên ngoài và chính sách tài
chính thay thế cung cấp ý nghĩa thống kê tuy nhiên chỉ có quy mô doanh nghiệp đủ
bằng chứng thực nghiệm giải thích cho quyết định phòng ngừa hàm ý rằng khi quy
mô doanh nghiệp càng lớn lại càng chú trọng đến hoạt động phòng ngừa rủi ro
nhiều hơn.
Bên cạnh đó, biến được kỳ vọng – công cụ phòng ngừa rủi ro thay thế mà cụ thể
là tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt có mối tương quan dương với hoạt động quản trị
rủi ro hàm ý việc duy trì thanh khoản là một thước đo cho tính khả dụng của quỹ
nội bộ để ứng phó với những tình huống không thể lường trước.
(1) Nguồn: VNR500-Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam www.vnr500.com.vn/bangxep-hang?ref=vnr500-top-500-doanh-nghiep-tu-nhan-lon-nhat-viet-nam
tác động đến phòng ngừa rủi ro thông qua thực tiễn về hoạt động quản lý rủi ro tại
3
các công ty ở Việt Nam, hỗ trợ cho việc giải thích mâu thuẫn giữa lý thuyết và
thực tiễn. Giả thuyết giải thích quyết định phòng ngừa rủi ro được kiểm định thông
qua mối tương quan với các yếu tố trong công ty được đưa ra.
Dựa vào kết quả nghiên cứu thực nghiệm của D.M Sprcic, Z.Sevic (2011) (2) câu
hỏi nghiên cứu được đưa ra: Liệu quyết định phòng ngừa rủi ro có bị ảnh hưởng
bởi quy mô doanh nghiệp, chi phí đầu tư bên ngoài, chính sách cổ tức, mức độ
thanh khoản, tình trạng bất cân xứng thông tin, tỷ lệ cổ phiếu của nhà quản lý, chi
phí kiệt quệ tài chính và các ưu đãi về thuế hay không?
Nghiên cứu thực nghiệm tiến hành trên mẫu gồm 103 công ty phi tài chính theo
bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam-VNR500 đã đáp ứng đầy đủ
các tiêu chí cần thiết của biến độc lập. Dữ liệu cần thiết để khám phá thực trạng
phòng ngừa rủi ro tại các công ty phân tích được thu thập từ hai nguồn: từ báo cáo
thường niên và thuyết minh báo cáo tài chính trong năm 2013 được phân tích bằng
cách sử dụng kiểm định t-test, hồi quy logistic nhị thức (hồi quy logit) được thực
hiện để xác định các biến giải thích có khả năng giải thích cho quyết định phòng
ngừa rủi ro.
Nghiên cứu này khác với nhiều nghiên cứu trước đó bằng cách áp dụng một
định nghĩa toàn diện hơn về phòng ngừa rủi ro cho các công ty ở Việt Nam. Hầu
hết các nghiên cứu trước đây, phòng ngừa rủi ro chỉ xoay quanh việc sử dụng công
cụ phái sinh và phớt lờ các phương pháp phòng ngừa rủi ro (Nance và cộng sự,
1993; Dolde, 1995; Geczy và cộng sự, 1997; Howton và Perfect, 1998; Graham và
Rogers, 2002), bài viết mở rộng phân tích các công cụ phòng ngừa rủi ro thay thế
sẽ được cụ thể ở phần sau.
(2)
(3)
Trích dẫn từ: Kedia, S. and Mozumdar, A., ‘Foreign currency denominated debt: an empirical
investigation’, Journal of Business, Vol. 76, 2003.
5
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Rủi ro tài chính
Rủi ro tài chính là rủi ro phát sinh từ độ nhạy cảm của các nhân tố giá cả thị
trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa, chứng khoán, đòn bẩy tài chính… tác
động đến thu nhập của doanh nghiệp.
Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường là rủi ro mà giá trị hợp lý của các luồng tiền trong tương lai
của một công cụ tài chính sẽ biến động theo những thay đổi của giá thị trường. Giá
thị trường có bốn loại rủi ro: rủi ro lãi suất, rủi ro tiền tệ, rủi ro giá hàng hóa và rủi
ro về giá khác, chẳng hạn như rủi ro về giá cổ phần. Công cụ tài chính bị ảnh
hưởng bởi rủi ro thị trường bao gồm các khoản vay và nợ, tiền gửi và các khoản
đầu tư sẵn sàng để bán.
Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là rủi ro mà giá trị hợp lý hoặc các luồng tiền trong tương lai của
một công cụ tài chính sẽ biến động theo những thay đổi của lãi suất thị trường. Rủi
ro thị trường do thay đổi lãi suất của doanh nghiệp chủ yếu liên quan đến các
khoản nợ phải trả có lãi suất thả nổi của doanh nghiệp. Chẳng hạn khi lạm phát xảy
ra, lãi suất tiền vay tăng đột biến, những tính toán, dự kiến trong kế hoạch kinh
doanh ban đầu bị thay đổi. Tùy thuộc vào lượng tiền vay của doanh nghiệp, mức
chủ yếu đối với các khoản phải thu khách hàng và từ hoạt động tài chính của mình,
bao gồm tiền gửi ngân hàng, nghiệp vụ ngoại hối và các công cụ tài chính khác.
Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản đề cập đến những tổn thất khi doanh nghiệp tiến hành
chuyển đổi tài sản thành các công cụ tài chính dựa trên định giá của thị trường.
Việc chuyển đổi này có thể bao gồm việc bán tài sản cố định, hoặc sử dụng tài sản
cố định vào các hợp đồng thế chấp cho các khoản vay từ ngân hàng. Rủi ro thanh
khoản trong các quyết định tài chính này phần lớn phát sinh từ sự thiếu nắm bắt về
thị trường.
7
2.1.2. Phòng ngừa rủi ro
Là việc công ty nào đó sử dụng các công cụ phái sinh để làm giảm độ bất ổn của
giá cả, biến rủi ro kém chấp nhận được thành rủi ro có thể chấp nhận.
Phòng ngừa rủi ro phi phái sinh bao gồm việc sử dụng các khoản nợ ngoại tệ
đóng vai trò như một hình thức phòng ngừa tự nhiên cho doanh thu nước ngoài,
phát hành các khoản nợ lãi suất cố định để ổn định lãi suất thanh toán và việc duy
trì lượng tiền mặt hoặc tương đương tiền hợp lý…
2.1.3. Quản trị rủi ro và hoạt động quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro là khái niệm rộng hơn phòng ngừa rủi ro. Không chỉ dừng ở việc
sử dụng công cụ phái sinh để giảm thiểu rủi ro giống với phòng ngừa rủi ro, quản
trị rủi ro còn nhận diện được mức độ rủi ro công ty đang gánh chịu để điều chỉnh
rủi ro theo mong muốn.
Quản trị rủi ro chiến thuật
Quản trị rủi ro chiến thuật là cách mà doanh nghiệp dựa trên quan điểm của
mình hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh chênh lệch, hoặc sử dụng các công
cụ các công cụ phái sinh cao cấp như hợp đồng quyền chọn lãi suất để thực hiện
các chiến thuật nhằm làm giảm chi phí tài trợ. Ở điều kiện như Việt Nam như hiện
áp đặt chi phí kiệt quệ tài chính gián tiếp lên công ty một cách đáng kể. Các chi phí
gián tiếp này bao gồm chi phí cao hơn để công ty ký kết hợp đồng với khách hàng,
nhân viên và nhà cung ứng, từ đó nhấn mạnh quản trị rủi ro làm tăng giá trị công
ty.
Dễ thấy nhất khi chúng ta nhìn vào chi phí mà công ty phải ký kết với khách
hàng khi nhìn vào tác động của chi phí kiệt quệ tài chính. Nếu khách hàng giảm sút
niềm tin vào công ty do lo ngại xác suất xảy ra kiệt quệ tài chính, họ sẽ từ bỏ công
ty để tìm đến đối thủ cạnh tranh.
9
Tác động của kiệt quệ tài chính đối với chi phí ký kết hợp đồng với khách hàng
là dễ nhìn thấy nhất. Các công ty cung cấp các hợp đồng về dịch vụ hoặc bảo trì
thường ký kết hợp đồng dài hạn hơn với khách hàng. Nếu khả năng tồn tại của
công ty giảm đi, các khách hàng thường giảm bớt giá trị các hợp đồng và gần như
họ sẽ từ bỏ công ty và tìm đến các đối thủ cạnh tranh.
Nếu có thể thuyết phục khách hàng tiềm năng rằng khả năng xảy ra kiệt quệ tài
chính đã được giảm bớt, công ty có thể làm tăng giá trị các hợp đồng dịch vụ và
bảo trì ký kết với khách hàng. Quá trình làm tăng giá trị như thế được phản ánh
vào dòng tiền của công ty và trong mức giá cả mà khách hàng sẵn sàng trả cho sản
phẩm. Những lợi ích tiềm tàng này dường như lớn hơn với các công ty sản xuất
sản phầm dựa trên lòng tin liên quan đến các lĩnh vực cung cấp dịch vụ, bảo trì
máy móc thiết bị, kinh doanh bất động sản cao cấp, tài chính ngân hàng, dược
phẩm. Vì nếu các công ty trên rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính họ sẽ có xu
hướng gian lận về chất lượng hơn các công ty có tình hình tài chính lành mạnh. Do
đó khả năng kiệt quệ tài chính cao hơn.
Trong nghiên cứu của MM, kiệt quệ tài chính được giả định là không có. Do đó,
làm thay đổi khả năng kiệt quệ tài chính không tác động đến giá trị công ty. Nếu
kiệt quệ tài chính là tốn kém, các doanh nghiệp có động lực để làm giảm xác suất
làm cho dòng tiền hay lợi nhuận trước thuế cao hay thấp có dụng ý để ứng biến với
tiền thuế phải nộp. Ví dụ nếu cơ quan thuế quy định thu nhập trước thuế của công
ty A từ 50 triệu đến 90 triệu đồng, thuế suất là 10% và trên 90 triệu đồng thì thuế
suất lũy tiến là 20%. Nếu nền kinh tế suy thoái thì có 50% khả năng công ty có thu
nhập trước thuế là 50 triệu đồng (THẤP) và nếu nền kinh tế bùng nổ thì có 50%
khả năng công ty có thu nhập trước thuế 150 triệu (CAO).
Trong trường hợp phân phối xác suất đơn giản mà chúng ta thường thấy, thu
nhập trước thuế THẤP và thu nhập trước thuế CAO sẽ di chuyển về giá trị
TRUNG BÌNH là 100 triệu đồng. Nếu không phòng ngừa rủi ro, công ty sẽ phải
11
nộp khoản thuế trung bình hàng năm là 100 triệu đồng nhân cho thuế suất 20% là
20 triệu đồng.
Giả sử công ty A có chương trình phòng ngừa rủi ro hiệu quả và liên tục trong
nhiều thời kỳ, độ bất ổn giá cả sẽ giảm đi. Kết cục của một chương trình phòng
ngừa rủi ro như thế có khả năng làm cho thu nhập trước thuế của công ty A thấp
hơn mức trung bình 100 triệu đồng. Giả dụ thu nhập trước thuế nếu có phòng ngừa
rủi ro là 90 triệu (có thể hiểu một quyền chọn mua với phí quyền chọn có thể làm
cho thu nhập trước thuế năm nào đó diễn ra theo ý đồ của công ty là 90 triệu).
Công ty A chỉ phải nộp thuế ở mức 10% tức là chỉ nộp thuế 9 triệu đồng thay vì
nộp 20 triệu ở mức thu nhập trước thuế trung bình 100 triệu đồng với mức thuế lũy
tiến 20%.
Trong thực tế, nhiều công ty phòng ngừa rủi ro khéo léo để tính vào chi phí hợp
lý các khoản phí quyền chọn để làm cho thu nhập trước thuế của một thời điểm cụ
thể nào đó không vượt quá mức thuế lũy tiến cao.
Hình 2.1: Lợi ích về thuế và hoạt động phòng ngừa rủi ro
Quản trị rủi ro có thể làm tăng giá trị thông qua việc né tránh các trò chơi
nặng nề. Do vậy vấn đề ở đây là làm thế nào kiểm soát được rủi ro, giới hạn tác
động của nó trong phạm vi cho phép.
Biến rủi ro thành lợi thế, cơ hội thành công. Rủi ro không hoàn toàn chỉ có
nghĩa là thua lỗ hoặc thất bại, mà rủi ro cũng có thể tạo ra cơ hội để kiếm được lợi
13
nhuận. Do vậy một mục tiêu quan trọng khác của quản trị rủi ro là cần phải giúp
doanh nghiệp nhận thức đúng thực trạng rủi ro và khả năng chuyển đổi rủi ro thành
lợi thế. Trên cơ sở nhận thức này, doanh nghiệp sẵn sàng sử dụng các nguồn lực để
biến các rủi ro thành lợi thế, cơ hội thành công. Để đạt được mục tiêu này, doanh
nghiệp phải nỗ lực nâng cao năng lực, chủ động xây dựng được dự án đầu tư phù
hợp với năng lực của mình và chủ động phòng ngừa rủi ro ngay từ khi bắt đầu triển
khai kế hoạch kinh doanh. Doanh nghiệp cần xây dựng nhiều kịch bản, từ tốt nhất
đến xấu nhất, để luôn giữ được khả năng chủ động ứng phó trong mọi trường hợp.
"Các công ty quản trị rủi ro để giảm thuế, giảm chi phí phá sản, bởi vì các nhà quản trị
quan tâm đến tài sản của riêng họ, để tránh đầu tư lệch lạc, để thực hiện vị thế đầu cơ khi có
dịp, để kiếm được lợi nhuận kinh doanh chênh lệch hoặc để giảm rủi ro tín dụng và từ đó làm
giảm chi phí đi vay". PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang, Quản trị rủi ro tài chính, Nhà xuất bản
Thống kê năm 2007 (547)”
2.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định phòng ngừa rủi ro
Phòng ngừa rủi ro và chi phí kiệt quệ tài chính
Bằng cách giảm sự biến động của dòng tiền, doanh nghiệp có thể giảm chi phí
kiệt quệ tài chính (Mayers và Smith, 1982; Myers, 1984; Stulz, 1984; Smith và
Stulz, 1985; Shapiro và Titman, 1998). Trong thế giới MM, kiệt quệ tài chính được
giả định là không có. Do đó, làm thay đổi khả năng kiệt quệ tài chính không ảnh
hưởng đến giá trị công ty. Nếu kiệt quệ tài chính là tốn kém, các doanh nghiệp có
động lực để làm giảm xác suất xảy ra của nó, và phòng ngừa rủi ro là một trong
Dolde (1995), Mian (1996) và Haushalter (2000).
Một lý thuyết quản lý khác về phòng ngừa rủi ro, dựa trên thông tin bất cân
xứng, đã được đưa ra bởi Breeden và Viswanathan (1996) và DeMarzo và Duffie
(1995), những người đã tập trung vào danh tiếng nhà quản lý. Trong cả hai mô
hình, nó được lập luận rằng các nhà quản lý thích tham gia vào các hoạt động quản
lý rủi ro để trau dồi kỹ năng của mình trên thị trường lao động. Breeden và
Viswanathan (1996) và DeMarzo và Duffie (1995) đã lập luận rằng giám đốc điều
hành trẻ tuổi và những người có nhiệm kỳ ngắn hơn có danh tiếng ít hơn so với các
nhà quản lý có tuổi và nhiệm kỳ dài hơn. Vì vậy, họ sẵn sàng nắm bắt các khái
15
niệm mới như quản lý rủi ro với mục đích để thể hiện khả năng quản lý của mình.
Tufano (1996) đã thử nghiệm các giả định và thấy rằng không có mối quan hệ có ý
nghĩa giữa tuổi của giám đốc điều hành và giám đốc tài chính và mức độ hoạt động
quản trị rủi ro. Tuy nhiên, ông đã chứng minh rằng các công ty có giám đốc tài
chính có ít năm làm việc trong công việc hiện tại lại có nhiều khả năng tham gia
vào các hoạt động quản lý rủi ro tốt hơn, điều này khẳng định giả thuyết rằng nhà
quản lý mới sẵn sàng tham gia vào các hoạt động quản lý rủi ro hơn những người
có nhiệm kỳ dài. Như vậy, kết quả có thể được xem như phù hợp với Breeden và
Viswanathan (1996) và lý thuyết DeMarzo và Duffie (1995).
Quản lý rủi ro và các lợi ích về thuế
Một lý thuyết khác nữa tập trung vào quản lý rủi ro là một phương pháp để tối
đa hóa giá trị cổ đông cho rằng, bằng cách giảm sự biến động của dòng tiền, các
công ty có thể giảm thuế dự kiến. Lý do này được đưa ra bởi Smith và Stulz
(1985), người đã lập luận rằng cấu trúc của thuế có thể mang lại lợi ích cho công ty
để có vị thế thuế trong tương lai hoặc lựa chọn thị trường. Nếu một công ty phải
đối mặt với một hàm thuế lồi, thì giá trị sau thuế của công ty là một hàm lõm của
giá trị trước thuế. Nếu phòng ngừa rủi ro làm giảm sự thay đổi của giá trị công ty
khoản mục ưu đãi về thuế, do đó làm đánh mất lợi ích từ tấm chắn thuế của doanh
nghiệp. Ngược lại, nếu doanh nghiệp tìm cách làm giảm độ biến động của thu nhập
trước thuế, phòng ngừa rủi ro sẽ làm giảm xác suất mà doanh nghiệp không thể tận
dụng được các khoản mục ưu đãi về thuế. Từ đó, làm giảm chi phí thuế kỳ vọng
của doanh nghiệp. Nếu đường biểu diễn thuế hiệu lực của doanh nghiệp là một
hàm lồi với giá trị trước thuế thì giá trị sau thuế của doanh nghiệp là một hàm lõm
với giá trị trước thuế. Do đó, nếu việc phòng ngừa rủi ro làm giảm tính biến động
của giá trị trước thuế của doanh nghiệp, làm cho khoản chi trả thuế kỳ vọng của
doanh nghiệp giảm thì giá trị kỳ vọng của doanh nghiệp sau khi khấu trừ thuế sẽ
gia tăng nếu như chi phí phòng ngừa rủi ro là không quá lớn.
Phòng ngừa rủi ro và chi phí tài trợ bên ngoài
Giảm biến động dòng tiền có thể cải thiện khả năng có quỹ nội bộ đầy đủ cho kế
hoạch đầu tư, loại bỏ nhu cầu hoặc cắt giảm các dự án có lợi nhuận hoặc chịu chi
phí có được nguồn tài trợ bên ngoài. Giả thuyết chính là, nếu sử dụng tài chính bên
17
ngoài (nợ hoặc vốn chủ sở hữu) là tốn kém, các công ty có dự án đầu tư đòi hỏi tài
trợ sẽ phòng ngừa rủi ro dòng tiền để tránh tình trạng thiếu hụt trong quỹ của họ.
Một điều thú vị dựa trên cơ sở này là các công ty mà có cơ hội tăng trưởng đáng kể
và phải đối mặt với chi phí cao khi huy động vốn dưới mức kiệt quệ tài chính sẽ có
động cơ phòng ngừa nhiều hơn so mức trung bình của các doanh nghiệp. Lý do
này đã được khám phá bởi các học giả Smith và Stulz (1985), Lessard (1991),
Shapiro và Titman (1998), Hoshi et al. (1991), Froot et al. (1993), Getzy et al.
(1997), Gay và Nam (1998), Minton và Schrand (1999), Haushalter (2000), Mello
và Parsons (2000), Allayannis và Ofek (2001) và Haushalter et al. (2002).
Phòng ngừa rủi ro có thể giảm thiểu các vấn đề thiếu vốn đầu tư. Một cách khác
để giảm xung đột giữa các cổ đông và trái chủ là công ty giảm mức độ nợ trong cơ
cấu vốn (Myers, 1977). Tuy nhiên, việc giảm nợ của công ty dẫn đến giảm lợi ích
công ty lớn hơn có nhiều khả năng sử dụng phòng ngừa rủi ro. Một trong những
yếu tố quan trọng trong các lý do quản lý rủi ro của công ty gắn liền với chi phí
của việc tham gia vào các hoạt động quản lý rủi ro. Chi phí phòng ngừa rủi ro bao
gồm các chi phí giao dịch trực tiếp cũng như các chi phí đại diện đảm bảo rằng các
nhà quản lý giao dịch phù hợp. Chi phí giao dịch của phòng ngừa rủi ro bao gồm
các chi phí giao dịch cũng như các chi phí đáng kể của hệ thống thông tin cần thiết
để cung cấp các dữ liệu cần thiết cho việc quyết định vị thế phòng ngừa rủi ro thích
hợp. Các chi phí đại diện mà những hoạt động đó mang lại bao gồm các chi phí
của hệ thống kiểm soát nội bộ để chạy các chương trình phòng ngừa rủi ro. Những
chi phí này có liên quan đến cơ hội cho đầu cơ mà việc tham gia thị trường phái
sinh cho phép. Thật vậy, đối với nhiều doanh nghiệp (đặc biệt là các công ty nhỏ),
lợi ích biên của một chương trình phòng ngừa có thể vượt quá chi phí biên. Điều
này cho thấy có thể thiết lập chi phí khá lớn liên quan đến điều hành một chương
trình quản trị rủi ro của công ty. Vì vậy, nhiều công ty có thể không phòng ngừa
rủi ro, ngay cả khi họ đối mặt với rủi ro tài chính, đơn giản chỉ vì nó không phải là
một hoạt động có giá trị kinh tế. Trên cơ sở kết quả thực nghiệm, có thể được lập
luận rằng chỉ có các công ty lớn với rủi ro đủ lớn mới được hưởng lợi từ một
chương trình phòng ngừa rủi ro chính thức.
19
Quản trị rủi ro và các chính sách tài chính thay thế
Thay vì quản lý rủi ro thông qua hoạt động phòng ngừa, công ty đều có thể theo
đuổi các hoạt động thay thế cho chiến lược quản lý rủi ro tài chính. Các công ty có
thể áp dụng chính sách tài chính bảo thủ như duy trì đòn bẩy nợ thấp hoặc duy trì
tiền mặt lớn để bảo vệ họ chống lại những khó khăn tài chính tiềm năng. Sử dụng
nhiều hơn các hoạt động quản lý rủi ro thay thế nên được kết hợp với hoạt động
quản lý rủi ro tài chính ít hơn (Froot và cộng sự, 1993; Nance và cộng sự, 1993).
Nhiều tài sản có khả năng thanh khoản cũng làm giảm xác xuất kiệt quệ tài
Trong những năm gần đây, một số nghiên cứu đã tiến hành khảo sát việc sử
dụng các công cụ phái sinh của các công ty ở châu Âu (Grant và Marshall 1997;
Bodnar và Gebhardt 1999; de Ceuster và cộng sự, 2000; Mallin và cộng sự, 2001;
Bodnar và cộng sự, 2003). Những nghiên cứu này cho thấy phần lớn các công ty
phi tài chính sử dụng các công cụ phái sinh cho mục đích phòng ngừa rủi ro. Trọng
tâm của những nghiên cứu này là điều tra các khía cạnh khác nhau xung quanh
việc sử dụng các công cụ phái sinh, chẳng hạn như các loại công cụ phái sinh được
sử dụng, các loại rủi ro được phòng ngừa, mối quan tâm về việc sử dụng các công
cụ phái sinh, kiểm soát và chính sách báo cáo. Một số nghiên cứu cho thấy rằng
các công ty châu Âu có nhiều khả năng sử dụng các công cụ phái sinh để phòng
ngừa rủi ro hơn so với các công ty Mỹ (Bodnar và Gebhardt năm 1999; Bodnar và
cộng sự, 2003). Điều này có nghĩa là việc xem xét hoạt động phòng ngừa rủi ro là
quan trọng đối với các công ty châu Âu hơn so với các công ty Mỹ. Tuy nhiên,
điều ít được biết đến là việc liệu các hoạt động quản lý rủi ro có phù hợp với
những dự đoán từ các tài liệu phòng ngừa rủi ro công ty hay không. Không giống
như nhiều nghiên cứu ở Mỹ, các cuộc điều tra nói trên về các công ty châu Âu
không cố gắng giải thích tại sao các công ty phòng ngừa rủi ro hoặc sự lựa chọn về
kỹ thuật phòng ngừa rủi ro trong dựa trên phân tích đa biến. Do đó, họ chủ yếu mô
tả hơn là phân tích. Nghiên cứu này cố gắng lấp đầy lỗ hổng này bằng cách cung
cấp bằng chứng về các công ty ở Anh đối với các yếu tố quyết định hoạt động
21
phòng ngừa rủi ro của công ty và việc lựa chọn phương pháp phòng ngừa rủi ro, do
đó cung cấp thêm một nghiên cứu điển hình có giá trị và qua đó, tạo điều kiện so
sánh với các nghiên cứu thực nghiệm còn tồn tại.
Theo một hướng khác, nghiên cứu của Kedia và Mozumdar (2003) xác định
“hedgers” gồm các công ty sử dụng phương pháp phòng ngừa rủi ro phái sinh hoặc
phi phái sinh. Kỹ thuật phòng ngừa rủi ro phi phái sinh bao gồm việc sử dụng các