Nghiên cứu đặc điểm di căn và kết quả nạo vét hạch cổ vùng trung tâm điều trị ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư biểu mô tuyến giáp (UTBMTG) là u ác tính của tế bào biểu
mô nang giáp [1]. Theo phân loại của Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ, UTBMTG
gồm: thể nhú, thể nang, thể tủy và thể không biệt hóa, trong đó UTBMTG
thể nhú là thể hay gặp nhất, chiếm tỷ lệ khoảng 75% [2].
Ung thư biểu mô tuyến giáp (UTBMTG) thể nhú là loại ung thư có
tiên lượng tương đối tốt với tỷ lệ sống trên 5 năm rất cao (97-99%) [3]. Để
đạt được kết quả này, việc phát hiện và điều trị sớm khối u tuyến giáp cũng
như hạch cổ di căn là rất quan trọng. Các nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ di căn
hạch cổ trong UTBMTG thể nhú là rất cao 30-90% [4]. Kết quả của nhiều
tác giả cho thấy nhóm hạch cổ di căn sớm nhất là vùng trung tâm (VTT) [ 5],
[6]. Đây là nhóm hạch nằm trong tổ chức liên kết được giới hạn trên là
xương móng, dưới là động mạch cánh tay đầu ở bên phải và mặt phẳng
ngang động mạch cánh tay đầu ở bên trái, hai bên là động mạch cảnh chung,
trước là lớp nông của cân cổ sâu và sau là lớp sâu của cân cổ sâu [7]. Theo
Son và cộng sự có 40-60% UTBMTG thể nhú di căn ở nhóm hạch này khi
được nạo vét dự phòng [8]. Tuy nhiên, việc xác định có di căn hạch cổ vùng
trung tâm trước mổ là rất khó khăn vì nhiều hạch chỉ di căn vi thể không
phát hiện được qua khám lâm sàng và siêu âm. Vì vậy, một số trường phái
trên thế giới khuyến cáo nên kết hợp cắt toàn bộ tuyến giáp và nạo vét hạch
cổ vùng trung tâm một cách hệ thống để điều trị thể ung thư này [ 9],[10]. Ưu
điểm của việc nạo vét hạch cổ dự phòng vùng trung tâm là giảm tỷ lệ tái
phát tại chỗ, giảm khả năng tổn thương dây thần kinh quặt ngược và tuyến
cận giáp nếu bệnh nhân phải mổ lại vì lúc đó các mốc giải phẫu thông
thường đã bị biến đổi [5],[11]. Bên cạnh đó, cũng có trường phái chưa nhất
trí với quan điểm trên vì lo ngại việc này sẽ làm tăng nguy cơ các biến
chứng, đặc biệt là suy cận giáp tạm thời [11],[12].



giáp giảm còn 8%: nhờ tiến bộ về gây mê, vô trùng và kỹ thuật cầm máu. Ông
cũng nêu ra các biến chứng liệt TK TQQN, suy tuyến cận giáp.
J.Beck là người đầu tiên báo cáo một trường hợp UTTG vào năm 1883.
Năm 1887, Theodor Kocher là người đầu tiên đưa ra nguyên tắc mổ
tuyến giáp tỉ mỉ, bảo tồn thần kinh quặt ngược và tuyến cận giáp cũng như
xác định rằng cắt tuyến giáp toàn phần sẽ gây ra suy giáp. Ông đã thực hiện
hơn 4000 trường hợp cắt tuyến giáp và tỷ lệ tử vong khoảng 4,5/2000.
Năm 1924, Theodor Kocher đã mô tả các trường hợp UTTG và đưa ra
cách điều trị.
1.1.1.2. Lịch sử nạo vét hạch cổ
Năm 1880, Theodor Kocher là người đầu tiên nạo vét hạch cổ di căn
trong ung thư lưỡi [15].
Năm 1906, Goerge Crile là người đầu tiên mô tả phương pháp nạo vét
hạch cổ triệt căn [16].
Năm 1960, Osvaldo Suárez và hai tác giả Bocca và Pignataro đã độc
lập đưa ra phương pháp nạo vét hạch cổ chức năng (nạo vét hạch cổ triệt căn
cải biên) [15].


4

Phương pháp nạo vét hạch cổ chọn lọc và nạo vét hạch cổ triệt căn mở
rộng được mô tả bởi Hội Tai Mũi Họng và Đầu Cổ Hoa Kỳ và Bệnh viện
Memorial do Spiro đề xuất [16].
Nghiên cứu của Moo T.A và cs, Sang M.H và cs trên BN UTBMTG thể
nhú được nạo vét hạch cổ dự phòng VTT cho kết quả dương tính là 30% [6],[17].
Nghiên cứu của Roh L.J và cs trên 184 BN UTBMTG thể nhú được cắt
toàn bộ tuyến giáp và nạo vét hạch cổ dự phòng VTT cho kết quả dương tính
là 43,5%, hạ canxi vĩnh viễn 1,6% [18].
Nghiên cứu của Bonnet và cs về nạo vét hạch cổ dự phòng VTT trên BN

Chuỗi hạch cổ nông gồm các nhóm: dưới cằm, dưới hàm, cảnh ngoài,
cảnh trước, hạch chũm, hạch chẩm và nhóm mang tai.
Nhóm hạch dưới cằm nhận dẫn lưu bạch huyết của môi trên, bờ ngoài
môi dưới, phần thấp của sàn mũi, phía trước của miệng và da của vùng má
sau đó đổ vào nhóm cảnh trên của chuỗi cổ sâu. Những hạch cổ nông nằm
dọc theo tĩnh mạch cảnh ngoài nhận dẫn lưu từ da vùng mặt đặc biệt là
những vùng quanh tuyến sau tai, hạch chẩm và tuyến mang tai, đổ vào
chuỗi cổ sâu của nhóm cảnh cao.
 Chuỗi hạch cổ sâu
Chuỗi hạch cổ sâu (hay chuỗi cảnh sâu): trải dài từ nền sọ đến bờ trên
xương đòn và được chia thành 3 nhóm: nhóm trên, giữa và nhóm dưới.


6

+ Nhóm cảnh trên: nhận dẫn lưu bạch huyết từ khẩu cái mềm, amiđan,
mặt sau của lưỡi, đáy lưỡi, xoang lê, phần trên thanh môn. Đồng thời nhận
bạch huyết những nhóm hạch nông hơn ở phần cao của vùng đầu mặt cổ
(thành sau họng, nhóm cổ nông).
+ Nhóm cảnh giữa: nhận dẫn lưu từ phần trên thanh môn và phần thấp
của xoang lê. Nhóm này nhận dẫn lưu thứ phát của nhóm cảnh sâu phía trên
và những hạch thấp của vùng thành sau họng. Nhóm hạch thành sau họng,
quanh khí quản nằm phía sau bao tạng nhận dẫn lưu từ những tạng này và
vòm họng, phía sau hốc mũi, xoang mũi, phía sau của họng miệng.
+ Nhóm cảnh dưới: nhận dẫn lưu từ tuyến giáp, khí quản và thực quản
cổ. Đồng thời nhận dẫn lưu thứ phát từ nhóm hạch cảnh trên và cảnh giữa.
1.2.2. Phân nhóm hạch cổ của Memorial Sloan-Kettery Center
Theo nhóm tác giả Memorial Sloan-Kettery Center được chia làm 6
nhóm [15]:


khí quản có thể trước hay sau dây thần kinh thanh quản quặt ngược [7].
 Cấu trúc khác trong vùng trung tâm
Cấu trúc khác trong vùng trung tâm bao gồm: thanh quản, hạ họng, khí
quản và thực quản đoạn cổ, tuyến giáp và tuyến cận giáp, tuyến ức, dây thần
kinh thanh quản trên và dưới, mạch máu (động mạch giáp trên và dưới, tĩnh


8

mạch giáp trên, giữa và dưới) [7].
1.3. GIẢI PHẪU TUYẾN GIÁP
1.3.1. Giải phẫu tuyến giáp

Hình 1.4. Tuyến giáp nhìn từ trước [30]
Tuyến giáp là tuyến nội tiết nằm ở vùng cổ trước, phía trước các vòng
sụn khí quản đầu tiên và hai bên thanh quản, giàu mạch máu, màu nâu đỏ,
hình dạng thay đổi từ chữ U hay H.
Tuyến giáp gồm 2 thùy: thùy phải và trái, nối với nhau bởi eo giáp.
Tuyến giáp có một bao xơ riêng và được bọc trong một bao mỏng do lá trước
khí quản của cân cổ tạo thành.
Eo giáp nằm trước khí quản từ sụn khí quản thứ nhất đến thứ tư. Liên
quan phía trước của eo giáp từ nông vào sâu là tĩnh mạch cảnh trước, cân cổ
nông, mạc các cơ dưới móng, cơ giáp-móng, cơ ức-giáp và mạc trước khí
quản. Từ bờ trên eo giáp thường có thùy tháp là di tích của ống giáp lưỡi,
chạy lên tới xương móng.
Thùy tuyến giáp có hình tháp 3 mặt, 2 bờ và 2 cực, dài 5-8 cm, rộng từ
2-4 cm, trọng lượng 40-42 g, nằm trước bên khí quản, trải dài hai bên từ sụn


9

10

+ Nhánh sau nối với nhánh cùng tên đi từ dưới lên.
+ Nhánh ngoài nhỏ hơn, đi vào mặt trước ngoài của thuỳ.
Động mạch giáp dưới: tách ra từ thân giáp cổ của động mạch dưới đòn.
Phần lớn các nhánh của động mạch giáp dưới đi vào tuyến giáp tại mặt sau
của thùy giáp, còn nhánh dọc đi lên kết nối với động mạch giáp trên.
Cấp máu cho tuyến giáp còn có động mạch giáp dưới cùng tách ra từ
thân cánh tay đầu hoặc từ cung động mạch chủ.
 Tĩnh mạch: các tĩnh mạch của tuyến giáp tạo nên các đám rối ở trên mặt tuyến
và phía trước khí quản, đổ vào các tĩnh mạch giáp trên, giáp dưới và giáp giữa,
chỉ có tĩnh mạch giáp trên đi theo động mạch cùng tên. Tĩnh mạch giáp giữa đổ
vào tĩnh mạch cảnh trong. Tĩnh mạch giáp dưới bên phải đổ vào tĩnh mạch
cánh tay đầu phải, tĩnh mạch giáp dưới bên trái đổ vào thân tĩnh mạch cánh tay
đầu trái.
 Thần kinh: thần kinh chi phối cho tuyến giáp là các sợi giao cảm tách ra từ
hạch giao cảm cổ trên, giữa và dưới.
 Dẫn lưu bạch huyết của tuyến giáp
Tuyến giáp chứa mạng bạch huyết dày đặc nối với nhau ở vùng eo, rời
tuyến giáp đi theo các mạch máu lớn của tuyến.
Dẫn lưu bạch huyết của tuyến giáp bên trái đổ vào ống ngực và bên phải
đổ vào ống bạch huyết phải.
Mạch bạch huyết ở phía trên theo động mạch giáp trên.
Mạch bạch huyết phía dưới theo động mạch giáp dưới và tĩnh mạch giáp
giữa. Dòng lympho ban đầu có xu hướng đi vào hạch nhóm VI cùng bên.
Ở cực trên, thùy tháp và eo tuyến, hạch bạch huyết dẫn lưu lên phía trên,
đi vào hạch nhóm II và nhóm III.
Ở cực dưới ban đầu dẫn lưu vào hạch nhóm VI sau đó vào nhóm IV.



1.3.5.3. Tĩnh mạch cảnh trong
Động mạch cảnh chung, tĩnh mạch cảnh trong và dây thần kinh X nằm
trong bao cảnh hai bên cổ dọc theo chiều dài của thuỳ tuyến giáp.

Hình 1.6. Mạch máu vùng cổ và tuyến giáp [30].
1.3.5.4. Thần kinh
- Dây thần kinh X: ở vùng cổ trước, dây X đi sau động mạch và tĩnh
mạch cảnh.
- Dây thần kinh thanh quản trên: sau khi bắt chéo mặt trong của động
mạch cảnh trong tới bờ trên xương móng chia làm 2 nhánh trong và ngoài.


13

+ Nhánh trong: chạy ngang vào màng giáp-móng và tận hết ở thanh
quản, chi phối cảm giác niêm mạc hạ họng, thượng thanh môn.
+ Nhánh ngoài: vận động cho cơ nhẫn giáp.
- Dây thần kinh thanh quản quặt ngược: là nhánh của thần kinh X.
Nguyên ủy bên phải và bên trái khác nhau.
+ Dây TK TQQN phải: tách từ dây X ở chỗ bắt chéo với phần đầu tiên
của động mạch dưới đòn, chạy quặt ngược lên ở trong mặt bên của khí quản,
trước thực quản, đi sau dây chằng bên Berry, vào trong thanh quản ở bờ dưới
bó cơ khít hầu dưới.
+ Dây TK TQQN trái: tách ra từ dây X ở bờ dưới quai động mạch chủ,
do đó TK TQQN trái có một đoạn trong ngực, từ nguyên ủy TK TQQN trái
cuộn vòng quanh phía dưới sau cung động mạch chủ rồi đi ngược lên trên. Ở
cổ, TK TQQN có thể đi trong rãnh khí thực quản và cho các nhánh nhỏ tới chi
phối cho khí quản và thực quản. TK TQQN đi giữa sừng dưới sụn giáp và
cung sụn nhẫn rồi xuyên qua màng nhẫn giáp để vào thanh quản.
1.3.5.5. Tuyến cận giáp

quản thứ 4-5, ở sau cực dưới thuỳ bên tuyến giáp, vị trí thường gặp trong 20%
trường hợp là nằm giữa các nhánh của động mạch giáp dưới.
-

Các vị trí lạc chỗ của tuyến cận giáp dưới:
+ Tuyến ức, trước khí quản, trước tuyến giáp, dưới góc hàm, trung thất.
+ Tuyến cận giáp có thể nằm hoàn toàn trong thuỳ bên tuyến giáp (1-3%).

Hình 1.7. Các vị trí có thể gặp của tuyến cận giáp [32].
Tuyến cận giáp trên. A: nằm 1/3 trên mặt sau thùy bên TG, B và C: trong
rãnh khí thực quản ngoài bao giáp, D: (hay tuyến cận giáp dưới) mặt sau TG,
gần TK TQQN và động mạch giáp dưới.
Tuyến cận giáp dưới. E: nằm 1/3 dưới mặt sau thùy bên TG, F: nằm trong
dây chằng ức-giáp hoặc trung thất trên, G: nằm trong TG.


15

1.3.6. Sinh lý tuyến giáp
- Tuyến giáp sinh tổng hợp hormone T3 và T4, có chức năng điều hòa
nhiều chuyển hóa trong cơ thể.
- Tế bào C tuyến giáp tiết ra Calcitonin tham gia điều hòa canxi huyết.
- Cơ chế hình thành Thyroglobulin (Tg) và Anti Thyroglobulin.
Thyroglobulin là một chất được tổng hợp bởi tế bào tuyến giáp và được
tiết vào lòng nang tuyến. Bình thường Tg không tiếp xúc với các thành phần
khác của cơ thể nên hệ miễn dịch không biết đến nó. Trong trường hợp nang
tuyến giáp bị tổn thương, Tg được giải phóng vào máu, kích thích hệ liên
võng nội mô sản xuất ra tự kháng thể kháng lại Tg (Anti Thyroglobulin).
1.4. BỆNH HỌC UNG THƯ TUYẾN GIÁP
Ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú hay gặp nhất, chiếm tỷ lệ khoảng

động hoặc hạn chế di động hoặc dính vào tổ chức xung quanh (TK TQQN,
khí quản, thực quản, bó mạch cảnh…) [33].
1.4.2. Cận lâm sàng
1.4.2.1. Xét nghiệm định lượng hormone
 Định lượng T3 (FT3), T4 (FT4), TSH
Nồng độ các hormone trên thường ở mức bình thường.
 Định lượng Thyroglobulin (Tg) và Anti Thyroglobulin trong máu
Thyroglobulin trong máu thường tăng cao ở bệnh nhân bị UTTG thể
biệt hóa, là chỉ số quan trọng đánh giá di căn hạch cổ, phổi, xương...sau phẫu
thuật cắt toàn bộ tuyến giáp.
Ở BN đã cắt toàn bộ tuyến giáp, Thyroglobulin là dấu hiệu về sự tồn tại
của mô giáp bình thường hoặc mô giáp bệnh lý UTTG thể biệt hóa (UTTG tái
phát, di căn hạch và di căn xa).
Nồng độ Anti Thyroglobulin tăng cao ở bệnh nhân UTBMTG di căn
hạch, xương, phổi...
1.4.2.2. Siêu âm vùng cổ
Siêu âm là phương tiện chẩn đoán có lợi điểm an toàn, không xâm nhập
và rất hiệu quả để đánh giá cấu trúc của tuyến giáp.


17

 Siêu âm tuyến giáp
-

Siêu âm giúp phân biệt u đặc với u nang, xác định vị trí, kích thước, giới hạn
nhân, đơn nhân hay đa nhân.

-




18

- Thực hiện nhanh, ít tốn kém.
- An toàn, ít gây tai biến.
Kết quả chọc hút tế bào kim nhỏ u giáp dưới hướng dẫn của siêu âm
gồm: lành tính, ác tính, không xác định, không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán và
nghi ngờ ác tính [36].
1.4.2.4. Sinh thiết tức thì trong mổ
Là phương pháp chẩn đoán giải phẫu bệnh tức thì trong phẫu thuật, rất có
giá trị giúp phẫu thuật viên quyết định phương pháp phẫu thuật, đặc biệt có giá
trị bổ sung cao cho kết quả chọc hút kim nhỏ là nghi ngờ. Sinh thiết tức thì giúp
làm giảm tỷ lệ phải cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp, hạn chế tỷ lệ phải mổ lần hai để
cắt phần tuyến giáp còn lại và quyết định nạo vét hạch cổ dự phòng NTT. Kết
quả sinh thiết tức thì gồm lành tính, ác tính và nghi ngờ ác tính [37].
1.4.2.5. Mô bệnh học u giáp và hạch cổ sau mổ
Mô bệnh học u giáp sau mổ là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán xác định.
Hiện nay phân loại mô bệnh học gồm bốn loại chính được hầu hết các
tác giả và đặc biệt là AJCC (American Joint Committee on Cancer)-Hiệp hội
ung thư Hoa Kỳ sử dụng trong thực hành lâm sàng và nghiên cứu [38].
Ung thư thể nhú.
Ung thư thể nang.
Ung thư thể tuỷ.
Ung thư thể không biệt hoá.
1.4.2.6. Các xét nghiệm khác
 Chụp xạ hình tuyến giáp và toàn thân
-

Chụp xạ hình tuyến giáp trước mổ: thường sử dụng I131, I123 hoặc Tc99m

không được chỉ định rộng rãi [33].
1.4.3. Chẩn đoán
Để chẩn đoán UTTG cần phải kết hợp nhiều phương pháp: hỏi kĩ tiền
sử bản thân và tiền sử gia đình, đồng thời với việc khám lâm sàng một cách
cẩn thận, phối hợp với các phương pháp cận lâm sàng như siêu âm tuyến giáp,
tế bào học, để có thể chẩn đoán chính xác và có thái độ xử trí thích hợp ngay
từ lần đầu điều trị.


20

1.4.3.1. Phân loại giai đoạn bệnh ung thư tuyến giáp
 Phân loại giai đoạn TNM theo AJCC 2010 [38]
- T (tumor): khối u nguyên phát.
+ Tx: u nguyên phát không xác định được.
+ To: không có bằng chứng về khối u nguyên phát.
- T1: u có đường kính ≤ 2 cm, giới hạn trong tuyến giáp.
+ T1a: u có đường kính ≤ 1 cm.
+ T1b: u có đường kính từ 1-2 cm.
- T2: u có đường kính 2-4 cm, giới hạn trong tuyến giáp.
- T3: u có đường kính > 4 cm, nằm trong giới hạn của tuyến giáp hoặc
u kích thước bất kỳ có vi xâm lấn ra ngoài tuyến giáp (như xâm lấn cơ ứcgiáp hoặc tổ chức xung quanh tuyến giáp).
- T4:
+ T4a: khối u kích thước bất kỳ phá vỡ vỏ tuyến giáp xâm lấn tổ chức
dưới da, thanh quản, khí quản, thực quản hoặc TK TQQN.
+ T4b: u kích thước bất kỳ xâm lấn cân trước sống và bao cảnh hoặc các
mạch máu trung thất.
- N (node): hạch lympho vùng cổ và trung thất trên.
+ Nx: hạch vùng không xác định được.
+ No: không di căn hạch.


T2, T3, No, Mo
T4, No, Mo
T bất kỳ, N1, Mo

Giai đoạn IV

T bất kỳ, N bất kỳ, M1

1.5. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ NHÚ
1.5.1. Phương pháp phẫu thuật ung thư tuyến giáp thể nhú
- Phẫu thuật mở: theo hướng dẫn của Hiệp hội tuyến giáp Hoa Kỳ (ATA)
2009 khuyến cáo có thể thực hiện cắt toàn bộ tuyến giáp và nạo vét hạch cổ
dự phòng nhóm trung tâm cho tất cả các bệnh nhân UTBMTG thể nhú [39].
1.5.2. Phương pháp điều trị hạch cổ di căn
 Nạo vét hạch cổ chọn lọc [15]
-

Nạo vét hạch cổ chọn lọc được thực hiện trên bệnh nhân có nguy cơ di căn
hạch sớm. Phương pháp này bao gồm lấy đi toàn bộ một hay hơn một nhóm
hạch có nguy cơ tiềm ẩn ung thư di căn. Có 4 loại:
+ Nạo vét chọn lọc hạch trên cơ vai-móng.
+ Nạo vét chọn lọc hạch cổ bên.
+ Nạo vét chọn lọc sau ngoài.
+ Nạo vét chọn lọc nhóm trung tâm.
 Nạo vét hạch cổ triệt căn cải biên (nạo vét hạch cổ chức năng) được thực

hiện khi có di căn hạch cổ bên [15]
-



Tổn thương thần kinh: TK TQQN và TK TQT.

-

Nhiễm khuẩn vết mổ.

-

Rò ống ngực.

-

Các biến chứng khác: tổn thương khí quản, thực quản, tràn khí dưới da…
 Các biến chứng muộn [13]:

-

Tổn thương thần kinh: liệt TK TQQN, liệt TK TQT.

-

Tổn thương tuyến cận giáp: hạ canxi máu và suy cận giáp.
1.5.4. Điều trị nội tiết
Các nghiên cứu đã chứng minh UTTG thể biệt hoá (nhú, nang) đáp ứng


23

tốt với điều trị hormone. Dùng hormone T 4 hoặc T3 liều cao (200 µg) để ức

- Được cắt toàn bộ tuyến giáp.
- Được nạo vét hạch cổ vùng trung tâm và có kết quả MBH khối hạch đã nạo vét.
- Hồ sơ bệnh án đầy đủ kết quả: khám lâm sàng, cận lâm sàng trước và sau mổ.
- Được khám và theo dõi định kỳ sau mổ.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân không phải là UTBMTG thể nhú.
- Có tiền sử phẫu thuật tuyến giáp hoặc nạo vét hạch cổ.
- Không đủ các tiêu chuẩn trên.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu tiến cứu, mô tả từng trường hợp có can thiệp và theo dõi dọc.
2.2.2. Phương pháp chọn mẫu
- Chọn mẫu tiện lợi: chọn 50 bệnh nhân được chẩn đoán UTBMTG thể
nhú chưa được phẫu thuật tuyến giáp và nạo vét hạch cổ.
2.2.3. Địa điểm nghiên cứu
- Bệnh nhân được khám trước mổ, phẫu thuật tuyến giáp + nạo vét hạch
cổ và khám lại sau mổ tại Khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Bạch Mai.


25

- Siêu âm tuyến giáp, vùng cổ và chọc hút tế bào kim nhỏ dưới hướng
dẫn siêu âm được thực hiện tại Khoa Nội Tiết và Khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh
Bệnh viện Bạch Mai.
- Bệnh phẩm chọc hút tế bào, MBH trong mổ và sau mổ được đọc kết
quả tại Trung tâm Giải phẫu bệnh Bệnh viện Bạch Mai.
- Bệnh nhân được điều trị I131 sau mổ, khám lại và làm xét nghiệm cận
lâm sàng (xét nghiệm Sinh Hóa Máu, Siêu âm vùng cổ, Xạ hình toàn thân…)
định kỳ tại Trung tâm Ung Bướu Bệnh viện Bạch Mai.
2.2.4. Phương tiện nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status