Ngôn ngữ thơ nôm nguyễn khuyến từ góc nhìn văn hóa - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
--------

NGUYỄN THỊ THƠM

NG¤N NG÷ TH¥ N¤M NGUYÔN KHUYÕN
Tõ GãC NH×N V¡N HãA
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS LÃ NHÂM THÌN

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của
cá nhân tôi. Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là
trung thực. Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình
nào đã được công bố trước đó.
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thơm


LỜI CẢM ƠN

1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ thơ Nôm............................................................. 8
1.1.2. Ngôn ngữ thơ Nôm từ góc nhìn văn hóa .......................................... 10
1.1.3. Ngôn ngữ thơ Nôm là một phƣơng tiện của văn hóa. ...................... 11
1.2. Môi trƣờng văn hóa cá nhân và xã hội ảnh hƣởng tới ngôn ngữ
thơ Nôm Nguyễn Khuyến ............................................................................ 14
1.2.1. Môi trƣờng văn hóa cá nhân ............................................................ 14
1.2.2. Môi trƣờng văn hóa xã hội ............................................................... 21
1.3. Khảo sát, thống kê, hệ thống hóa ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn
Khuyến từ góc nhìn văn hóa ........................................................................ 29
1.3.1. Khảo sát thành phần ngôn ngữ văn học dân gian: thành ngữ, tục
ngữ, ca dao.................................................................................................. 29
1.3.2. Khảo sát thành phần ngôn ngữ giao tiếp: khẩu ngữ, đại từ nhân
xưng, nói lái … ........................................................................................... 33
1.3.3. Khảo sát thành phần ngôn ngữ Hán học: Điển cố, thi liệu - văn
liệu Hán học, thuật ngữ Hán học … ........................................................... 37


Chương 2: NGÔN NGỮ THƠ NÔM NGUYỄN KHUYẾN VỚI VĂN
HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC .......................................................... 41
2.1. Văn hóa truyền thống qua ngôn ngữ văn học dân gian với thành
ngữ, tục ngữ, ca dao...................................................................................... 41
2.1.1. Phong tục, tập quán .......................................................................... 41
2.1.2. Lễ hội ................................................................................................ 56
2.1.3. Lao động sản xuất ............................................................................ 60
2.2. Văn hóa sinh hoạt làng quê qua ngôn ngữ đời sống với thành
phần ngôn ngữ giao tiếp, khẩu ngữ............................................................. 64
2.2.1. Sinh hoạt gia đình với các mối quan hệ cha mẹ - con cái,
vợ - chồng… .............................................................................................. 64
2.2.2. Sinh hoạt cộng đồng với các mối quan hệ bạn bè, làng xóm … ....... 68
2.3. Văn hóa địa phƣơng qua ngôn ngữ mang sắc thái địa phƣơng ........ 73

những hình tượng nghệ thuật. Để tạo nên những hình tượng nghệ thuật, người
nghệ sỹ không thể không sử dụng hệ thống ngôn từ. Ngôn ngữ chính là
phương tiện cơ bản tạo chất liệu cho việc tổ chức, hình thành tác phẩm. R.
Jakobson đã nhận định “ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ trong chức năng nghệ
thuật thẩm mỹ” và “văn học không phải gì khác mà chính là ngôn ngữ được tổ
chức một cách đặc biệt”. Văn học là nghệ thuật ngôn từ - ngôn từ thuộc
phương diện hình thức nhưng không phải là hình thức đơn thuần mà là hình
thức mang tính nội dung. Bởi vậy khi nghiên cứu tác phẩm nghệ thuật, người
nghiên cứu luôn phải quan tâm đến, thậm chí không thể thoát ly khỏi chất liệu
ngôn ngữ được sử dụng trong tổ chức tác phẩm văn học. Nếu nghiên cứu
nghệ thuật điêu khắc dựa trên đường nét, hình khối; nghiên cứu hội họa dựa
trên màu sắc, nghiên cứu âm nhạc dựa vào giai điệu, âm thanh… thì nghiên
cứu văn học không thể không bắt đầu từ ngôn ngữ.
1


Tuy nhiên nếu như chỉ phân tích tác phẩm văn học đơn thuần theo góc
nhìn ngôn ngữ hẳn đã quá quen thuộc. Văn học chính là một bộ phận của văn
hóa. Điều đó đem đến cơ hội mở ra hướng tiếp cận mới trong việc nghiên cứu
các sáng tác nghệ thuật. Dưới góc nhìn văn hóa, nhà nghiên cứu sẽ khám phá
được không gian văn hóa trong đó tác phẩm đã ra đời, mối quan hệ giữa con
người với môi trường tự nhiên, với môi trường xã hội và mối quan hệ với
chính bản thân mình, xác định được sự chi phối của các quan niệm triết học,
tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mỹ nào đã tác động tạo sự hình
thành tác phẩm cũng như sự chi phối của các phương diện khác nhau trong
đời sống hiện thực ... từng tồn tại trong không gian văn hóa cụ thể. Nhờ chiếc
chìa khóa vạn năng này, người đọc sẽ hình dung được vị thế của tác phẩm,
của tác giả trong sự đối sánh với nền văn học dân tộc ở các thời kì khác nhau.
1.2. Bên cạnh các nhà thơ tiêu biểu của thời kì văn học trung đại Nguyễn
Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến được xem

chân thành của người viết nhằm phần nào bày tỏ niềm tri ân trước nhà thơ lớn
của văn học dân tộc, đồng thời hướng đến cơ hội tìm hiểu một tác giả quen thuộc
với những phát hiện từ góc nhìn mới.
1.3. Một lí do không thể không nhắc đến là việc nghiên cứu ngôn ngữ
thơ Nôm Nguyễn Khuyến từ góc nhìn văn hóa sẽ mang đến ý nghĩa vô cùng
thiết thực trong việc giảng dạy từ bậc trung học đến bậc đại học. Với góc nhìn
văn hóa về phương diện ngôn ngữ, cả đối tượng người dạy và người học sẽ có
những hiểu biết sâu sắc hơn về tác giả cũng như những đặc điểm cơ bản về
văn hóa của một giai đoạn từng tồn tại trong lịch sử dân tộc thông qua hiện
tượng Nguyễn Khuyến.
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương không phải chỉ có
một hướng tiếp cận duy nhất. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát
3


triển của nhiều lĩnh vực đời sống thì văn hóa là một lĩnh vực khá được quan
tâm. Vậy nên nhiều vấn đề của văn học đã được soi rọi từ điểm nhìn văn hóa.
Kết quả là với góc nhìn mới mẻ này nhiều công trình nghiên cứu đã tạo được
tiếng vang và đóng góp không nhỏ vào cơ sở lí luận cho văn học dân tộc.
Nhà thơ Nguyễn Khuyến sở hữu tổng số khoảng trên dưới 467 bài, bao
gồm cả thơ văn chữ Hán và chữ Nôm, trong đó có 109 sáng tác Nôm (với gần
90 bài thơ Nôm). Từ trước tới nay đã có tương đối nhiều công trình nghiên
cứu về sự nghiệp văn chương của ông. Nhất là khi hòa bình được lập lại ở
miền Bắc, công tác sưu tầm, dịch thuật, phê bình, nghiên cứu thơ Nguyễn
Khuyến càng được chú ý nhiều hơn. Nguyễn Khuyến là một tài năng khá dồi
dào về số lượng, phong phú về thể loại thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên
cứu, phê bình khi tìm đến với văn học thời kì trung đại. Phan Kế Bính là
người đầu tiên có ý kiến về Nguyễn Khuyến khi phân tích sơ lược bài thơ Câu
cá mùa thu, tác giả Biện Văn Điền trong Luận án tiến sĩ có đề tài Phong cách

rợp bóng thời đại suốt bao thế kỷ...nhƣng gốc rễ của nó đã ăn sâu vào đất
Việt, góp phần tạo nên tâm hồn Việt” [21, tr 11].
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi lấy các tác phẩm thơ Nôm Nguyễn Khuyến,
bao gồm 90 bài (kể cả phần phụ chép thơ Nôm) mà tác giả Xuân Diệu giới
thiệu trong cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến, do NXB Văn học Hà Nội, tái bản
năm 1979 làm đối tượng nghiên cứu. Ngoài ra bổ sung cuốn Nguyễn Khuyến
thơ và đời do nhóm Trí thức Việt Tuyển chọn và giới thiệu năm 2012. Từ đó
đi đến những nhận định khoa học về yếu tố văn hóa biểu hiện qua ngôn ngữ
thơ Nôm Nguyễn Khuyến. Hướng nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu cuộc đời, con người Nguyễn Khuyến đề cập tới ảnh
hưởng của văn hóa.
- Nghiên cứu văn chương Nguyễn Khuyến đề cập tới tác động qua lại
giữa văn học - văn hóa.
5


- Nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến đề cập tới ảnh hưởng
qua lại giữa ngôn ngữ và văn hóa.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Mối quan hệ tương tác giữa ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến với
môi trường văn hóa truyền thống, văn hóa Nho giáo, văn hóa giao thời
phương Đông - phương Tây.
- Hệ thống ngôn ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến thể hiện những
nét văn hóa truyền thống, văn hóa Nho giáo, văn hóa buổi giao thời phương
Đông - phương Tây.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ với môi trường văn hóa đương
thời, thấy sự tác động của thời đại đối với ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến nói

7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của
luận văn gồm ba chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung có liên quan tới đề tài.
Chƣơng 2: Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến với văn hóa truyền
thống dân tộc.
Chƣơng 3: Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến với văn hóa ngoại nhập

7


NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ thơ Nôm và văn hóa
1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ thơ Nôm
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu được quy ước trong một cộng đồng
xã hội nhất định. Trong bối cảnh giao tiếp đa dạng, ngôn ngữ được dùng để
thực hiện các mục đích giao tiếp khác nhau, phục vụ nhu cầu bộc lộ tình cảm,
nhận thức và hành động ở con người. Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ được tạo
ra trên cơ sở lao động sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Nhà văn, nhà
thơ là những người thợ khéo tay nhào nặn ngôn ngữ toàn dân thành phát ngôn
mang phong cách riêng tạo tác những hình tượng nghệ thuật sinh động làm
thay đổi tư tưởng, tình cảm của người đọc.
Nói như vậy để hiểu rằng phải có ngôn ngữ chung mới có ngôn ngữ cá
nhân và ngôn ngữ nghệ thuật. Theo R.Jakobson, ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ
trong chức năng thẩm mỹ của nó và văn học không gì khác chính là ngôn ngữ
đƣợc tổ chức một cách đặc biệt. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và ngôn
ngữ nghệ thuật là điều không thể phủ nhận. Hơn ai hết, các nhà thơ, nhà văn
là người cảm thụ sâu sắc và tinh tế nhất mọi yếu tố thuộc về cái hay, cái đẹp,

nâng cao địa vị tiếng Việt trong việc xây dựng nền văn học dân tộc, là bƣớc
ngoặt quan trọng đánh dấu sự trƣởng thành của ý thức dân tộc, của nền văn
hóa dân tộc. Ngôn ngữ thơ Nôm đã thực sự trở thành một trong số hình thức
ngôn ngữ quan trọng của các thể loại văn học dân tộc thời trung đại. Ngôn
ngữ thơ Nôm là kết quả của việc sử dụng các chất liệu Hán học, tiếp thu tự
nhiên chất liệu văn học dân tộc và mộc mạc bằng lời ăn tiếng nói hàng ngày
của nhân dân lao động. Ngôn ngữ thơ Nôm được xem là thành tựu của văn
học thời kì trung đại từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XIX.
9


1.1.2. Ngôn ngữ thơ Nôm từ góc nhìn văn hóa
Theo Trần Quốc Vượng, văn hóa được định nghĩa là “sản phẩm do con
người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài người” [34, tr 17 11].
Trần Ngọc Thêm lại cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động
thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội
của mình.” [22, tr 27]. Hiểu theo cách định nghĩa nào cũng đủ thấy văn hóa là
khái niệm rất rộng và trìu tượng. Nó là sản phẩm của cộng đồng và ngược lại
nó góp phần tạo ra cộng đồng.
Khi nghiên cứu về ngôn ngữ, Bromit nhận định: Ngôn ngữ là một trong
những hệ thống biểu tƣợng quan trọng nhất trong bất kì nền văn hóa nào.
Ngôn ngữ thơ Nôm trong văn học trung đại Việt Nam vốn là thành tựu của
một giai đoạn lịch sử mà văn hóa và văn tự có sự giao lưu và tiếp biến văn
hóa Trung Hoa, văn hóa khu vực Đông Nam Á và ảnh hưởng văn hóa phương
Tây. Chính vì thế, ngôn ngữ thơ Nôm sẽ mang những đặc điểm riêng trong hệ
thống nghệ thuật ngôn từ, với tư cách là sản phẩm tinh thần do con người thời
đại sáng tạo ra. Tuy nhiên nhìn vào đại thể, chính ngôn ngữ thơ Nôm lại phản
ánh rõ hơn ai hết linh hồn, tính cách, sinh hoạt cộng đồng cùng sự phát triển
của con người thời kì ấy.

hiện rõ trong cách sử dụng đại từ nhân xưng (ở các ngôi), trong những khẩu
ngữ, cách nói lái đầy cảm xúc, trong ngôn ngữ sinh hoạt của đời sống giao
tiếp hàng ngày.
1.1.3. Ngôn ngữ thơ Nôm là một phương tiện của văn hóa.
Ngôn ngữ là âm thanh và chữ viết có ý nghĩa, tồn tại gắn với ngữ cảnh
để thực hiện mục đích giao tiếp nhất định. Ngôn ngữ là kho lưu trữ, đồng
thời là biểu hiện của ký ức tập thể hoặc ký ức văn hóa của cả cộng đồng. Mỗi
từ, với tính chất liên văn bản đều khiến ta liên tưởng đến những từ khác và

11


những văn bản khác, gắn với kinh nghiệm chung mà cả cộng đồng chia sẻ.
Ngôn ngữ là một trong những phương tiện chính để lưu truyền văn hóa. Việc
lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ dưới hình thức nói hoặc viết thể hiện văn hóa
biểu ý và biểu cảm. Như vậy, ngôn ngữ thực chất là văn hóa.
Ngôn ngữ Nôm là một thành tố của văn hóa nhưng là thành tố chi phối
mạnh mẽ các thành tố văn hóa khác cùng thời. Nhờ có ngôn ngữ Nôm, với tư
cách phương tiện của văn hóa, sản sinh các sáng tác văn học Nôm trong giai
đoạn nhất định mà những yếu tố của đời sống văn hóa xã hội đó có cơ hội
được biểu hiện.
Trong văn học Việt Nam, bộ phận thơ văn chữ Nôm xuất hiện sau bộ
phận văn học chữ Hán. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có kết luận
chính xác thời điểm ra đời của chữ Nôm. Chỉ có điều rằng trước Nguyễn Trãi,
chữ Nôm đã xuất hiện và gắn liền với những tác phẩm tiêu biểu. Theo tương
truyền, Hàn Thuyên được xem là người đầu tiên làm thơ Nôm Đường luật và
làm cho nó được nhân lên rộng khắp. Thơ Nôm bắt đầu được phát triển ở thời
nhà Trần (qua một số bài phú quốc âm còn lưu giữ trong cuốn Thiền tông bản
hạnh và các bài dịch kinh Phật như Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng
kinh giả âm vào khoảng thời Lê Sơ). Đến thời nhà Lê với Quốc âm thi tập,

khẩu ngữ, ngôn ngữ sinh hoạt để lưu giữ những nét truyền thống của phong
tục tập quán, những đặc điểm riêng của văn hóa sinh hoạt làng quê cùng văn
hóa địa phương từ cuộc sống thuần hậu, dân dã. Đó chính là cơ sở khẳng định
ngôn ngữ thơ Nôm, một phương tiện hữu hiệu của văn hóa Việt.
Là phương tiện đắc lực của văn hóa thế kỉ XV - XIX, ngôn ngữ thơ
Nôm đã làm hiện lên bức tranh văn hóa truyền thống của người Việt Nam với
loại hình văn hóa gốc nông nghiệp, gắn với nền văn minh nông nghiệp lúa
nước. Mọi phong tục – tập quán, lễ Tết – lễ hội hay lao động – sản xuất trong
đời sống xã hội đều gắn với không gian làng xã và môi trường cộng đồng, tập
thể. Thông qua ngôn ngữ thơ Nôm, chúng ta còn nhận ra những nét văn hóa
13


sinh hoạt làng quê cùng với cuộc sống và con người trên địa bàn cư trú. Bên
cạnh đó, không thể không nhắc tới dấu ấn của lịch sử xã hội với văn hóa
ngoại nhập qua ngôn ngữ thơ Nôm. Sự tiếp nhận về văn hóa giai đoạn giao
lưu, tiếp xúc cũng là nét đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam giai đoạn
trung đại. Màu sắc của văn hóa Nho giáo và phương Tây trong văn hóa Việt
Nam là minh chứng hùng hồn cho một giai đoạn lịch sử không thể quên đối
với mỗi con dân đất Việt.
1.2. Môi trƣờng văn hóa cá nhân và xã hội ảnh hƣởng tới ngôn ngữ
thơ Nôm Nguyễn Khuyến
1.2.1. Môi trường văn hóa cá nhân
1.2.1.1. Nho sinh Nguyễn Thắng
Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), hiệu là Quế Sơn, nguyên lúc nhỏ có tên
là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, sinh tại quê ngoại – xã Hoàng Xá (nay là xã
Ý Yên, tỉnh Nam Định, lớn lên và sống chủ yếu ở quê nội là làng Và (tên chữ
là Vị Hạ) – xã Yên Đổ – huyện Bình Lục (nay thuộc xã Trung Lương, huyện
Bình Lục, tỉnh Hà Nam). Cậu bé Thắng xuất thân trong một gia đình nhà Nho
nghèo. Ông thân sinh nhà thơ là Nguyễn Liễn theo Nho học và từng đỗ ba

Thấm thía hoàn cảnh cá nhân, anh khóa nghèo đã tạo tác hàng loạt những bài
thơ tự trào về gia cảnh, thân thế, cái nghèo của mình. Thơ văn Nguyễn
Khuyến cũng vì thế mà nói được cái sự thực ở đời (Nam Cao) từ ngay những
sáng tác đầu tay. Không trải nghiệm cái nghèo, không “sở kiến” cảnh nghèo
thì làm sao thấu triệt để tạo nên thơ tự trào? Khó khăn là vậy nhưng nhờ mẹ
động viên và nghiêm khắc dạy con không thoái chí, khóa Thắng tiếp tục đi
học, đi thi song cả ba khoa thi hương đều bị trượt. Nản lòng với khoa cử, hàn
sĩ Nguyễn Thắng định chuyển hẳn sang con đường dạy học để kiếm sống và
nuôi gia đình. Được một người bạn của cha giúp đỡ nên đến năm 1864 đã đỗ
cử nhân đầu trường Hà Nội. Lại hăm hở trong những kì thi tiếp theo (1865,
15


1868, 1869) nhưng anh khóa nghèo vẫn thi trượt, thậm chí phải tự đổi tên
thành Khuyến để khích lệ động viên mình cố gắng hơn nữa. Mãi đến năm
1871, anh Thắng mới vẻ vang đón nhận liên tiếp tin vui đỗ đầu hai kì thi hội
và thi đình.
Cuộc đời thi cử của khóa Thắng cũng thật khó nhọc. Lận đận gần ba
mươi năm đèn sách, song hành cùng chín khóa lều chõng anh khóa cuối cùng
cũng thành danh. Kết quả đó trước hết là nhờ sự kiên trì, nỗ lực đến mức phi
thường của bản thân, nhờ những lời động viên ân cần của mẹ, nhờ cả sự tảo
tần, chắt chiu của người vợ tao khang. Nếu so với Tú Xương (tám khoa chƣa
khỏi phạm trƣờng quy) thì công danh Nguyễn Khuyến quả vẫn chưa đến nỗi
quay lưng bạc bẽo. Bởi lẽ dẫu sao con đường khoa cử của Nguyễn Thắng cuối
cùng cũng được hiển đạt với danh thơm Tam nguyên Yên Đổ. Chính con
đường vinh quang trọng vọng mà anh khóa Thắng có được đã tạo tiền đề
không nhỏ để con người này tắm mình trong vốn kiến thức Hán học uyên
thâm, thỏa sức vẫy vùng trong vốn văn chương bác học, quý phái.
1.2.1.2. Quan trạng Tam nguyên Yên Đổ
Trong khi Nguyễn Khuyến đang còn dùi mài kinh sử thì năm 1858 thực

tay bất lực trước thế thời điên đảo!
Bốn năm làm Toản tu ở Sử quán (1879 – 1883), Nguyễn Khuyến vẫn
sống thanh bần trong cảnh thế thời thời thế, thêm phần sức khỏe suy giảm do
mắt mờ, tai kém ông thực sự thấy chán ngán cảnh quan trường danh lợi.
Khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kì lần thứ hai, Nguyễn Khuyến
được cử làm Phó sứ cùng Chánh sứ là Lã Xuân Oai sang xứ Mãn Thanh.
Nhưng đoàn sứ triều đình chưa kịp đi thì chuyến ấy bị bãi, lấy cớ đau yếu ông
xin tạm về quê dưỡng bệnh. Đến khi được đề cử làm Tổng đốc Sơn – Hưng –
Tuyên, ông đã không chịu đến nhậm chức. Phần vì đau buồn vì vận nước,
phần không muốn cộng tác với giặc, viện cớ đau mắt giữa năm ấy, ông vào
kinh kiên quyết xin được cáo quan từ chức. Mùa thu năm 1884, ông chính
thức trở về Yên Đổ, khi mới năm mươi tuổi.
17


Tiếng rằng bước chân vào chốn quan trường khoảng hơn mười năm
(làm quan với triều Nguyễn từ 1971 đến 1884) song trong quãng thời gian ấy
ông đã về quê cư tang mẹ ba năm, còn khoảng mười năm thì đến hai phần ba
ông làm học quan và sử quan, những chức quan “lạnh” không dính dáng đến
cai trị. Nhưng cái thế thời mà Quan trạng Tam nguyên phải đối mặt là thời
buổi suy vi của triều đình nhà Nguyễn, là cơ hội thực dân Pháp xâm chiếm và
nô dịch, là giai đoạn nhân dân lầm than một cổ hai tròng. Vậy nên nếu như
ban đầu Nguyễn Khuyến kiên trì quyết chí đậu quan thì khi sa chân chốn ấy
quan trạng càng thêm hụt hẫng và muốn thoái trào. Tâm nguyện cứu nước
giúp đời trong lúc này được ông thực thi như trách nhiệm và bổn phận kẻ làm
tôi chứ không tràn đầy nhiệt huyết như buổi ban đầu. Thậm chí có lúc kẻ quan
đương chức đương quyền ấy còn bộc lộ thái độ dửng dưng, muốn nghỉ ngơi
hoặc trốn tránh địa vị trọng vọng của mình khi có cơ hội. Đúng là nhờ đứng
trên cương vị đại quan Nguyễn Khuyến mới có dịp thấy rõ bộ mặt thật của
giai cấp thống trị mà ông đang là một trong những đại diện. Bởi vậy tâm trạng

một quan viên đã từng giữ đến chức Tổng đốc!
1.2.1.3. Cụ thƣợng Và ẩn sĩ
Sinh ra và lớn lên ở nông thôn trong thân phận hàn sĩ, sau mười lăm
năm làm quan thanh liêm, Nguyễn Khuyến cương quyết từ bỏ tất cả để trở về
vườn Bùi với cuộc sống thanh bần ngày trước. Từ Quan trạng Tam nguyên,
ông đã yên tâm làm người dân quê đích thực, nhẹ nhàng đến với cuộc sống ẩn
sĩ thôn quê và thanh thản trở thành nhà Nho vui vầy với cuộc sống gần dân,
thân dân vùng đồng bằng chiêm trũng.
Nguyễn Khuyến đã tự đánh giá cách xuất xử của mình là một tư thế
dũng thoái. Không phải do gặp phải vua hôn quân bạo chúa, cũng không phải
do thiếu ơn tri ngộ nhưng thời thế loạn lạc, không hành được thì ông tàng. Và
Nguyễn Khuyến đã chọn cách xuất xử theo ông là an toàn, thanh thản nhất 19


cáo quan về quê nhà ở ẩn. Ông tự nguyện làm một Đào Tiềm trong tư thế ẩn
dật “trồng ba rặng cúc”, ngắm “năm cây liễu”, vui thú như Nguyễn Trãi trong
cảnh “rồi, hóng mát thuở ngày trường”, an nhàn như Nguyễn Bỉnh Khiêm
ngày ngày nhẩm đếm các vật dụng lao động “Một mai, một cuốc, một cần
câu”. Có thể thấy, nhiều khi đạt đến đỉnh cao phú quý danh lợi chưa chắc bút
lực và tâm hồn thơ đã đủ chinh phục trái tim bạn đọc. Ngược lại lúc con
người từ bỏ tất cả lại là khi họ bình tâm nhất để tạo ra những đứa con tinh
thần rung động sâu xa đến gan ruột độc giả. Chân dung Cụ thượng Và ẩn sĩ
qua thơ văn, vì thế là chân dung hội tụ đậm đặc nhất những nét văn hóa đặc
trưng của nông thôn làng quê thời đó.
Cuộc sống ẩn tàng của Nguyễn Khuyến không như Nguyễn Trãi tìm về
rừng núi Côn Sơn, cũng không đến với Bạch Vân am như Nguyễn Bỉnh Khiêm
mà trở lại vùng quê cũ, vùng Bình Lục quê mùa, dân dã. Điều đó khiến cho bản
thân Nguyễn Khuyến cũng như thơ ông đậm màu sắc của ngôn ngữ bình dân,
đời thường giản dị. Những thành phần ngôn ngữ giao tiếp: khẩu ngữ, quán ngữ,
cách nói quen thuộc trong dân gian, hệ thống đại từ xưng hô, cách nói lái, chơi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status