Đánh giá kết quả phẫu thuật bướu nhân tuyến giáp lớn tại trung tâm ung bướu thái nguyên - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bướu nhân tuyến giáp theo định nghĩa của hiệp hội tuyến giáp Hoa Kỳ là
tình trạng phì đại một tuyến giáp bình thường hoặc không, trong đó có sự phát
triển bất thường của các tế bào tuyến giáp tạo thành các khối trong tuyến. Hầu
hết bướu nhân tuyến giáp là lành tính, chỉ có một phần nhỏ là ác tính.
Bướu nhân tuyến giáp lớn là bướu nhân trong đó kích thước nhân lớn nhất
đo được bằng siêu âm từ 4cm trở lên
Bướu nhân tuyến giáp lớn là một bệnh lý khá thường gặp ở khu vực miền
núi. Theo tác giả Dean (2008) tỷ lệ phát hiện bướu nhân tuyến giáp bằng khám
lâm sàng trong cộng đồng khoảng 2-6%, phụ nữ nhiều gấp 5 lần nam giới [1],
lứa tuổi được phát hiện nhiều là 30-40 tuổi [2]. Tỷ lệ phát hiện được bằng siêu
âm lớn hơn rất nhiều, dao động từ 19 đến 35% tùy nhóm nghiên cứu, tăng lên ở
người già, ước tính xấp xỉ 50% số người trên 60 tuổi có bướu nhân tuyến giáp
tuy nhiên chỉ có khoảng 1/20 số này là ác tính [2].
Hầu hết các trường hợp bướu nhân tuyến giáp tiến triển âm thầm, không có
biểu hiện lâm sàng, không gây ảnh hưởng tới chức năng của tuyến cho tới khi u đủ
to để có thể nhìn thấy, sờ thấy và gây nên các triệu chứng do chèn ép các cơ quan
lân cận như tức nặng ở cổ, nuốt nghẹn, nuốt vướng, một số ít trường hợp có thể
gặp khàn tiếng, thở rít, khó thở, nuốt sặc, nuốt đau, cường giáp.
Theo dõi và điều trị bướu nhân tuyến giáp phụ thuộc vào thể bệnh, đặc điểm
lâm sàng, định lượng hormon đánh giá hoạt động chức năng tuyến, mô bệnh học
và các yếu tố nguy cơ ác tính hóa. Trong đó, phẫu thuật được chỉ định đối với các
trường hợp u to gây chèn ép cơ quan chức năng sống, có nguy cơ ác tính hóa, ung
thư tuyến giáp, có biểu hiện cường giáp, không đáp ứng với điều trị nội khoa,
giảm thẩm mỹ. Phẫu thuật phải đảm bảo lấy bỏ toàn bộ khối u và không gây tổn
thương chức năng của tuyến cận giáp, thần kinh thanh quản trên và thần kinh
thanh quản quặt ngược, đồng thời sinh thiết hay vét hạch nếu cần thiết.




1.1. GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ TUYẾN GIÁP
1.1.1. Giải phẫu tuyến giáp
Tuyến giáp có hình chữ u, nằm ở trước cổ, gồm hai thùy bên - thùy phải và
thùy trái - được nối với nhau bởi eo tuyến; có một bao xơ riêng và được bao bọc
trong một bao mỏng do lá trước khí quản của mạc cổ tạo thành.

Hình 1.1: Tuyến giáp (nhìn trước) [5]
Thùy bên tuyến giáp có hình tháp, cao 5cm, dày 2cm và chỗ rộng nhất đo được
khoảng 3cm, khối lượng trung bình khoảng từ 15g đến 30g, thể tích trung bình
khoảng 11ml dao động từ 5ml đến 19ml; gồm một đỉnh, một đáy, ba mặt và hai bờ.
Đỉnh (cực trên) hướng lên trên ra ngoài, tới ngang mức đường chếch của sụn
giáp, liên quan với động mạch giáp trên, được che phủ bởi cơ ức giáp và ức móng.


4

Đáy (cực dưới) ở ngang mức vòng sụn khí quản 5, 6; phía trên bờ trên cán
ức khoảng l-2cm, liên quan với bó mạch giáp dưới và ống ngực.
Ba mặt gồm có mặt ngoài (mặt nông), mặt trong và mặt sau ngoài. Mặt nông
(mặt ngoài) được phủ từ nông vào sâu bởi bụng trên cơ vai móng, cơ ức móng và
cơ ức giáp. Mặt trong liên quan với thanh quản, khí quản, thực quản, nhánh ngoài
của TK TQT và TK TQQN. Mặt sau ngoài liên quan với bao cảnh.
ĐM cảnh chung
TM cảnh trong
Bao cảnh

TK phế vị
Bao trước cột sống


mạch, nhánh giao cảm của tuyến. Ngoài cùng là bao giáp, bao này được hình
thành bởi các lớp cân cổ giữa và cân tạng. Giữa lớp mô sợi và bao giáp có mạng
mạch nối phong phú, cần chú ý khi cắt thùy tuyến trong bao để tránh chảy máu.
Giữa bao giáp và các tạng xung quanh là tổ chức liên kết dễ bóc tách.
Nhu mô tuyến có cấu trúc dạng nhiều tiểu thùy, mỗi tiểu thùy tuyến là một
nang tuyến. Mô liên kết nằm giữa các nang tuyến là mô đệm. Hình ảnh nang tuyến
là các đám tế hào có nhân tròn, đồng nhất, bào tương ranh giới không rõ, chứa chất
nền keo trong lòng nang. Chất nền keo có hình ảnh thuần nhất, vô bào, màu xanh
hay hồng tím với mức độ đậm nhạt thay đổi tùy theo chất dịch keo đặc hay loãng.
Cấp máu cho tuyến giáp chủ yếu là ĐM giáp trên và ĐM giáp dưới. Giữa
các ĐM này có sự kết nối phong phú cùng bên và đối bên. Trong mỗi phút,
lượng máu được cấp đến tuyến giáp lớn gấp 5 lần trọng lượng cơ thể, vì thế
"chảy máu trong mổ tuyến giáp luôn là nỗi kinh hoàng của các PTV".


6

ĐM giáp trên là nhánh tách ra trước nhất của ĐM cảnh ngoài. Trong một
số trường hợp, nó được lách ra ngay trước khi ĐM cảnh chung chia làm hai
nhánh cảnh ngoài và cảnh trong. ĐM giáp trên chạy xuống phía dưới, dọc theo
mặt bên của cổ, phía sâu so với bụng sau cơ vai móng, cơ ức giáp, chạy ra nông
đi theo bờ trước của thuỳ bên tuyến giáp tới co tuyến kết nối với các nhánh
mạch cùng tên bên đối diện. Trên đường đi, ĐM giáp trên chia các nhánh nhỏ đi
sâu vào nhu mô tuyến.
Gần với cực trên của thùy giáp, ĐM giáp trên chia ra một nhánh nhỏ, ĐM
nhẫn giáp, chạy vắt ngang qua cơ nhẫn giáp tới đường giữa tạo nên mạng mạch
kết nối với hên đối diện ở trên hề mặt của màng nhẫn giáp (hình 1.3).
7
1



8. ĐM giáp trên,

9. TM giáp trên,

10. Thùy tháp,

11. Eo tuyến giáp,

12. Thùy trái,

13. TM giáp dưới, 14. Tm cánh tay đầu


7

ĐM giáp dưới là nhánh của thân ĐM giáp cổ, thân ĐM này tách ra từ ĐM
dưới đòn ở ngang mức xương sườn thứ nhất. Từ nguyên ủy, ĐM giáp dưới chạy
xuống dưới một đoạn ngắn trước khi đổi hướng chạy vào trong, tạo nên cung
mạch và đi vào rãnh khí - thực quản. Phần lớn các nhánh của ĐM giáp dưới đi
vào tuyến giáp tại mặt sau của thùy giáp, còn nhánh dọc của nó đi lên kết nối
với ĐM giáp trên ở gần cực trên. Các nhánh của ĐM giáp dưới thường đi lẫn
với TK TQQN khi TK đi trong rãnh khí - thực quản (hình 1.4).
Tham gia cấp máu còn có thể có ĐM giáp dưới cùng (ĐM giáp trung) tách
ra từ thân cánh tay đầu hoặc từ cung động mạch chủ, chạy từ dưới lên trên, phía
trước khí quản tới eo tuyến.
TM giáp trên chạy song hành cùng ĐM giáp trên ở mặt trước của tuyến
giáp trước khi nạp máu vào tĩnh mạch cảnh trong.
TM giáp giữa, thường là nhánh ngắn nhất trong ba TM, thoát ra từ mặt bên
của tuyến, gần cực dưới, đi ngang ra ngoài, đổ vào tĩnh mạch cảnh trong.

1

4
2
3
5

Hình 1.4: Dây thần kinh thanh quản quặt ngược (hình mô phỏng - nhìn trước)[7]
1. TK thanh quản trên trái, 2. Sụn giáp, 3. TK TQQN phải,
4. TK thanh quản trên trái, 5. TK TQQN trái


9

Ở cổ, TK TQQN có thể đi trong; ngoài rãnh khí - thực quản và cho các
nhánh nhỏ tới chi phối cho khí quản và thực quản. Tới thanh quản, TK TQQN
đi giữa sừng dưới sụn giáp và cung sụn nhẫn rồi xuyên qua màng nhẫn giáp để
vào thanh quản.
Do nguyên ủy khác nhau nên hướng đi ở cổ của TK TQQN hai bên có sự
khác nhau: bên phải TK TQQN đi từ dưới lên có xu hướng chếch dần từ ngoài
vào trong, bên trái TK TQQN đi từ dưới lên gần như theo trục thẳng đứng. So
với thực quản thì TK TQQN phải đi dọc theo bờ phải, TK TQQN trái đi ở phía
trước của thực quản.
Khi đi vào vùng cổ, TK TQQN được tìm thấy trong tam giác thần kinh
thanh quản quặt ngược, giới hạn bởi: thân động mạch cảnh chung ở phía ngoài,
khí quản và thực quản ở phía trong, thùy giáp ở phía trên. Đỉnh của tam giác TK
TQQN quay xuống dưới và quá trình tìm, bộc lộ TK TQQN phải được bắt đầu
từ đỉnh tam giác này. Thường gặp thì TK TQQN có màu trắng bóng, kích thước
cỡ 1-3 mm, chạy ngoằn ngoèo và có mạch máu nuôi đồng hành.
Nghiên cứu liên quan giải phẫu giữa TX TQQN và khí quản, Berlin

4
9

5

Hình 1.5: TK thanh quản quặt ngược đi giữa các nhánh ĐM giáp dưới phải [7]
1. TK TQT, 2. TK X, 3.ĐM cảnh, 4. TK TQQN, 5. TM cảnh
6. Xương móng, 7. Sụn giáp, 8. Tuyến giáp, 9. Khí quản
Vùng dây chằng Berry (dây chằng treo sau) là một cấu trúc giải phẫu quan
trọng bởi ĐM giáp dưới cho một nhánh chạy dọc theo bờ dưới của dây chằng
Berry; đôi khi có một phần nhu mô tuyến giáp lấn vào trong dây chằng Berry.
Tại vùng này, TK TQQN gắn rất chặt với lớp cân và mạch máu ở ngay dưới dây
chằng: nghiên cứu của Berlin cho kết quả là 75% số trường hợp TK TQQN đi
phía sâu trong dây chằng Berry và 25% số trường hợp TK TQQN đi xuyên qua
hoặc đi nông phía ngoài dây chằng. Ngoài ra, khoảng 7% - 10% số trường hợp
có TK TQQN đi xuyên qua nhu mô của tuyến giáp. Do đó phải thận trọng khi
phẫu tích, bóc tách dây chằng Berry để tránh tổn thương thần kinh.
Khi thâm nhập vào thanh quản qua màng nhẫn giáp, ở ngang mức phía dưới
của dây thanh, TK TQQN chia ra các nhánh trước và sau, những nghiên cứu về
sự chia nhánh của TK TQQN lại không có chung kết quả. King và Gregg mô tả
rằng 25% số trường hợp TK TQQN có phân chia nhánh ở phía ngoài thanh quản
và hai nhánh này có thể dài lới 0,6cm đo từ chỗ chia nhánh tới chỗ đi vào thanh


11

quản. Ngược lại, Armstrong và Hinton lại báo cáo số trường hợp TK TQQN
phân chia nhánh lên lới 75%. So sánh giữa hai bên về đặc điểm chia nhánh của
TK TQQN, hầu hết các lác giả cho rằng không có điểm khác biệt.
Một số trường hợp không có TK TQQN thực sự mà TK thanh quản dưới

bảo vệ đường vào của thanh quản.
1.1.4. Sinh lý tuyến giáp
1.1.4.1. Sinh tổng hợp hormon T3 và T4
Quá trình sinh tổng hợp hormon tuyến giáp được chỉ huy bởi vùng dưới
đồi và tuyến yên. Các tế bào của nang tuyến giáp tổng hợp nên hai hormon là
Triiodothyronin (T3) và Tetraiodolhyronin (T4). Các tế bào cạnh nang tuyến
(các tế hào C) tổng hợp nên hormon Calcitonin.
Quá trình tổng hợp T3, và T4 gồm bốn giai đoạn tiếp nối nhau:
- Giai đoạn bắt iod
- Giai đoạn oxy hóa ion iodua thành dạng oxy hóa của iod nguyên tử.
- Giai đoạn gắn iod nguyên tử ở dạng oxy hóa vào tyrosin để tạo thành
hormon ở dạng gắn với Thyroglobulin.
- Giai đoạn giải phóng T3 và T4 vào máu.
Hormon tuyến giáp được giải phóng vào máu có 93% là T4; 7% là T3; tuy
nhiên sau một vài ngày, T4 sẽ bị khử bớt một nguyên tử iod để tạo nên T3. Trong
máu, T3 và T4 tồn tại chủ yếu ở dạng gắn với protein huyết tương do gan sản
xuất; chỉ có 0,05% lượng T4 và 0,5% lượng T3 tồn tại ở dạng tự do (FT4 và FT3).
FT3 là dạng hormon tuyến giáp hoạt động tại tế bào.
1.1.4.2. Tác dụng của T3 và T4
T3, và T4 CÓ các tác dụng:
- Tác dụng lên sự phát triển của cơ thể.


13

- Tác dụng lên chuyển hóa tế bào.
- Tác dụng lên chuyển hóa glucid.
- Tác dụng lên chuyển hóa lipid.
- Tác dụng lên chuyển hóa protein.
- Tác dụng lên chuyển hóa vitamin.

và tăng lên người già, ước tính xấp xỉ 50% số người trên 60 tuổi có bướu nhân
tuyến giáp tuy nhiên chỉ có khoảng 5-15% số này là ác tính [8]. Tại Mỹ, ung thư
tuyến giáp chiếm 1% các loại ung thư và 0,5% tổng số tử vong do ung thư.
1.2.2. Chẩn đoán xác định
1.2.2.1. Hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng:
Hỏi bệnh và khám lâm sàng vẫn là nền tảng trong đánh giá bướu nhân
tuyến giáp, và có thể phát hiện được dấu hiệu gợi ý ung thư tuyến giáp. Tuy
nhiên đa số các bướu nhân tuyến giáp không có triệu chứng, và nhiều trường
hợp được phát hiện tình cờ bởi người thân trong gia đình hoặc thầy thuốc khi đi
khám các bệnh khác hay khám kiểm tra sức khỏe.
Khám có thể thấy nhân tuyến giáp mềm hoặc cứng, nhỏ (khu trú) hoặc to
(lan tỏa), di động hoặc cố định, và đau hoặc không đau. Nếu sờ thấy nhân cứng,
mới xuất hiện thì có thể là nang tuyến giáp chảy máu hoặc viêm tuyến giáp bán
cấp (không được coi là bướu giáp nhân). Kết quả khám lâm sàng có thể không
chính xác vì phụ thuộc kỹ năng người khám và vị trí nhân giáp. Các nhân có
đường kính < 1cm rất khó sờ thấy trừ khi nó nằm ở phía trước, các nhân lớn thì
dễ sờ thấy trừ khi nó nằm sâu trong tuyến. Tính chung thì chỉ có 2-6% u được
sờ thấy trên lâm sàng[1]. Khám lâm sàng cần lưu ý các dấu hiệu gợi ý ung thư
như có hạch cổ, nhân cứng, ít di động, nhân to > 4cm hoặc nhân to nhanh, các
dấu hiệu xâm lấn tại chỗ (nuốt khó, khàn tiếng, đau vùng cổ). Hội tuyến giáp
Mỹ (ATA) nhận định nguy cơ bị ung thư tuyến giáp của các nhân kích thước
dưới 1cm cũng cao như các nhân lớn và bướu đa nhân cũng có nguy cơ bị ung
thư ngang bằng với bướu đơn nhân [9, 10].


15

Xác định độ to u tuyến giáp theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới: [11]
Bảng 1.1. Phân loại độ to của u tuyến giáp
Độ

- Siêu âm định hướng chuẩn xác đường đi của kim trong chọc hút tế bào bệnh
học, đảm bảo lấy được đúng, đủ bệnh phẩm, làm tăng độ chính xác của xét nghiệm.


16

- Siêu âm xác định được một số yếu tố nguy cơ ác tính như: xâm lấn phá
vỡ vỏ bao giáp; các nốt vôi hóa nhỏ, có viền bất thường, tăng sinh mạch trong
khối trên phổ Doppler, có hạch vùng vùng cổ.
Hiện nay việc sử dụng TIRADS (Thyroid Imaging Reporting and Data
System) đánh giá các khối u tuyến giáp khá phổ biến, đây là hệ thống phân
loại đã được đề xuất bởi Horvath và cộng sự, với một đề nghị sửa đổi từ Jin
Kwak và cộng sự (2011). Hệ thống này được chia làm 6 loại từ TIRADS I –
TIRADS VI [13].
- TIRADS 1: Tuyến giáp bình thường
- TIRADS 2: Tổn thương lành tính
- TIRADS 3: Có thể tổn thương lành tính
- TIRADS 4: Tổn thương đáng ngờ (4a, 4b, 4c với sự gia tăng nguy cơ ác tính)
- TIRADS 5: Có thể tổn thương ác tính (nguy cơ hơn 80% bệnh ác tính)
- TIRADS 6: Bệnh ác tính đã được chứng minh bằng kết quả mô bệnh học
1.2.2.4. Xạ hình tuyến giáp
Xạ hình tuyến giáp sử dụng Iodine-123 (123 I) hoặc Technetium 99m
(99mTc) là biện pháp chán đoán hình ảnh - chức năng có giá trị phân biệt u
tuyến giáp nhân độc (nhân cường giáp, nhân nóng) với u tuyến giáp nhân
lạnh (nhân nhược giáp).
Trước đây, xạ hình được thực hiện thường quy đối với tất cả các trường
hợp u tuyến giáp, nhưng ngày nay hầu hết các tác giả cho rằng xạ hình tuyến
giáp không mang lại lợi ích cho bệnh nhân, trừ khi có nghi ngờ nhân nóng, nhân
tái phát sau điều trị và u giáp sau xương ức.
1.2.2.5. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác

+Tân sản nang hoặc nghi nghờ tân sản nang: Nguy cơ ác tính 15-30%.
+ Lành tính (âm tính) .
+ Nghi ngờ (không xác định): Không có tiêu chuẩn để phân loại lành tính
hay ác tính.
+ Không chẩn đoán được hoặc bệnh phẩm không đạt.


18

1.2.2.8. Sinh thiết
- Sinh thiết bằng kim: Là xét nghiệm rất có ích cho chẩn đoán với kỹ thuật
hoàn hảo và nhà giải phẫu bệnh có kinh nghiệm chẩn đoán thì chẩn đoán chính
xác được khoảng 90% cho kết quả lành, nghi ngờ hay ác tính. Khoảng 5% bệnh
nhân chọc sinh thiết bằng kim cho kết quả âm tính giả. Đặc biệt là dạng ung thư
thể nhú chọc hút sinh thiết bằng kim dễ dàng hơn sinh thiết lạnh [17].
- Sinh thiết lạnh: hầu hết các nước tiên tiến đều áp dụng phương pháp này
với các khối u tuyến giáp có chỉ định phẫu thuật. Ngoài lợi ích khối u được loại
trừ ra khỏi tuyến giáp, còn cho kết quả rất chính xác mà các phương pháp khác
không thể có được, ngay cả với ung thư tuyến giáp dạng nang và tế bào Hurthle
bởi vì trong các trường hợp này chẩn đoán ác tính dựa vào sự xâm lấn mạch
máu hay vỏ bao của khối u chứ không phải dựa vào đặc tính của tế bào [18, 19].
1.2.2.8. Xét nghiệm mô bệnh u tuyến giáp
- Xét nghiệm mô bệnh học là tiêu chuẩn vàng để xác định bản chất mô
bệnh học u tuyến nhưng hạn chế là chỉ có thể tiến hành sau khi đã phẫu thuật lấy
khối u tuyến. [20]
 Giải phẫu bệnh của bướu nhân tuyến giáp lành tính dựa theo phân
loại của WHO:
- U có nguồn gốc biểu mô:
+ U tuyến nang: Bao gồm các biến thể tuyến keo, tuyến phôi, tuyến thai
và biến thể tế bào Hurthle.

- U mạch máu
- Kén hơi thanh quản
Chẩn đoán phân biệt với các khối tuyến giáp: dựa trên u đồ, sinh thiết mô
bệnh học phân biệt với:


20

- Khối ung thư tuyến giáp.
- Khối u lymphoma tuyến giáp
1.3. PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP

1.3.1. Lịch sử nghiên cứu
Phẫu thuật tuyến giáp được Paulus thực hiện từ những năm 500, Alhucosi
mô tả từ những năm 1000. Trong suốt hơn 800 năm về sau, với tỉ lệ tử vong từ
20% đến trên 40% do các hiến chứng chảy máu, nhiễm khuẩn, hạ canci huyết,
liệt thanh quản, suy giáp, suy cận giáp... mà nguyên nhân không được giải thích
rõ ràng; phẫu thuật tuyến giáp bị xếp là loại phẫu thuật đe dọa tính mạng bậc
nhất. Viện Y học Hàn lâm Pháp, năm 1850, đã phải ban hành lệnh cấm phẫu
thuật tuyến giáp.
Có rất nhiều phẫu thuật gia nổi tiếng như Kocher, Halsted, Billrorth... đã
đi sâu nghiên cứu phẫu thuật tuyến giáp nhằm khắc phục những kết quả tồi tệ
và nâng cao chất lượng điều trị. Kocher, người được nhận giải thưởng Nobel Y
học năm 1909 cho thành tựu nghiên cứu phẫu thuật tuyến giáp, đã khẳng định
vai trò của động mạch giáp dưới là nguồn cấp máu chính yếu nhất cho các tuyến
cận giáp, qua đó đề ra phương pháp phẫu thuật bảo tồn các nhánh động mạch
nuôi tuyến cận giáp, tránh được biến chứng suy cận giáp, hạ canci huyết.
Kocher, Billrorth và nhiều nhà phẫu thuật khác đã tránh gây tổn thương cho
thần kinh thanh quản quặt ngược bằng cách phẫu tích thật xa dây thần kinh;
Bier đã đề nghị phương pháp phẫu thuật có bộc lộ dây thần kinh thanh quản

mô tuyến để tránh nguy cơ tái phát u. Chỉ định trong trường hợp u cường
năng; u da nhân rải rác trên bệnh nhân có nguy cơ ác tính cao, sinh thiết tức
thì nghi ngờ ác tính.


22

Đánh giá và xử trí bướu nhân tuyến giáp
(Dựa theo hướng dẫn của ATA năm 2006)
Có triệu
chứng

Bướu nhân tuyến giáp


Cắt thùy
hoặc gần
toàn bộ
tuyến giáp

Cắt giáp toàn
bộ, hoặc gần
toàn bộ
Không chẩn
đoán được

BRAF (+)
hoặc có đột
biến RAS

Cắt
tuyến
giáp
toàn bộ

FNA

Cắt
tuyến
giáp
toàn bộ

Làm
lại
FNA

- Chảy dịch dẫn lưu kéo dài sau mổ, tụ dịch vết mổ
- Tổn thương thần kinh:
+ Liệt thần kinh thanh quản quặt ngược vĩnh viễn.
+ Liệt thần kinh thanh quản trên.
- Tổn thương tuyến cận giáp: Hạ canci huyết và suy cận giáp
- Cường giáp tái phát sau mổ
- Suy giáp sau mổ


24

1.4. THEO DÕI SAU PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP
1.4.1. Theo dõi sau mổ
- Chảy máu sau mổ : Phải mở cầm máu lại.
- Nói khàn: Tạm thời hay vĩnh viễn.
+ Tạm thời: Hết nói khàn ở thời điểm khám lại sau 1 tháng.
+ Vĩnh viễn: Sau 6 tháng vẫn còn nói khàn.
- Tê chân tay hay cơn tetani do hạ canci:
+ Tạm thời: Hết cảm giác tê tay chân sau 1 tháng.
+ Vĩnh viễn: Vẫn còn tê tay, chân hay có cơn Tetani sau 6 tháng
Trong các trường hợp không phải cấp tính, nên bắt đầu bằng canci uống.
Liều điều trị ban đầu nên từ 2g canci nguyên tố và duy trì bổ sung canci qua
khẩu phần ăn.
Trong trường hợp cấp tính, nhất là những trường hợp giảm canci có cơn
tetani, được điều trị với canci tĩnh mạch liều dùng 100-200mg canci tiêm trong
10-20 phút. Không nên tiêm canci quá nhanh vì nguy cơ suy tim và ngừng tim.
Chế phẩm được lựa chọn đầu tiên dùng đường tĩnh mạch là calcium gluconate
vì calcium chlorua gây kích thích tại chỗ tiêm, hoại tử mô nếu thoát mạch và
cần theo dõi tim mạch liên tục trong khi tiêm. Nếu sau tiêm tĩnh mạch triệu
chứng vẫn chưa cải thiện nên chỉ định truyền tĩnh mạch với dung dịch Glucose

thanh, đánh giá liệt 1 bên hoặc 2 bên, có kèm theo gây khó thở cho bệnh nhân
không.
- Tê chân tay hay cơn Tetani do hạ canci: Kết hợp thăm khám và xét
nghiệm canci trong máu
- Tái phát u hoặc xuất hiện u mới.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status