Đời sống kinh tế, văn hóa của dân tộc thái đen (tày đăm) huyện khăm, tỉnh xiêng khoảng, nước CHDCND lào, giai đoạn 1975 2015 - Pdf 43

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHAMFENG SENKHAMCHAN

ĐỜI SỐNG KINH TẾ VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC THÁI ĐEN
(TÀY ĐĂM) HUYỆN KHĂM TỈNH XIÊNG KHOẢNG
NƯỚC CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN 1975-2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

THÁI NGUYÊN - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHAMFENG SENKHAMCHAN

ĐỜI SỐNG KINH TẾ VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC THÁI ĐEN
(TÀY ĐĂM) HUYỆN KHĂM TỈNH XIÊNG KHOẢNG
NƯỚC CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN 1975-2015
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Thị Thu Thủy

THÁI NGUYÊN - 2017


KHĂMPHENG SENKHĂMCHĂN

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................ i
MỤC LỤC............................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ ....................................................................... iv
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1

1.Lý do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 2
3. Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ................................. 4
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ..................................................... 5
5.Đóng góp của luận văn ..................................................................................... 5
6. Bố cục luận văn ............................................................................................... 5
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN KHĂM VÀ NGƯỜI THÁI ĐEN (TÀY
ĐĂM) Ở HUYỆN KHĂM TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CHDCND LÀO ......... 7

1.1.Khái quát về huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng ............................................ 7
1.1.1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên .................................................................. 7
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội .......................................................................... 8
1.2. Người Thái Đen (Tày Đăm) ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng.............. 11
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................. 16
Chương 2: ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA DÂN TỘC THÁI ĐEN (TÀY
ĐĂM) Ở HUYỆN KHĂM, TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CHDCND
LÀO GIAI ĐOẠN 1975 - 2015 ........................................................................... 17


TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 80
PHỤ LỤC ...............................................................................................................

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng
Bảng 1.1. Thống kê thành phần dân tộc ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng
năm 2014 ......................................................................................... 10
Bảng 1.2. Thống kê về người Tày Đăm ở tỉnh Xiêng Khoảng (năm2013)....... 13
Bảng 1.3. Thống kê về người Tày Đăm ở huyện Khăm (năm 2015) ................ 14
Bảng 2.1. Nông lịch của người Thái Đen huyện Khăm .................................... 22
Bảng 2.2. Sản lượng và thu nhập từ trồng trọt của người Thái Đen ở huyện
Khăm năm 2015 .............................................................................. 25
Bảng 2.3. Thống kê số lượng vật nuôi của người Thái Đen ở huyện Khăm
năm 2015 ......................................................................................... 26
Bảng 2.4. Thống kê hoạt động nghề thủ công của người Thái Đen trong 4
bản của huyện Khăm năm 2015 ...................................................... 30
Bảng 2.5. Thống kê số lượng hộ gia đình người Thái Đen làm nghề buôn
bán ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng năm 2015 ......................... 37
Bảng 3.1. Bảng so sánh giữa ngôn ngữ nói của dân tộc Thái Đen với tiếng
Lào và tiếng Việt ............................................................................. 54
Sơ đồ
Sơ đồ 1.1: Các ngành của người Thái ở Lào ..................................................... 12
Sơ đồ 2.1. Quản lý nước trên ruộng lúa cấy ...................................................... 21

iv



Cho đến nay, đã có một số tác phẩm nghiên cứu về dân tộc Thái Đen do
tác giả là người Lào và Việt Nam đề cập. Dưới đây, tác giả sẽ thống kê những
công trình nghiên cứu có liên quan về đời sống sinh hoạt của người Thái Đen ở
Lào nói chung và ở huyện Khăm nói riêng theo thời gian công bố:
Năm 2005, tác giả Khampheng Thipmountaly công trình “Quá trình hình
thành và phát triển các dân tộc ở nước CHDCND Lào” ở Viện Nghiên cứu Dân
tộc và Tôn giáo Lào. Cuốn sách này tập trung nghiên cứu về nguồn gốc và văn
hóa của các dân tộc của Lào, trong đó có văn hóa của người Thái Đen.
Năm 2006, cuốn “Phong tục tập quán của dân tộc Thái Đen” của tác giả
Quangxaykhăm Khunsilihương, Ban Quản lý và phát huy văn hóa dân tộc Thái
Đen tỉnh Luông Năm Tha, đã đề cập đến phong tục tập quán của người Thái
Đen ở tỉnh Luông Năm Tha, nước CHDCND Lào.
Năm 2007, Luận văn thạc sĩ “Trang phục cổ truyền của phụ nữ dân tộc
Thái huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” của học viên Nguyễn Đại Đồng,
trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên,giáo trình “Lào sức sá”, đề tài “Văn hóa
của các dân tộc Lào” do Bộ Giáo dục và Thể thao Lào phát hành cũng nói đến
văn hóa của dân tộc Thái Đen tại đất nước Lào.
Năm 2008, Luận văn thạc sĩ “Bản sắc văn hóa dân tộc Thái trong điều
kiện đổi mới và phát triển kinh tế vùng Tây Bắc” của học viên Lô Thị Quỳnh
Lan, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổng quan về bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở
vùng Tây Bắc (khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa của người Thái ở Tây Bắc
cũng như bản sắc văn hóa dân tộc Thái nói chung; mối quan hệ biện chứng
giữa văn hóa và phát triển kinh tế; những ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế
vùng Tây Bắc đến bản sắc văn hóa người Thái cũng như những thay đổi của
bản sắc văn hóa Thái Đen bên cạnh sự phát triển kinh tế vùng Tây Bắc trong
điều kiện mới). Đưa ra những đề nghị: xây dựng nơi lưu trữ, bảo tàng, trưng
2


bày, biểu diễn những nét hay, đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc Thái; tổ

nghĩa khoa học và thực tiễn đồng thời khẳng định đề tài nghiên cứu của luận
văn thạc sĩ “Đời sống kinh tế, văn hoá của người Tày Đăm (Thái Đen) ở huyện
Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào là không bị trùng lặp với các
công trình đã công bố trước đây.
3. Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động kinh tế và đời sống văn
hóa-xã hội của dân tộc Thái Đen tại huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng
(CHDCND Lào); sự phát triển kinh tế và những biến đổi của văn hóa và xã hội
trong thời hiện đại của cộng đồng dân tộc Thái Đen.
3.2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằn tìm hiểu và làm rõ về bản sắc
văn hóa và hoạt động kinh tế của người Tày Đăm huyện Khăm tỉnh Xiêng
Khoảng nước CHDCND Lào giai đoạn 1975-2015.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khai quát về huyện Khăm tỉnh Xiêng Khoảng như: vị trí, địa lý, điều
kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội.
Đi sâu tìm hiểu về người Tày Đăm huyện Khăm tỉnh Xiêng Khoảng như:
tên gọi, lịch sử cư trú, thống kê.
Tìm hiểu sâu hơn về hoạt động kinh tế và văn hóa của người Tày Đăm ở
huyện Khăm tỉnh Xiêng Khoảng nước CHDCND Lào giai đoạn 1975-2015.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung,nghiên cứu đời sống kinh tế, văn hóa của cộng đồng
người Thái Đen.
+ Về không gian,nghiên cứu trên địa bàn huyện Khăm, tỉnh Xiêng
Khoảng (CHDCND Lào). Trong đó tập trung vào 4 bản có số lượng người Thái
Đen sinh sống lớn như: Xiêng Kiều, Na Thoong, Muông Xay và bản Xam.
4



Chương 1: Khái quát về huyện Khăm và đồng bào người Thái Đen ở
huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào
Chương 2: Đời sống kinh tế của người Thái Đen ở huyện Khăm, tỉnh
Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào, giai đoạn 1975-2015
Chương 3: Đời sống văn hóa của người Thái Đen ở huyện Khăm,tỉnh
Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào, giai đoạn 1975-2015

6


Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN KHĂM VÀ NGƯỜI THÁI ĐEN
(TÀY ĐĂM) Ở HUYỆN KHĂM TỈNH XIÊNG KHOẢNG,
NƯỚC CHDCND LÀO
1.1. Khái quát về huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng
Huyện Khăm tỉnh Xiêng Khoảng có nguồn gốc lịch sử từ lâu đời và trải
qua nhiều giai đoạn lịch sử. Huyện Khăm (hoặc Mường Khăm) thành lập trong
thời phong kiến của Lào, mang tên là Thay Thồng (hoặc Mường Thồng Bản
Ban). Thời đó, Lào Lạn Xang bị Xiêm xâm lược. Năm 1804, vua Anouvong đã
mở cuộc đấu tranh chống Xiêm nhưng bị thất bại. Xiêm đã đưa 6000 cư dân
Mường Khăm sang Bangkok. Khi đó, có một người đàn ông tên là Xiêng Khăm
(dân tộc Phuôn) cư trú ở huyện Khăm (Bản Ban hiện nay) đã đứng ra tập trung
cư dân đấu tranh chống Xiêm, làm cho Xiêm bị thất bại ở vùng Mường Thồng
Bản Ban. Từ đó, cư dân đã bầu Xiêng Khăm làm người lãnh đạo vùng Thay
Thồng. Sau khi lên nắm quyền lãnh đạo, Xiêng Khăm đã đổi tên Thay Thồng
sang Thồng Xiêng Khăm. Năm 1836, Xiêng Khăm qua đời, Phan Khăm lên
thay, đã quyết định đổi tên Mường Thồng Xiêng Khăm sang Mường Khăm
(huyện Khăm) cho đến hiện nay.
1.1.1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
Huyện Khăm nằm ở phía Đông của tỉnh Xiêng Khoảng, nằm ở vị trí

1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng là huyện có nền kinh tế chủ yếu là
nông nghiệp nhất là trồng lúa nước, làm nương rẫy. Những năm gần đây, trồng
lúa nước của cư dân huyện Khăm có những biến đổi theo hướng hiện đại. Hệ
thống thủy lợi được khôi phục và xây dựng đáp ứng nguồn nước cho làm ruộng
và trồng trọt cả 2 mùa; diện tích ruộng đất được mở rộng, nhất là diện tích
ruộng chiêm đã tăng lên 17,13%; việc trồng ngô đã tăng 64 lần so với năm
2004. Các loại cây trồng rất đa dạng và phong phú (có cây lúa, ngô, sắn, khoai,
cây ăn quả và các loại rau). Bên cạnh đó là chăn nuôi gia súc với đa dạng loài
như: trâu, bò, dê, lợn và gia cầm (vịt, cá, gà và chim cút). Đặc biệt, người dân
8


còn đào ao thả cá với diện tích ao lớn, áp dụng kỹ thuật chăm sóc theo kiến
thức khoa học [29, tr.4]. Song song với việc phát triển kinh tế nông nghiệp là
phát triển kinh tế thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống. Loại hình
xưởng thủ công nghiệp được xây dựng nhiều ở huyện Khăm. Phổ biến nhất là
xưởng chế biến gỗ, xưởng chế tạo và gia công đồ nội thất, xưởng sấy khô ngô
và nghiền ngô. Xiêng Kiều là làng có đông người Thái Đen cũng là làng dệt vải
nổi tiếng; Ko Nghiệu là làng đan lát (nhất là đan ép cơm, huột, làn…) Hàng
năm, thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống cũng mang lại nhiều thu
nhập. Năm 2010, thu nhập từ thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống là
100 triệu kíp. Du lịch cũng là một hoạt động kinh tế mang lại nhiều thu nhập
cho huyện Khăm với các điểm du lịch nổi tiếng như: Hang Piu (Thẳm Piu),
suối nước nóng… thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước [29, tr. 7].
Huyện Khăm có 90 bản với 8.397 ngôi nhà và 10.641 nhân khẩu. Theo
thống kê của huyện thì tính đến năm2014, dân số của huyện Khăm là 51.326
người. Trong đó có 25.188 nữ, bao gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau.
Đơn vị hành chính thấp nhất là làng bản. 90 bản trong huyện được chia thành
11 cụm bản như sau:


Tổng số

Nam

Nữ

dân số cả huyện (%)

1

Lào

16.938

8.453

8.503

33,02

2

Khơ Mú

9.194

4.626

4.568

Phông

2.676

1.369

1.307

5,21

6

Dân tộc khác

1.001

497

504

1,95

Tổng cộng

51.326

26.138

25.188


chính là: Thái Đen (Tày Đăm), Thái Trắng (Tày Đơn hoặc Khao) và Thái Đỏ
(Tày Đeng). Ngôn ngữ của người Tày Đăm ở Việt Nam thuộc với nhóm ngôn
ngữ Tày-Thái (ngữ hệ Thái - Ka Đai) là con cháu của người Tày Đăm di cư từ
vùng đất thuộc miền Nam của Trung Quốc sang. Người Tày Đăm ở huyện Như
Thành, tỉnh Thanh Hóa gọi họ là “Chao”, có nghĩa là “nòi giống” và gọi tổ tiên
của họ là “Chao Đẳm” [24, tr.14]. Người Thái Lan thường gọi dân tộc Tày
Đăm ở Thái Lan là “Lào Không, Thay Xộng Đăm hoặc Thái Xộng Đăm” vì họ
thường mặc màu đen (đen có nghĩa là đăm). Đặc biệt là họ thường mặc quần
màu đen (Xộng Đăm dịch nghĩa là quần đen) [44, tr.1]. Mặc dù dân tộc Tày
Đăm có rất nhiều tên gọi như đã trình bày ở trên, nhưng tên phổ biến mà hiện
nay người ta thường gọi họ là Tày Đăm (Thái Đen).

11


Sơ đồ 1.1: Các ngành của người Thái ở Lào
Tày Đăm là một trong đại gia đình các dân tộc đã cư trú tại đất nước Lào
từ lâu đời. Dân tộc Tày Đăm có nguồn gốc lịch sử và quá trình phát triển gắn
bó với nguồn gốc lịch sử và quá trình phát triển của dân tộc Lào và đất nước
Lào. Người Tày Đăm định cư ở các tỉnh miền Bắc của Lào từ tỉnh Bo Li Khăm
Xay đến thượng Lào. Tập trung ở tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Luông Nặm
Tha, Luông Phạ Bang…Dân tộc Tày Đăm ở Lào có nguồn gốc di cư từ vùng
miền Nam của Trung Quốc (Mường Then). Do vùng đó xảy ra chiến tranh giữa
các bộ tộc. Vì vậy, họ đã di cư xuống khu biên giới Việt Nam - Lào-Trung
Quốc và định cư ở đó. Sau một thời gian, họ tiếp tục di cư vào các tỉnh miền
Bắc của Lào như: Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Luông Phạ Bang…và một số tỉnh
của Việt Nam như: Điện Biên, Sơn La, Lai Châu và các tỉnh: Lơi, Xiêng Mày,
Phêt Sa Bun của Thái Lan để tìm nơi định cư mới. Trong tạp chí “Mo Lạ Độc
Lạn Xạng”, tác giả bài viết Phầu Tày Đăm (trang 129-130) đã viết: Dân tộc Tày
Đăm là một trong nhóm người AiLao có nguồn gốc từ vùng biên giới phía Bắc

Bảng 1.2. Thống kê về người Tày Đăm ở tỉnh Xiêng Khoảng (năm2013)
STT

Tên
huyện

Số bản

Số hộ gia đình

Số dân
(người)

Nữ (người)

1

Khăm

9

1121

4037

1988

2

Pha Xay


Nguồn [32; tr. 5]
13


Bảng 1.3. Thống kê về người Tày Đăm ở huyện Khăm (năm 2015)
STT

Tên bản

Tổng số hộ
gia đình

Số lượng dân ( người)
Tổng cộng

Nam

Nữ

1

Nhọt Cựa

180

885

441


64

234

122

112

5

Xam

115

563

269

294

6

Viêng Khăm

30

112

49


1.904

1.716

Tổng cộng

Nguồn: Phòng Thông tin Văn hóa và Du lịch huyện Khăm
Nhìn vào số liệu thống kê trên đây có thể thấy: Người Tày Đăm định cư
ở huyện Khăm chiếm tỷ lệ đông nhất trong tỉnh. Họ tập trung làm ăn sinh sống
trong nhiều làng bản. Trong đó, nhiều nhất là bản Nhọt Cựa, tiếp đến là bản
Xiêng Kiều,Xam, Na Thoong, Phon Khăm, Muông Xay, Chom Sy, Viêng
Khăm. Xiêng Kiều là làng cổ của người Tày Đăm được thành lập từ năm 1817,
cách trung tâm huyện Khăm khoảng 3 km. Đây là bản còn bảo tồn và giữ gìn
được nét văn hóa truyền thống của dân tộc Tày Đăm. Năm 2010, Xiêng Kiều
có 104 hộ gia đình Tày Đăm với 604 nhân khẩu, trong đó có 282 nữ. Năm
2015, có 118 hộ gia đình với 644 nhân khẩu. Để bảo tồn bản sắc văn hóa, chính
quyền địa phương cùng với dân bản nơi đây đã đóng tiền xây dựng một tòa nhà
2 tầng làm Bảo tàng Văn hóa dân tộc Tày Ðăm. Đây là nơi diễn ra các hoạt
động văn hóa, hội họp của cộng đồng người Tày Đăm trong bản. Bảo tàng Văn
hóa dân tộc Tày Đăm có vị trí rất quan trọng.Là nơi tìm hiểu về nguồn gốc và
văn hóa của người Tày Đăm. Hiện nay, Xiêng Kiều là “Làng Văn hóa” nổi
tiếng thứ 2trong số các “Làng Văn hóa” nổi tiếng của tỉnh Xiêng Khoảng và

14


vẫn đang liên tục phát triển [30, tr.1]. Bên cạnh bản Xiêng Kiều còn có bản Na
Thoong, Muông Xay và bản Xam là những bản có khá đông người Tày Đăm
cũng đang hết sức góp sức mình vào công cuộc phát triển kinh tế và bảo tồn
văn hóa của dân tộc mình.

Xiêng Khoảng có thể là từ huyện Xoong tỉnh Hủa Phăn. Và họ sang đây từ thời
người Hỏ Thung Đeng (từ Trung Quốc) vào cướp ở Hủa Phăn, Luông Phạ Bang...
Huyện Khăm là vùng có điều kiện tự nhiên rất đa dạng.Những đặc điểm
tự nhiên này đã tạo nên những dấu ấn đậm nét trong đời sống kinh tế, văn hóa,
xã hội của người dân ở đây, nhất là dân tộc Tày Đăm. Song do sống cùng người
Lào và một số dân tộc khác cho nên ít nhiều về kinh tế, văn hóa, cùng với yếu
tố môi trường của họ cũng bị ảnh hưởng.

16


Chương 2
ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA DÂN TỘC THÁI ĐEN (TÀY ĐĂM) Ở
HUYỆN KHĂM, TỈNH XIÊNG KHOẢNG, NƯỚC CHDCND LÀO
GIAI ĐOẠN 1975 - 2015

Như chúng ta đã biết, lịch sử phát triển nền văn hóa cũng như lịch sử
phát triển kinh tế của các dân tộc ở Lào nói chung, trong đó có dân tộc Thái
Đen nói riêng luôn gắn liền với lịch sử phát triển của nghề truyền thống dân tộc
- những sản phẩm kinh tế thuần túy cho sinh hoạt hàng ngày. Đó chính là
những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng của tinh hoa văn hóa dân tộc và những
kinh nghiệm phát triển kinh tế truyền thống được lưu truyền từ đời này sang
đời khác, tạo nên bản sắc riêng của mình nhưng lại tiêu biểu và độc đáo của cả
dân tộc. Người Thái Đen ở huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng là những cư dân
nông nghiệp.Ngành nghề chính của họ là trồng lúa nước, hoa màu; chăn nuôi
(trâu, bò, lợn, gà, dê, cá...). Đan lát, dệt thổ cẩm cũng là nghề nổi tiếng của
người Thái Đen. Bên cạnh đó là một số loại hình dịch vụ buôn bán nhỏ lẻ.Tập
trung chủ yếu ở những nơi đông dân cư. Với sự đa dạng ngành nghề như vậy đã
giúp mang lại nhiều thu nhập cho cho cư dân Thái Đen ở huyện Khăm. Điều
này được thể hiện rõ nét trong từng lĩnh vực kinh tế như sau:

hoàn chỉnh, đảm bảo nước quanh năm. Người Thái Đen ở mường Khăm
thường lấy nước theo hai cách. Cách thứ nhất: mặt ruộng bằng với mặt nước,
hay nó thấp hơn thì người ta đắp đập cho nước dâng lên rồi đào mương dẫn vào
ruộng. Đập đó người ta gọi là phai. Cách thứ hai: mặt ruộng cao hơn mặt nước
thì người ta tạo ra hệ thống bánh xe nước (lũng cọn). Đường kính bánh xe tùy
vào độ cao của mặt ruộng. Chỗ nào mặt ruộng cao thì đường kínhbánh xe lớn,
chỗ nào mặt ruộng thấp hơn thì đường kính vừa phải. Tối đa có những bánh xe
đường kính lên đến 5 - 6m. Với hệ thống thủy lợi như vậy, có mương phai, có
lũng cọn làm cho hệ thống tưới tiêu của người làm ruộng trở nên hoàn chỉnh.
Hầu như 100% diện tích ruộng của người Thái Đen được tưới nước chỉ bằng
hai cách ấy.
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status