Tổ chức trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ mẫu giáo lớn (5 6 tuổi) ở các trường mầm non thành phố tuy hoà, tỉnh phú yên - Pdf 43

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
1.1 . Cơ sở lý luận
Đảng và nhà nước ta đã khẳng định trong hệ thống giáo dục quốc dân thì giáo
dục mầm non có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi
dưỡng thế hệ trẻ thành những người công dân tương lai của đất nước. Giáo dục
mầm non là nơi đặt nền móng đầu tiên của sự hình thành và phát triển nhân cách
cho con người. Lứa tuổi mẫu giáo là một quãng đời có tầm quan trọng trong quá
trình phát triển chung của trẻ, như L.N.Tonxtoi đã nhận định rằng: Tất cả những cái
gì mà đứa trẻ sẽ có sau này khi trở thành người lớn đều thu nhận được trong thời ấu
thơ. Trong cuộc sống của con người có rất nhiều hoạt động. Ở mỗi lứa tuổi khác
nhau sẽ có một hoạt động chủ đạo, hoạt động này sẽ chi phối các hoạt động khác
của con người, nó có vai trò quyết định đến sự phát triển nhân cách. Ở lứa tuổi mẫu
giáo, hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai
theo chủ đề (ĐVTCĐ). Trong khi chơi, trẻ hình thành nhân cách cho mình. Về vấn
đề này A.X.Macarencô nhà giáo dục Nga đã viết: “Chơi có ý nghĩa rất quan trọng
trong cuộc sống của đứa trẻ chẳng khác gì công việc, sự phục vụ của người lớn.
Đứa trẻ thể hiện ra như thế nào trong trò chơi thì sau này trong phần lớn trường hợp
nó cũng thể hiện ra như thế trong công việc… vì vậy mà chúng ta có quyền gọi chơi
là trường học của cuộc sống”. [9, tr.10]
Hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo mà trung tâm là trò chơi ĐVTCĐ đã chứng
minh những khẳng định về vai trò của hoạt động vui chơi đối với trẻ em. Thật vậy,
trò chơi ĐVTCĐ là hình thức tiếp xúc độc đáo của trẻ với cuộc sống xã hội được trẻ
ưa thích, đặt biệt là trẻ mẫu giáo. Khoảng 3 tuổi, khi tính độc lập của trẻ phát triển
mạnh, thích sống và làm việc như người lớn (Lái xe giống bố, nấu cơm giống mẹ,
…) thích gia nhập vào những mối quan hệ xã hội, nhưng khả năng của các cháu còn
quá non yếu, không thể làm nổi những việc đó. Để giải quyết mâu thuẫn này, trẻ em
phải tìm đến một loại hoạt động gần giống của người lớn trong xã hội – tham gia
vào trò chơi ĐVTCĐ. Ở đây trẻ thử ướm mình vào một người lớn nào đó mà trẻ
1



2


6 tuổi). Và tìm hiểu thực trạng của việc tổ chức trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ mẫu
giáo lớn ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Tuy Hòa – Tỉnh Phú
Yên. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ
mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) ở các trường mầm non tại thành phố Tuy Hòa nhằm
góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục của nhà trường hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 . Khách thể nghiên cứu.
Trò chơi đóng vai trò theo chủ đề với sự phát triển nhân cách của trẻ.
3.2 . Đối tượng nghiên cứu.
Biện pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) ở các
trường mầm non thuộc thành phố Tuy Hòa – Tỉnh Phú Yên.
4. Giả thuyết khoa học.
Nếu xác định được biện pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ 5-6 tuổi ở
các trường mầm non thành phố Tuy Hòa phù hợp với sự phát triển tâm sinh
lý ở lứa tuổi, phù hợp với thực tiễn như: Tạo môi trường cho trẻ chơi, tổ
chức trò chơi, lựa chọn nội dung chơi, động viên khuyến khích trẻ…thì sẽ
giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách có hiệu quả.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1. Nghiên cứu hệ thống lý luận về sự phát triển nhân cách của trẻ thông qua
trò chơi đóng vai trò theo chủ đề cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non.
5.2. Khảo sát thực trạng việc tổ chức trò chơi đóng vai trò theo chủ đề cho trẻ
5-6 tuổi ở các trường mầm non của thành phố Tuy Hòa – Phú Yên.
5.3. Xây dựng các biện pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ 5-6 tuổi ở các
trường mầm non thuộc thành phố Tuy Hòa – Phú Yên và thực nghiệm sư
phạm.
6. Phạm vi nghiên cứu.

7.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
Từ việc trao đổi, thảo luận với các nhà quản lý, giáo viên mầm non về
nghiên cứu trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, để tổng kết những kinh
nghiệm thực tiễn trong việc tổ chức trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ mầm non nói chung
và cho trẻ mẫu giáo lớn nói riêng.

4


7.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Tiến hành thực nghiệm một số biện pháp tổ chức trò chơi ĐVTCĐ đã xây
dựng đối với nhóm trẻ thực nghiệm. Còn nhóm đối chứng giữ nguyên không tác
động. Các nhóm thực nghiệm và đối chứng tương đương nhau về mọi mặt.
7.3. Nhóm phương pháp xử lí số liệu.
Phương pháp xử lí số liệu bằng toán thống kê.
Dùng phương pháp toán học thống kê để xử lí số liệu điều tra có định lượng
chính xác cho nội dung, biện pháp nhằm nâng cao tính thuyết phục của vấn đề
nghiên cứu.
Trên cơ sở so sánh các giá trị thu được giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng,
đánh giá hiệu quả của các biện pháp được đề xuất.
8. Cấu trúc đề tài nghiên cứu.
- Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức trò chơi đóng vai trò theo chủ đề cho
trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) ở trường mầm non.
- Chương 2: Thực trạng tổ chức trò chơi đóng vai trò theo chủ đề cho trẻ mẫu
giáo lớn (5-6 tuổi) ở các trường mầm non thuộc thành phố Tuy Hòa.
- Chương 3: Biện pháp tổ chức trò chơi đóng vai trò theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo
lớn (5-6 tuổi) ở các trường mầm non thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

5


đối với cuộc sống. Là phương tiện kích thích trẻ thực hiện các hành động thực tiễn
và là phương tiện củng cố sự hợp tác cần thiết ở trẻ.
Điển hình, A.N. Leonchiep đã nghiên cứu: “hoạt động – ý thức – nhân cách”.
Ông đã đưa ra những nhận định về vai trò của hoạt động vui chơi đối với sự phát
triển ý thức và nhân cách. Hay nhà tâm lý học N.K. CrupxKaia nghiêm cứu rõ hơn
tác dụng của trò chơi đối với đời sống của trẻ mẫu giáo: “trò chơi của trẻ mẫu giáo”.

6


Và một trong những tên tuổi góp phần xây dựng về những quan điểm, học thuyết
quan trọng của vấn đề giáo dục nhân cách cho trẻ thông qua trò chơi đó là nhà giáo
dục học nổi tiếng A.X. Macarenco.
Bên cạnh đó một số nhà tâm lý học, giáo dục học Xô Viết khác cũng khẳng định
rằng: Trò chơi ĐVTCĐ là sản phẩm sáng tạo của trẻ dưới ảnh hưởng trực tiếp của
môi trường xung quanh. Họ nghiên cứu lịch sử phát triển của trò chơi trong mối liên
quan với sự phát triển của xã hội loài người và với sự thay đổi vị trí của đứa trẻ
trong hệ thống các mối quan hệ xã hội.
Nhà tâm lý học người Pháp Henry Wallon (1879-1962) trong khi nghiên cứu về
trò chơi ĐVTCĐ ông đã chỉ ra tính phức tạp và đầy mâu thuẫn trong hoạt động vui
chơi của trẻ. Trong trò chơi ĐVTCĐ, trẻ tác động lại thế giới bên ngoài nhằm lĩnh
hội cho được những năng lực của con người chứa trong thế giới đó. Trẻ luyện tập
được năng lực vận động, cảm giác và những năng lực trí tuệ, luyện tập những chức
năng và các mối quan hệ xã hội.
1.1.2.

Sơ lược tổng quan nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam.

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề hoạt động vui chơi đặc biệt là trò
chơi ĐVTCĐ đối với trẻ mẫu giáo.

cứu về con người thì tâm lí học chiếm một vị trí đặc biệt, nó nằm ở vị trí trung tâm
của hình tam giác có ba đỉnh là: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và triết học.
Trong khoa học tâm lí nhân cách của con người là một vấn đề trọng tâm cốt lõi. Các
nhà tâm lí học cho rằng khái niệm nhân cách là một phạm trù xã hội, có bản chất xã
hội – lịch sử, nghĩa là nội dung của nhân cách là nội dung của những điều kiện lịch
sử cụ thể của xã hội chuyển vào thành đặc điểm nhân cách của từng người. Có rất
nhiều khái niệm khác nhau về khái niệm nhân cách của các nhà tâm lí học và có thể
nêu lên một số khái niệm như sau:
A.N.Leonchiev cho rằng nhân cách là ý thức bản ngã, ý thức về cái “tôi” của
mình, là kết quả, là sản phẩm sinh thành của một con người với tư cách là một nhân
cách.
A.G.Côvaliôv định nghĩa nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí
nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định.
GailF.Huon lại định nghĩa nhân cách là một cấu trúc phức tạp gồm các mặt: tình
cảm, nhận thức và hành vi, các mặt này cung cấp sự định hướng mạch lạc, chặt chẽ
đối với cuộc sống của mỗi cá nhân.

8


E.V.Sôrôkhôva cho rằng nhân cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ
thuộc tính và phẩm chất tâm lí, quy định các hình thức hoạt động và hành vi có ý
nghĩa xã hội.
Ở Việt Nam theo tác giả Nguyễn Ngọc Bích trong cuốn Tâm lý học nhân cách
thì chưa có một định nghĩa nhân cách nào một cách chính thống. Song cách hiểu
của người Việt Nam về nhân cách có thể theo các mặt sau đây:
- Nhân cách được hiểu là con người có đức và tài hay là tính cách và năng lực
hoặc là con người có các phẩm chất: Đức, trí, thể, mỹ, lao (lao động).
- Nhân cách được hiểu như các phẩm chất và năng lực của con người.
- Nhân cách được hiểu như phẩm chất của con người mới: Làm chủ, yêu nước,

Sự phát triển về mặt tâm lí biểu hiện ở những biến đổi cơ bản trong quá trình
nhận thức, xúc cảm, tình cảm, ý chí, sự hình thành các thuộc tính tâm lí mới của
nhân cách.
Sự phát triển về mặt xã hội của cá nhân biểu hiện ở những biến đổi trong ứng xử
của cá nhân đó với những người xung quanh, ở sự tích cực tham gia của cá nhân đó
vào đời sống xã hội.
1.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách.
Nhân cách không có sẵn bằng cách bộc lộ dần các bản năng nguyên thủy, mà
nhân cách là các cấu tạo tâm lí mới được hình thành và phát triển trong quá trình
sống – giao tiếp, vui chơi, học tập, lao động... Nhà tâm lí học Xô viết nổi tiếng
A.N.Lêônchiev chỉ ra rằng: nhân cách cụ thể là nhân cách của con người sinh thành
và phát triển theo con đường từ bên ngoài chuyển vào nội tâm, từ các quan hệ với
thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, nền văn hóa xã hội do các thế hệ trước tạo ra, các
quan hệ xã hội mà nó gắn bó.
Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách thì giáo dục, hoạt động, giao
tiếp và tập thể có vai trò ảnh hưởng rất lớn.
- Giáo dục và nhân cách
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có kế
hoạch, ảnh hưởng tự giác, chủ động đến con người, đưa đến sự hình thành và phát
triển tâm lí, ý thức, nhân cách.
Theo nghĩa rộng, giáo dục là toàn bộ tác động của gia đình, nhà trường, xã hội,
bao gồm cả dạy học và các tác động giáo dục khác đến con người. Theo nghĩa hẹp,

10


giáo dục có thể xem như là quá trình tác động đến tư tưởng, đạo đức, hành vi của
con người.
Trong sự hình thành và phát triển nhân cách thì giáo dục giữ vai trò chủ đạo,
điều đó được thể hiện như sau:

tác nhất định với những công cụ nhất định.
Thông qua hai quá trình đối tượng hóa và chủ thể hóa trong hoạt động mà nhân
cách được bộc lộ và hình thành. Con người lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử bằng
hoạt động của bản thân để hình thành nhân cách. Mặt khác, cũng thông qua hoạt
động con người xuất tâm “lực lượng bản chất” (sức mạnh của thần kinh, cơ bắp, trí
tuệ, năng lực...) vào xã hội, “tạo nên sự đại diện nhân cách của mình” ở người khác,
trong xã hội.
Sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi người phụ thuộc vào hoạt động chủ
đạo ở mỗi thời kì nhất định. Muốn hình thành nhân cách, con người phải tham gia
vào các dạng hoạt động khác nhau, trong đó đặc biệt chú ý tới vai trò của hoạt động
chủ đạo. Vì thế phải lựa chọn, tổ chức và hướng dẫn các hoạt động đảm bảo tính
giáo dục và tính hiệu quả đối với việc hình thành và phát triển nhân cách. Việc đánh
giá hoạt động là rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách. Việc đánh giá sẽ
chuyển dần thành tự đánh giá, giúp con người thấm nhuần những chuẩn mực, những
biểu giá trị xã hội, trở thành lương tâm của con người.
Tóm lại, hoạt động có vai trò quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển
nhân cách nên trong công tác giáo dục cần chú ý thay đổi làm phong phú nội dung,
hình thức, cách thức tổ chức hoạt động, sao cho lôi cuốn thực sự cá nhân tham gia
tích cực, tự giác vào các hoạt động đó. Hoạt động của con người luôn mang tính xã
hội, tính cộng đồng, nghĩa là hoạt động luôn đi với giao tiếp. Do đó, đương nhiên
giao tiếp là một nhân tố cơ bản trong hình thành, phát triển nhân cách.
- Giao tiếp và nhân cách
Nhà tâm lí học Xô viết nổi tiếng B.Ph.Lômôv cho rằng: “Khi chúng ta nghiên
cứu lối sống của một cá nhân cụ thể, chúng ta không thể chỉ giới hạn ở sự phân tích
xem nó làm cái gì và như thế nào, mà còn phải nghiên cứu xem nó giao tiếp với ai
và như thế nào” [13, tr.118]. Vì thế cùng với hoạt động có đối tượng, giao tiếp có
một vai trò cơ bản trong việc hình thành và phát triển nhân cách.

12


13


thể là một nhóm người, một bộ phận xã hội được thống nhất lại theo những mục
đích chung, phục tùng các mục đích của xã hội.
Nhóm và tập thể có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách.
Trong nhóm và tập thể diễn ra các hình thức hoạt động đa dạng, phong phú (vui
chơi, học tập, lao động, hoạt động xã hội) và các mối quan hệ giao tiếp giữa các cá
nhân và cá nhân, cá nhân với nhóm, nhóm với nhóm. Ảnh hưởng của xã hội, các
mối quan hệ xã hội thông qua các nhóm và tác động đến từng người. Ngược lại, mỗi
cá nhân tác động đến cộng đồng, tới xã hội, tới cá nhân khác cũng thông qua các tổ
chức nhóm và tập thể mà nó là thành viên. Tác động của tập thể đến nhân cách
thông qua hoạt động cùng nhau, qua dư luận tập thể, truyền thống tập thể, bầu
không khí tâm lí tập thể. Vì thế trong giáo dục thường vận dụng nguyên tắc giáo
dục bằng tập thể và trong tập thể.
Tóm lại, bốn nhân tố giáo dục, hoạt động, giao tiếp và tập thể tác động đan
xen vào nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau trong việc hình thành phát triển nhân
cách.
1.2.2 Trò chơi đóng vai theo chủ đề.
1.2.2.1 Khái niệm về trò chơi.
Nhà Văn Nga MaximGorki viết: “Trò chơi là con đường dẫn trẻ em đến chỗ
nhận thức cái thế giới mà các em có sứ mệnh cải tạo sau này”. Như vậy, trò chơi
chính là cuộc sống của trẻ. Vì trò chơi là một hình thức hoạt động được bày ra để
thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí của con người. Và đối với trẻ em, trò chơi là một
trong những loại hình hoạt động chủ yếu, đó là hoạt động phản ánh hiện thực xung
quanh một cách sáng tạo, độc đáo. Thông qua trò chơi người lớn giúp cho trẻ làm
quen với những phương thức hành vi của con người. Đồng thời trò chơi còn là một
phương pháp giáo dục thực hành hiệu nghiệm nhất đối với việc hình thành và phát
triển nhân cách, phát triển trí lực của trẻ mẫu giáo.
1.2.2.2 Các loại trò chơi.

Trò chơi ĐVTCĐ là loại trò chơi mà khi chơi trẻ mô phỏng một mảng nào đó
của cuộc sống người lớn trong xã hội thông qua việc nhập vào (hay còn gọi là đóng
vai) một nhân vật nào đó để thực hiện chức năng xã hội của họ bằng những hành
động mang tính tượng trưng.
1.2.2.4 Đặc điểm của trò chơi ĐVTCĐ.

15


So với các loại trò chơi khác (trò chơi xây dựng, trò chơi vận động, trò chơi trí
tuệ...) thì trò chơi ĐVTCĐ là loại trò chơi mang đầy đủ nhất, rõ nét nhất những đặc
điểm của trò chơi nói chung và so với trò chơi phản ánh sinh hoạt (được hình thành
ở tuổi ấu nhi) thì trò chơi ĐVTCĐ được phổ biến nhất ở trẻ mẫu giáo, mang bản
chất xã hội sâu sắc hơn, có cấu trúc phức tạp nhiều hơn (gồm có: chủ đề chơi, hoàn
cảnh chơi, vai chơi và các mối quan hệ). Với cấu trúc trò chơi phức tạp như vậy nên
trò chơi ĐVTCĐ mang những đặc điểm nổi bật sau:
- Được gọi là trò chơi ĐVTCĐ trước hết là vì hành động chơi của người tham
gia trò chơi này bao giờ cũng xoay quanh một chủ đề nhất định, đó là một mảng
cuộc sống được phản ánh vào trò chơi dựa trên biểu tượng sinh động của chính trẻ
em về cuộc sống đang diễn ra hàng ngày, như sinh hoạt gia đình, trường học, giao
thông vận tải, mua bán... Phạm vi hiện thực mà trẻ tiếp xúc càng rộng bao nhiêu thì
chủ đề chơi càng phong phú bấy nhiêu và trẻ càng lớn thì chủ đề chơi càng trở nên
sâu rộng hơn. Lúc đầu trẻ chỉ phản ánh vào trò chơi những mảng cuộc sống gần gũi
xung quanh trẻ như sinh hoạt ở gia đình, ở bệnh viện, ở cửa hàng, dần dần đến
những chủ đề lớn hơn, xa hơn, như bưu điện, xây dựng nhà cửa, giao thông vận tải,
...
- Trò chơi ĐVTCĐ bao giờ cũng có vai và hành động chơi chủ yếu nhất được
thể hiện trong trò chơi này là đóng vai, tức là ướm mình vào vị trí của một người
lớn nào đó rồi bắt chước hành động của họ để thực hiện các chức năng xã hội. Vai
chơi là yếu tố chủ yếu để tạo nên trò chơi này và đóng vai là con đường dễ nhất

quen thuộc. Em bé đóng vai bác sĩ, mặc áo choàng trắng, đeo khẩu trang, cầm cái
ống nghe đặt lên ngực “bệnh nhân”, rồi ngồi vào bàn ghi đơn... Chuỗi thao tác này
chỉ thuần về kĩ thuật, tuy rất cần nhưng đây chưa phải là mặt chủ yếu của trò chơi
ĐVTCĐ. Khâu quan trọng nhất của trò chơi này là khi “bác sĩ” vỗ nhẹ vào vai của
“người bệnh” và nói với một giọng thương cảm: “Tôi đã khám cho bác rồi, bác đau
ở bụng đấy, bác cầm đơn ra quầy mua thuốc”, rồi động viên “người bệnh”: “Uống
xong là khỏi thôi mà, bác đừng lo!”, và đồng thời “người bệnh” nhìn “bác sĩ” nói:
“Cảm ơn bác sĩ ạ!”. Đây mới chính là cái bản chất của trò chơi ĐVTCĐ được thể
hiện ở thái độ tình cảm, động cơ của mỗi người trong mối quan hệ mà trẻ thiết lập
được giữa các vai chơi với nhau. Lúc này trẻ em đã nhìn mình như một người khác
– một nhân vật trong xã hội. Thế là bằng trò chơi ĐVTCĐ, đứa trẻ đảm nhiệm được

17


các “chức năng xã hội” và tự biến mình thành một nhân vật, một người lớn bất kì
nào trong xã hội, vì em bé có thể đóng bất cứ vai nào.
Trò chơi ĐVTCĐ còn giúp trẻ hiểu và thực hiện những quy tắc của cuộc sống xã
hội như mua hàng thì phải trả tiền, có khách vào nhà thì phải chào hỏi, làm phiền ai
thì phải xin lỗi... Khi trẻ tự nguyện thực hiện các chuẩn mực của đời sống xã hội
bằng việc nhập vai, trẻ chuyển dần những chuẩn mực đó vào bên trong đời sống tâm
lí của mình thì sẽ dần dần tạo ra một nhân cách của xã hội có phẩm chất nhất định.
- Trò chơi ĐVTCĐ mang tính biểu trưng cao. Trong khi chơi đứa trẻ tự nhận
cho mình một vai nào đó rồi hành động theo vai với những “vật thay thế” và tất cả
những gì xảy ra trong trò chơi đều chỉ là tưởng tượng. Trong khi chơi trẻ thường
gặp mâu thuẫn: đó là hành động của vai phải y như thật, nhưng lại với những vật
không thật. Đây là hoàn cảnh do trẻ tự tưởng tượng hay còn gọi là hoàn cảnh chơi,
trong đó từ vai chơi, hành động chơi đến đồ chơi đều là giả vờ cả nhưng lại rất thực
với trẻ em, vì nó phản ánh một điều rất thực đã xảy ra như vậy trong cuộc sống. Sự
kiện đó đã cho ra đời một chức năng mới của ý thức – chức năng kí hiệu – tượng

chung do cô giáo hướng dẫn.
Cô ổn định tổ chức và thăm dò ý tưởng của trẻ, sở thích của trẻ, cô cho trẻ
về các góc chơi. Cô quan sát và hướng dẫn, giúp đỡ trẻ kịp thời. Kết thúc buổi chơi
cô nhận xét.
Khi tổ chức chơi hình thức này cần căn cứ vào lứa tuổi để đưa ra nội dung,
phương pháp hướng dẫn cụ thể.
 Chơi trong hoạt động chiều.
Hoạt động chơi được tổ chức vào buổi chiều, trong lớp học, hoặc ngoài trời
(nếu có bóng mát).
Ở thời điểm này cô hướng dẫn tổ chức chơi nội dung mới hoặc chơi những
nội dung cũ nhằm củng cố ôn luyện kỹ năng chơi cho trẻ.
Tùy thuộc vào đặc điểm chơi và yêu cầu đối với trẻ các giai đoạn lứa tuổi
mà cô lựa chọn nội dung và phương pháp hướng dẫn trẻ chơi cho phù hợp, thoải
mái nhu cầu của trẻ, đồng thời phát huy vai trò của trò chơi đối với sự phát triển và
giáo dục trẻ mẫu giáo.

19


Thời điểm này, cô giáo có thể lên kế hoạch dành thời gian luyện tập bổ sung
cho trẻ kỹ năng chơi yếu, trẻ nhút nhát.
Đồng thời, cô nên luôn đổi trò chơi cho trẻ ở các buổi sinh hoạt chiều để trẻ
khỏi bị nhàm chán.
 Chơi trong thời gian trả trẻ.
Cũng giống như giờ đón trẻ. Cô chọn nhưng nội dung, trò chơi nhẹ nhàng,
không mất nhiều thời gian chuẩn bị, là những trò chơi trẻ đã biết và được tổ chức
trong lớp.
Cô vừa bao quát trẻ và vừa trả trẻ, trẻ có thể chơi theo ý thức của mình. Cô
giúp trẻ nhớ lại cách chơi và chơi vui vẻ, hòa đồng với nhau.
1.3 Trò chơi ĐVTCĐ đối với sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo lớn (5-6

- Sự phát triển ý chí
Bước vào tuổi mẫu giáo ý chí bắt đầu xuất hiện như là sự điều chỉnh có ý thức
với hành vi của bản thân. Thể hiện ở chỗ: trẻ biết tự kiểm tra tư thế của mình như
ngồi im lặng để nghe kể chuyện, biết kiềm chế những đòi hỏi không đúng lúc,
không phù hợp như giành đồ chơi của bạn, đánh bạn để lấy đồ chơi mà mình thích.
Đến tuổi mẫu giáo lớn thì hành động ý chí của trẻ ngày càng rõ rệt hơn, trẻ biết xác
định động cơ cho hành động của mình, có ý thức cố gắng hoàn thành tốt công việc
của mình mà người lớn giao cho, có trách nhiệm với bản thân mình và những người
xung quanh.
Như vậy ý chí của trẻ mẫu giáo được hình thành thông qua hoạt động giáo dục
mà trước hết đó là sự giáo dục của giáo viên và những người thân xung quanh trẻ.
Họ là người cổ vũ, động viên, khuyến khích giúp trẻ vượt qua những khó khăn ban
đầu, biết cách hướng dẫn trẻ đặt ra mục đích và động cơ cho hành động của mình.

- Sự phát triển đời sống tình cảm
Ở tuổi mẫu giáo, tình cảm chi phối tất cả các mặt trong hoạt động tâm lí của trẻ,
đặc biệt là ở tuổi mẫu giáo lớn, đời sống tình cảm có sự chuyển biến mạnh mẽ, sâu
sắc và phong phú, đa dạng hơn. Sự phát triển về tình cảm của trẻ gắn liền với việc
mở rộng quan hệ giao tiếp của trẻ với mọi người xung quanh. Trẻ ở tuổi mẫu giáo
rất khao khát tình cảm yêu thương, trìu mến. Chúng thể hiện sự vui mừng khi người

21


lớn, bố mẹ, cô giáo khen ngợi, động viên, khuyến khích khi trẻ làm được một việc
gì đó. Tuy nhiên, trẻ cũng biết buồn rầu, sợ hãi trước sự thờ ơ, lạnh nhạt của những
người xung quanh, khi bị cô giáo hay bố mẹ la mắng.
Ở lứa tuổi này sự bộc lộ tình cảm của trẻ cũng rất lớn, trẻ muốn bộc lộ tình cảm
của mình và thiết lập mối quan hệ với những người thân xung quanh nó. Đồng thời,
ở lứa tuổi này tình cảm thẩm mỹ và tình cảm trí tuệ của trẻ cũng phát triển mạnh mẽ

tư duy trực quan hình tượng, sự chuyển dần từ bên ngoài vào bên trong những thao
tác tư duy. Trẻ giải quyết các nhiệm vụ được giao ngầm ở trong đầu của mình dựa
vào những biểu tượng, hình ảnh về đồ vật mà trước đây trẻ đã làm hoặc trông thấy
người khác làm. Đến đầu tuổi mẫu giáo lớn trẻ bắt đầu xuất hiện tư duy trực quan
hình tượng mới và những thao tác cơ bản của năng lực tư duy logic. Đó là kiểu tư
duy trực quan sơ đồ, loại tư duy này giúp trẻ lĩnh hội tri thức ở trình độ khái quát để
từ đó giúp trẻ nắm được bản chất của các sự vật hiện tượng trong thế giới xung
quanh và có hướng giải quyết nhanh chóng.
Sự xuất hiện của kiểu tư duy này đã tạo nên một bước phát triển mới trong tư
duy của trẻ mẫu giáo lớn đó là sự chuyển hóa từ tư duy trực quan hình tượng sang
tư duy logic mà kiểu tư duy này sẽ được phát triển mạnh mẽ ở lứa tuổi học sinh.
Tóm lại, đặc điểm phát triển tư duy này đã tạo nên một bước chuyển biến đáng
kể. Do đó, nhà giáo dục và người lớn cần quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển
và bồi dưỡng cho trẻ năng lực tư duy trực quan hình tượng và nó có ý nghĩa rất lớn
đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ. Tuy nhiên, đối với tư duy logic thì chỉ cần sử
dụng ở một mức độ nào đó để tránh cho trẻ “khôn trước tuổi” dễ làm mất đi tính
hồn nhiên ngây thơ và tính mềm dẻo của trí tuệ trẻ ở lứa tuổi này.
- Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp đặc trưng và điển hình của trẻ ở tuổi mẫu
giáo. Từ 4 tuổi trở đi, trẻ em đã phát triển và thành thục với ngôn ngữ hơn, các lỗi
phát âm đã được giảm nhiều và trẻ bắt đầu tham gia sử dụng ngôn ngữ như là một
phương tiện để tham gia vào cuộc sống xã hội và giao tiếp với những người khác,
thể hiện nhu cầu của trẻ và thuật lại những trải nghiệm của chúng. Đến 5 tuổi, trẻ sử
dụng nhiều kiểu ngôn ngữ để đáp ứng theo đòi hỏi cuộc sống, đó là các kiểu ngôn
ngữ: ngôn ngữ tình huống, ngôn ngữ ngữ cảnh, ngôn ngữ giải thích. Trẻ mẫu giáo
lớn đã có khả năng nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm gần đúng sự

23




- Sự phát triển chú ý
Một trong những đặc trưng của đời sống tinh thần của con người là biết tách ra
trong vô vàn hiện tượng và sự vật xung quanh để hướng chú ý của mình vào đó tạo
ra hiệu quả cao trong hoạt động tinh thần cũng như hoạt động vật chất.
Vào tuổi mẫu giáo, trẻ tiếp nhận lời nói thường xuyên và dễ dàng hơn trước. Trẻ
ngày càng hướng vào lời nói để gọi tên sự vật, để đánh giá hành vi của bạn, và của
bản thân; đối với trẻ lời nói còn là mệnh lệnh, là sự yêu cầu hay thôi thúc hành
động… Trong hoạt động, trẻ ngày càng cần sự giúp đỡ của người lớn, sự chỉ dẫn,
giảng giải, khen ngợi của người lớn làm cho ngôn ngữ trở thành đối tượng chú ý
của trẻ em. Sự tăng khối lượng chú ý biểu hiện ở chỗ trẻ mẫu giáo có thể tri giác
không chỉ một đối tượng mà trong một lúc trẻ có thể quan sát rõ ràng vài đối tượng.
Hoạt động của trẻ mẫu giáo ngày càng phức tạp và trí tuệ của trẻ cũng phức tạp dần
lên, vì thế chú ý ngày càng tập trung và bền vững hơn, trẻ có thể chú ý tập trung
một giờ rưỡi. Đặc biệt hơn, ở lứa tuổi này, chú ý có chủ định của trẻ tiến bộ hơn
hẳn, việc tổ chức các hoạt động theo những yêu cầu nhất định, ngay cả khi công
việc không thú vị lắm trẻ cũng phải cố gắng hướng chú ý của mình vào đối tượng.
1.3.2. Ý nghĩa của trò chơi ĐVTCĐ đối với sự phát triển nhân cách của trẻ
mẫu giáo lớn (5-6 tuổi).
Chính nhờ bản chất xã hội với những mối quan hệ thực và chơi mà trò chơi
ĐVTCĐ chiếm một vị trí đặc biệt – vị trí trung tâm trong hoạt động vui chơi của trẻ
mẫu giáo lớn. Hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi ĐVTCĐ là hoạt động
chủ đạo đối với sự phát triển của trẻ mẫu giáo lớn, bởi lẽ nhờ đó nhân cách – một
cấu tạo tâm lí mới của trẻ đang dần phát triển và là một giai đoạn quan trọng trong
quá trình phát triển nhân cách cho trẻ mẫu giáo lớn. Những phẩm chất tâm lí và đặc
điểm nhân cách của trẻ mẫu giáo đều được phát triển mạnh mẽ trong hoạt động vui
chơi đặc biệt là trong trò chơi ĐVTCĐ:
- Hoạt động vui chơi ảnh hưởng mạnh tới sự hình thành tính chủ định của quá
trình tâm lí. Trong trò chơi, ở trẻ bắt đầu hình thành chú ý có chủ định và ghi nhớ
được nhiều hơn. Bởi vì bản thân trò chơi đòi hỏi trẻ phải tập trung vào những đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status